Tổ hợp ảnh này cho thấy Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump (trái) cầm Kinh Thánh và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi phát biểu tại một sự kiện. (Ảnh: Facebook/Flickr)


Khi tôn giáo trở lại như một công cụ quyền lực từ Washington đến Moscow đến Delhi, đức tin có nguy cơ trở thành vũ khí định hình bản sắc; Giáo Hội chỉ mãi hữu hiệu bằng cách giữ vững sự tự do và không thể bị lôi kéo.

Cha Antonio Spadaro SJ, trong mục Global Catholic của hãng tin UCANews, ngày 24 tháng 8 năm 2026, nhận định như trên. Cha viết tiếp: Tôn giáo đã trở lại trung tâm của diễn đàn công cộng toàn cầu như một ngôn ngữ của quyền lực.

Tại Hoa Kỳ, ngôn ngữ Kinh Thánh đã thâm nhập vào diễn ngôn của tổng thống: đất nước là đối tượng của một kế hoạch thần thánh và kẻ thù là một nhân vật trong cuộc xung đột tinh thần.

Tại Nga, Tòa Thượng phụ Moscow đã khoác lên cuộc chiến một vỏ bọc siêu hình, đặt một thế giới trong trắng đối lập với một phương Tây thối nát.

Tại Ấn Độ, sự thuộc về tôn giáo đã trở thành tiêu chuẩn của quyền công dân hiệu quả.

Các cơ chế khác nhau, hiệu ứng hội tụ: tôn giáo không còn phán xét quyền lực mà trở thành một trong những chức năng của nó.

Quyền lực đạt được điều mà chính trị đơn thuần không còn tạo ra được: tính hợp pháp không thể tranh cãi vì không thể biện minh. Các cộng đồng tôn giáo giành được sự hiện diện, sự bảo vệ và quyền tham gia vào quá trình ra quyết định.

Cái giá phải trả là đức tin và bị thu hẹp lại thành một dấu hiệu nhận dạng: nó nói lên chúng ta là ai và chống lại ai.

Trong Kitô giáo, nghịch lý còn rõ rệt hơn. Nó nảy sinh từ một kinh nghiệm vượt qua biên giới, từ Lễ Ngũ Tuần đến nhà của viên đội trưởng Cornelius; tính phổ quát chống lại việc bị đồng nhất với một dân tộc, một quốc gia hay một nền văn minh.

Khi danh xưng của Chúa vạch ra một ranh giới, Kitô giáo hình thành sau đó bị biến dạng.

Đây là điểm hiểu lầm về các tôn giáo dân sự và sự phục hưng bản sắc, vốn yêu cầu Kitô giáo đóng vai trò như chất kết dính và cung cấp gốc rễ. Yêu cầu này chỉ có thể được đáp ứng bằng cách làm trống rỗng đức tin.

Những phiên bản hữu ích nhất về mặt chính trị lại là những phiên bản nghèo nàn nhất về mặt thần học: những người theo chủ nghĩa khải huyền không có lòng thương xót, những người theo chủ nghĩa đạo đức không có thập tự giá.

Trong suy tư chính trị-thần học của Peter Thiel, các phạm trù như katechon [người cầm giữ] và eschaton [người cuối cùng] trở thành chìa khóa cho chiến lược địa chính trị. Khải Huyền không còn là sự mặc khải mà trở thành cẩm nang cho cuộc chiến văn hóa.

Những cấu trúc kiểu này, trong đó chủ nghĩa dân tộc và sức mạnh kỹ thuật được kết hợp với nhau, lựa chọn chủ đề và các trang Kinh Thánh của chúng.

Tuy nhiên, có một cái bẫy phản chiếu. Nếu quyền lực có thể sử dụng Giáo hội làm tuyên úy của mình, thì mặt trận đối lập cũng có thể sử dụng Giáo hội làm ngọn cờ của mình.

Đó là cám dỗ khi đọc từng lời của giáo hoàng như một đòn giáng vào người lãnh đạo đương thời, và giáo huấn của Giáo hội như một bài xã luận mang tính đảng phái.

❝ Giáo hội không cần phải chiến thắng. Giáo hội cần phải giữ vững sự tự do. Một Giáo hội mà không ai có thể lôi kéo được là Giáo hội duy nhất mà bất cứ ai vẫn có thể lắng nghe”.

Một triều đại giáo hoàng được hoan nghênh vì những gì nó dường như đánh trúng hơn là vì những gì nó tuyên bố. Ngay cả khi, và điều này phải được nói thẳng thắn, lời tiên tri ngày nay có thể vang lên những lời lên án mạnh mẽ trong một thế giới tan vỡ, nơi mà sự diệt chủng các dân tộc diễn ra mà không có một phản ứng kiên quyết và dứt khoát nào.

Đức tin có những hệ quả công khai đối với lao động, di cư, nhà tù, chiến tranh và việc sử dụng tài nguyên; tuy nhiên, nó không thuộc về một đảng phái duy nhất.

Giáo hội tạo ra sự khác biệt khi đưa ra các tiêu chuẩn và chỉ ra các tình huống cụ thể; nó mất đi hiệu quả khi trở thành một khối bỏ phiếu. Tính tự chủ của nó không phải là sự xa cách với đời sống công cộng mà là sự khác biệt về nguồn gốc: nó không được sinh ra từ sự đồng thuận và do đó không phụ thuộc vào nó.

Triều đại giáo hoàng của Đức Leo XIV đặt mình trong sự căng thẳng này, bắt đầu từ chính cái tên.

Đức Leo XIII can thiệp khi vấn đề xã hội đang định nghĩa lại mối quan hệ giữa tư bản và lao động; ngày nay, sự định nghĩa lại đó được thực hiện thông qua các cỗ máy bắt chước trí tuệ và thông qua sự tập trung quyền lực kỹ thuật.

Thông điệp Magnifica Humanitas, thông điệp đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Leo, được ký vào ngày kỷ niệm thông điệp Rerum Novarum: vấn đề xã hội đã chuyển từ nhà máy sang thuật toán, và cùng với đó là câu hỏi ai nắm quyền lực, và nhân danh ai.

Phẩm giá con người một lần nữa trở thành vấn đề của trật tự kinh tế, chứ không phải của nhân học trừu tượng. Nền hòa bình “không vũ trang và giải trừ vũ khí” mà Đức Leo công bố trong lần xuất hiện đầu tiên tại Loggia Chúc phúc đã báo hiệu vị thế của vị Giáo hoàng: một từ ngữ không tự biến mình thành vũ khí cho bất cứ ai.

Đối với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, sự tự do này là một bản lề trong tầm nhìn của ngài về chính trị quốc tế. “Cuộc chiến tranh thế giới thứ ba diễn ra từng phần” không phải là bản đồ của hai khối đối lập mà là một tập bản đồ về những vết thương cần được đọc từ vùng ngoại vi.

Do đó, ngài từ chối luận lý học nhị nguyên của trục thiện và trục ác, đối thoại với tất cả mọi người, và thận trọng đối với các liên minh có sẵn.

Tại Kazakhstan, Đức Phanxicô đã nêu rõ nguyên tắc: “Nguyện cho điều thánh thiêng không trở thành chỗ dựa cho quyền lực, và nguyện cho quyền lực không tự chống đỡ mình bằng sự thánh thiêng.”

Tình huynh đệ, văn hóa gặp gỡ và ngoại giao kiên nhẫn là những phương tiện mà ngài dùng để loại bỏ Thiên Chúa khỏi việc biện minh cho các cuộc xung đột và giữ cho Giáo hội được tự do nói lên sự thật với mọi quyền lực.

Rồi, có một sự kiện vượt lên trên nhiều lời tuyên bố. Một vị giáo hoàng sinh ra ở Hoa Kỳ, vào thời điểm tôn giáo là nguyên nhân gây ra sự phân cực ở Mỹ, vẫn tiếp tục nói về người di cư, người nghèo và chiến tranh.

Sự đào tạo theo tinh thần dòng Augustinô giúp giải thích lập trường này: hai thành phố vẫn đan xen trong lịch sử và không bao giờ trùng khớp; không chế độ nào có thể tự xưng là thành phố của Chúa, nhất là khi nó tự cho mình là như vậy.

Sự vĩ đại về mặt đạo đức của một cộng đồng chính trị được đo lường, trước hết và trên hết, bằng khả năng nâng đỡ những người dễ bị tổn thương nhất. Đây là điểm mà mọi thần học chính trị và mọi chính trị thần học đều cho thấy liệu nó phục vụ Chúa hay quyền lực.

Giáo hội không cần phải chiến thắng. Giáo hội cần phải giữ vững sự tự do. Một Giáo hội mà không ai có thể lôi kéo được là Giáo hội duy nhất mà bất cứ ai vẫn có thể lắng nghe.