Stephen P. White, trong bản tin ngày 17 tháng 9 năm 2026 của tạp chí The Catholic Thing, cho rằng: Bất cứ ai biết đôi chút về "thần học thân xác" của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đều "biết" rằng nó nói về vấn đề tình dục. Tuy nhiên, ai hiểu sâu hơn một chút về thần học này sẽ thấy rằng, việc nói nó chỉ bàn về tình dục cũng giống như coi sách Sáng Thế như một chuyên luận về đạo đức trong việc ăn trái cây vậy.

Thần học thân xác là một công trình nghiên cứu sâu rộng thuộc lĩnh vực nhân học về sự nhập thể. Nó bàn về bản chất con người trong sự hiện hữu bằng thân xác. Chính vì thế, nó mang lại cho chúng ta nhiều bài học giá trị vượt xa phạm vi của vấn đề tính dục con người.

Cụ thể hơn, thần học thân xác mang lại những góc nhìn đầy ấn tượng và chưa được đánh giá đúng mức cho tư duy của chúng ta về Trí tuệ Nhân tạo (AI).

Phần lớn sự say mê (và cả nỗi lo âu) của chúng ta đối với AI đều tập trung vào khả năng mô phỏng trí tuệ con người của nó. Và rất nhiều cuộc thảo luận về AI xoay quanh việc liệu chúng ta có thể phân biệt một cách chính xác giữa "tư duy" của AI và tư duy của con người hay không.

Trong thông điệp Magnifica humanitas, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã phân biệt những khả năng đầy cuốn hút của trí tuệ nhân tạo với những năng lực đích thực của con người mà AI được thiết kế để mô phỏng:

Những thứ được gọi là trí tuệ nhân tạo không trải qua các kinh nghiệm sống, không có thân xác, không cảm nhận được niềm vui hay nỗi đau, không trưởng thành qua các mối quan hệ và không thấu hiểu từ nội tâm ý nghĩa của tình yêu, công việc, tình bạn hay trách nhiệm. Chúng cũng không có lương tâm đạo đức, bởi lẽ chúng không phán đoán thiện ác, không nắm bắt được ý nghĩa cốt lõi của các tình huống, hay chịu trách nhiệm về những hệ quả. Chúng có thể bắt chước ngôn ngữ, hành vi và kỹ năng phân tích, hoặc thậm chí mô phỏng sự thấu cảm và thấu hiểu, nhưng chúng không thực sự hiểu những gì mình tạo ra; bởi lẽ chúng thiếu đi chiều kích cảm xúc, các mối quan hệ và đời sống tâm linh – những yếu tố giúp con người lớn lên trong sự khôn ngoan. (MH, 99)

Đức Giáo Hoàng Leo đề cập đến thân xác con người ngay từ đầu, nhưng trọng tâm của ngài là phân biệt khả năng mô phỏng ngôn ngữ và sự học hỏi của AI với năng lực tương ứng nơi con người.

Quả thực, đây đều là những sự phân biệt quan trọng. Tuy nhiên, những khác biệt khách quan, rõ ràng giữa AI và trí tuệ con người không phải là điểm khác biệt duy nhất – và có lẽ cũng không phải là điểm quan trọng nhất – giữa nhân tính và AI. Các phạm trù cũ của triết học Kinh viện về "mô thức" (form) và "vật thể" (matter) bỗng nhiên trở nên thích hợp trở lại. Làm người nghĩa là hiện hữu với tư cách là sự kết hợp giữa thể xác và linh hồn, chứ không đơn thuần là một linh hồn nằm trong một cơ thể. Linh hồn chính là mô thức và nguyên lý sự sống cho cơ thể chúng ta. Cái này không thể tồn tại độc lập với cái kia, trừ khi có sự can thiệp siêu nhiên. Đây là lý do tại sao chúng ta phải chết và tại sao chúng ta được tạo dựng để phục sinh.

Làm người nghĩa là, theo một cách nào đó, bản thân chúng ta chưa trọn vẹn. Chúng ta được tạo dựng để hiệp thông—một thực tại mà chính cơ thể nam và nữ của chúng ta là dấu chỉ. Làm người nghĩa là trở thành một sinh vật có tính xã hội và chính trị; cả hai khía cạnh này đều đòi hỏi phải có cơ thể. Làm người cũng có nghĩa là, theo một cách nào đó, trở thành một sinh vật hướng về hôn nhân. Không điều nào trong số này có thể đạt được chỉ bằng cách tải tâm trí lên một cỗ máy (ngay cả là cỗ máy sinh học), dù cho việc đó có khả hữu đi chăng nữa.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ảnh của Bernard Gotfryd, năm 1983 [Nguồn: Wikimedia Commons]


Cần lưu ý rằng con người chúng ta cũng học ngôn ngữ thông qua sự bắt chước. Chúng ta học "các kỹ năng hành vi và phân tích", cũng như "sự thấu cảm và thấu hiểu" theo cách tương tự. Nếu muốn xác định điều gì phân biệt chúng ta với trí tuệ nhân tạo (AI), chúng ta cần phải đi xa hơn khẳng định cho rằng năng lực của AI chỉ là sự "mô phỏng" các phẩm chất con người—dù sự mô phỏng đó có chính xác đến đâu đi nữa.

Lương tâm của chúng ta được hình thành (hoặc bị biến dạng) thông qua quá trình học hỏi bằng cách bắt chước. Nhờ lương tâm, chúng ta có thể phân biệt thiện và ác, nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng làm như vậy. Chúng ta có thể giả vờ đưa ra các phán đoán và xác tín về mặt đạo đức.

Trên thực tế, con người giỏi giả vờ về một số phán đoán và hành vi đến mức chúng ta có thể đánh lừa người khác, và thậm chí cả chính mình, về những động cơ và cảm xúc thực sự của bản thân. Mặc dù chúng ta có thể đánh giá tốt những ý định đích thực của chính mình (với điều kiện lương tâm được rèn luyện đúng đắn), nhưng chúng ta thường lại rất kém trong việc đánh giá những điều tương tự ở người khác.

Mỗi người chúng ta đều nhận thức sâu sắc về trải nghiệm bản thân của chính mình đối với cả ý thức lẫn lương tâm. Tuy nhiên, những trải nghiệm này ở người khác—dù có thể được truyền đạt theo cách nào đó—vẫn hoàn toàn là điều mà chúng ta không thể thấu hiểu trọn vẹn. Chúng ta không bao giờ có thể thực sự "ở trong tâm trí" của người khác theo cách mà chúng ta "ở trong" tâm trí của chính mình. Nói cách khác, khả năng phân biệt giữa một con người và “trí tuệ nhân tạo” của tôi không nên dựa trên giả định rằng tôi có thể nhận ra sự khác biệt giữa trải nghiệm chủ quan của một người khác và “trải nghiệm chủ quan” của AI.

Bởi thực tế là tôi không thể biết trực tiếp về cả hai điều đó.

Do đó, sự khác biệt bền vững và dễ nhận thấy nhất từ bên ngoài (tôi không nói là quan trọng nhất) giữa con người và AI không nằm ở khả năng ngôn ngữ, “tư duy” hay biểu hiện cảm xúc – những thứ mà ta có thể không phân biệt nổi đâu là “thật” và đâu là “mô phỏng” – mà chính là ở cơ thể chúng ta; thứ mà, xin nhắc lại, còn hơn cả những cỗ máy sinh học rất nhiều.

Cơ thể chúng ta, đặc biệt khi được hiểu dưới ánh sáng của thần học thân xác, chúng hé lộ cho ta biết cả bản chất lẫn mục đích hiện hữu của con người. Hơn thế nữa, thân xác còn cho thấy nhiều điều về toàn thể công trình sáng tạo cũng như về Thiên Chúa – Đấng đã tạo dựng nên chúng ta và chính Người đã nhập thể làm người.

Điều này đưa chúng ta trở lại với Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II và nền thần học thân xác:

Chỉ duy thân xác mới có khả năng làm cho những gì vô hình trở nên hữu hình: đó là thực tại thiêng liêng và thần linh. Thân xác được tạo dựng để chuyển tải mầu nhiệm vốn ẩn giấu nơi Thiên Chúa từ thuở đời đời vào thực tại hữu hình của thế giới, và qua đó trở thành dấu chỉ của mầu nhiệm ấy. Như vậy, chính tính bí tích của công trình sáng tạo – hay tính bí tích của thế giới – đã được mặc khải theo một cách thức đặc biệt nơi con người, tạo vật được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.

Đây chính là cốt lõi của thần học thân xác; qua đó, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã mang đến một sự lý giải đầy thuyết phục về những gì mà việc con người mang thân xác nói lên về chính bản thân họ, về thế giới và về Thiên Chúa. Đó là thông điệp mà con người thời nay đang vô cùng cần được lắng nghe – và có lẽ, không ai cần đến nó hơn những người tại Thung lũng Silicon, những người dường như đang có nguy cơ đánh mất ý niệm về bản chất con người ngay trong lúc họ đang nỗ lực tái tạo lại nó.