Theo tin Tòa Thánh, tại Hội trường Thượng Hội đồng mới, Thứ Bảy, ngày 27 tháng 6 năm 2026, Đức Leo XIV đã kết thúc Công nghị Hồng Y. Nhân dịp này, Người đã ngỏ lời cùng 178 vị Hồng Y hiện diện, theo bản tiếng Ý của Tòa Thánh:

Trước khi bước vào phần suy tư kết thúc, tôi muốn bày tỏ sự gần gũi của chúng tôi, của tôi và toàn thể Hồng Y đoàn, với người dân Venezuela, những người bị ảnh hưởng nặng nề bởi trận động đất dữ dội gần đây. Chúng tôi đảm bảo với họ rằng chúng tôi sẽ cầu nguyện cho các nạn nhân, gia đình của họ và tất cả những người đang phải gánh chịu hậu quả của thảm kịch này. Chúng tôi cũng phó thác cho Chúa tất cả những người đang tham gia vào các nỗ lực cứu trợ và cầu xin rằng tình liên đới của cộng đồng quốc tế đối với quốc gia thân yêu đó sẽ không bao giờ suy giảm.
Anh em Hồng Y thân mến, chúng ta đang kết thúc những ngày này với một cảm giác biết ơn sâu sắc. Tôi cảm ơn anh em về sự tự do, tình huynh đệ và tinh thần Giáo hội mà với chúng, anh em đã tham gia vào công việc của chúng ta. Tôi mang theo mình không chỉ nội dung những suy tư của anh em, mà còn cả kinh nghiệm đã làm nên điều đó. Những ngày này, chúng ta cùng nhau tìm kiếm ý muốn của Chúa, với niềm tin rằng Chúa Kitô vẫn tiếp tục hoạt động trong Giáo Hội của Người: chính Người là Đấng đi trước chúng ta, quy tụ chúng ta, nói qua anh chị em chúng ta, và dẫn dắt chúng ta trong sứ mệnh của mình. Mọi sự đều đến từ Người và mọi sự đều trở về với Người. Vì vậy, việc chứng kiến các Hồng Y đến từ các Giáo Hội, nền văn hóa và hoàn cảnh khác nhau lắng nghe lẫn nhau và cùng nhau tìm kiếm điều gì phục vụ tốt nhất cho Tin Mừng đã là nguồn an ủi và hy vọng cho tôi.
Chúng ta bắt đầu những ngày này bằng cách để cho hình ảnh Người Samaritanô nhân hậu hướng dẫn mình: một người dừng lại trước người anh em bị thương của mình, để cho trái tim mình rung động, và chăm sóc anh ta. Giờ đây, tôi muốn kết thúc bằng một biểu tượng Tin Mừng khác: đó là các môn đệ ở Emmaus. Họ cũng trải qua cuộc hành trình đầy buồn rầu và thất vọng, nhưng Chúa trở thành bạn đồng hành của họ trên đường đi, lắng nghe những câu hỏi của họ, mở Kinh Thánh, làm cho trái tim họ bừng cháy, và biến đổi cuộc hành trình của họ. Tôi muốn tin rằng những gì chúng ta đã trải nghiệm trong những ngày này phản ánh kinh nghiệm đó: chúng ta đã cùng nhau bước đi, chúng ta đã lắng nghe lẫn nhau, và nếu chúng ta đã dành chỗ cho Chúa, Người đã thắp lại ngọn lửa hy vọng trong lòng chúng ta và giờ đây sai chúng ta trở về các Giáo Hội để tiếp tục cuộc hành trình với một cái nhìn mới mẻ.
Suy niệm cuối cùng về hành trình hiệp hành đồng nghị đã giúp chúng ta xem xét lại những gì chúng ta đã trải nghiệm trong những ngày này. Đối với tôi, vấn đề về tính hiệp hành đồng nghị không chủ yếu là: "Ai có quyền quyết định?" Câu hỏi sâu sắc hơn là: "Làm thế nào chúng ta cùng nhau bảo vệ hồng ân mà Chúa đã trao phó cho Giáo Hội của Người?" Khi câu hỏi này trở thành trọng tâm của sự phân định, các vấn đề về thẩm quyền, trách nhiệm chung và quyết định cũng tìm thấy vị trí thích hợp của chúng, được soi sáng bởi sứ mệnh và lòng trung thành chung của chúng ta đối với Tin Mừng. Vì vậy, tôi muốn một lần nữa trao cho anh em con đường thực hiện Thượng Hội Đồng. Tôi yêu cầu anh em đồng hành cùng Thượng Hội Đồng với niềm tin vững chắc trong các Giáo Hội mà anh em phục vụ, thúc đẩy sự hiểu biết chân thành và khuyến khích mọi người tham gia: đó là việc giúp các Giáo Hội của chúng ta phát triển theo cách ngày càng Tin Mừng hơn.
Xin hãy nhớ, như chúng ta đã nghe Đức Hồng Y Grech nói, tính hiệp hành đồng nghị không phải là một tập hợp các cuộc họp, cũng không phải là một phương pháp làm việc. Đó là một con đường tâm linh. Nó được sinh ra từ sự gặp gỡ, phát triển qua việc lắng nghe, và trưởng thành qua sự phân định. Câu hỏi thực sự không phải là chúng ta sẽ tổ chức được bao nhiêu cuộc trò chuyện, mà là các cuộc gặp gỡ của chúng ta sẽ có chất lượng Tin Mừng như thế nào. Khi chúng ta lắng nghe nhau với lòng khiêm nhường và sự tự do, dành chỗ cho Chúa Thánh Thần, các cuộc trò chuyện của chúng ta không chỉ là sự trao đổi ý tưởng, mà trở thành nơi hoán cải, nơi chúng ta cùng nhau trưởng thành trong lòng trung thành với Chúa.
Suy tư về các cuộc trò chuyện trong những ngày này, trước hết tôi mang theo mình cái nhìn mà anh em đã chiêm niệm thế giới trong phiên họp đầu tiên. Nhiều người trong anh em đã nói về sự đau khổ do chiến tranh, bạo lực, nghèo đói và nhiều bất công khác đang hằn sâu trong cuộc sống của các dân tộc. Nhưng anh em không chỉ dừng lại ở việc mô tả chúng. Đằng sau những bi kịch này, anh em đã nhận ra một nỗi đau khổ sâu sắc hơn: sự cô đơn, khủng hoảng trong các mối quan hệ, mất hy vọng, khó khăn trong việc nhận ra nhau là anh chị em. Đó là một cái nhìn không ngoảnh mặt làm ngơ trước những vết thương của thế giới, mà tìm kiếm cội nguồn của chúng, nhận ra, thường ẩn sâu bên trong, một khát vọng mới mẻ về ý nghĩa, sự chân thực, tâm linh và cộng đồng. Nhiều người ngày nay đang tìm kiếm hy vọng và những mối quan hệ chân thành.
Tôi đặc biệt ấn tượng với cách anh em nói về giới trẻ. Trong những câu hỏi của họ, nhưng cũng trong nỗi đau khổ đôi khi dẫn họ đến tuyệt vọng—và đôi khi đến sự tuyệt vọng cùng cực là tự kết liễu đời mình—anh em đã nhận ra một trong những vết thương sâu sắc nhất của thời đại chúng ta. Nhưng anh em cũng nhận ra sự tác động của Thánh Linh. Họ đang tìm kiếm sự chân thực, những mối quan hệ chân thành và ý nghĩa. Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng Tin Mừng vẫn tiếp tục đáp ứng những khát vọng sâu sắc nhất của trái tim con người. Lắng nghe họ và gia đình họ với lòng khiêm nhường cũng là một cách để Chúa tiếp tục hoán cải Giáo Hội.
Nhiều người trong số anh em cũng đã đề cập đến gia đình. Nơi nào gia đình được nâng đỡ và đồng hành, nơi đó sẽ nảy nở trường học của các mối quan hệ, tình đoàn kết và hy vọng; nơi nào gia đình bị tổn thương hoặc bị cô lập, toàn xã hội sẽ phải gánh chịu hậu quả. Vào tháng Mười, chúng ta sẽ có một cuộc gặp gỡ với các vị đứng đầu các Giáo Hội Đông Phương và các chủ tịch Hội đồng Giám mục để đánh giá các bước đã thực hiện kể từ thông điệp Amoris Laetita. Một số gia đình cũng sẽ tham gia để chia sẻ kinh nghiệm của họ. Sự hiện diện của họ là rất cần thiết, nhưng tôi hy vọng rằng tất cả những ai đến sẽ chuẩn bị bằng cách lắng nghe kỹ lưỡng và mang theo kinh nghiệm của các gia đình trong Giáo Hội của họ.
Như vậy, anh em đã tìm cách lắng nghe những gì mà những vết thương của thế giới tiết lộ về trái tim con người. Chính ở đó, trong trái tim, hòa bình cũng được quyết định. Trước khi nó biểu hiện ra trong lịch sử, chiến tranh nảy sinh trong chính chúng ta, khi sự nghi ngờ thay thế lòng tin, nỗi sợ hãi thay thế hy vọng, và người khác bị coi là mối đe dọa. Nhưng chính trong trái tim ấy, Chúa Kitô vẫn tiếp tục gặp gỡ chúng ta, nói chuyện với chúng ta và hoán cải chúng ta. Từ một trái tim hòa giải, những lời lẽ không bạo lực có thể được sinh ra, những mối quan hệ mới và một nền hòa bình có khả năng vươn tới cả những dân tộc xa xôi nhất.
Phiên thứ hai đã dẫn chúng ta tiến thêm một bước nữa. Tôi thấy rằng anh em đã nắm bắt rất rõ ràng một trong những hiểu biết sâu sắc của Magnifica Humanitas: chiến tranh không chỉ đơn thuần là xung đột giữa các quốc gia. Nó nảy sinh sớm hơn nhiều, từ một nền văn hóa quyền lực thấm nhuần trong cách suy nghĩ, trong các mối quan hệ, trong việc thực thi quyền lực, trong việc sử dụng kinh tế, Kỹ thuật và thậm chí cả tôn giáo của chúng ta. Nếu đây là gốc rễ của cuộc khủng hoảng, thì giải pháp đòi hỏi phải xây dựng lại một nền văn hóa hợp tác và đối thoại, có khả năng mang lại sức mạnh mới cho chủ nghĩa đa phương, để các dân tộc một lần nữa có thể học cách cùng nhau tìm kiếm lợi ích chung của toàn thể gia đình nhân loại. Trên hành trình này, sự đóng góp của các tín hữu giáo dân tham gia vào đời sống công cộng là rất cần thiết: họ cần sự gần gũi và hỗ trợ của cộng đồng Giáo hội để thực hành "lòng bác ái chính trị" mà anh em đã đề cập. Văn hóa hợp tác tự nó phát triển thông qua đối thoại đại kết và liên tôn giáo, điều này không làm suy giảm bản sắc Kitô giáo của chúng ta, mà trái lại, cho phép nó phục vụ lợi ích chung và hòa bình cùng nhau.
Tôi cũng thấy đặc biệt có giá trị cách một số người trong anh em đã đề cập đến chủ đề phản ứng bất bạo động đối với nhiều hình thức bạo lực. Đây là một cách sống mang đậm tinh thần Tin Mừng trong lịch sử, là kết quả của việc chiêm niệm cách hành động của Chúa Giêsu. Nó không nằm ở việc từ bỏ xung đột hay thái độ thụ động, mà là lựa chọn đối diện với nó mà không tái tạo luận lý học của nó. Nó không từ bỏ sự thật hay im lặng trước cái ác, mà từ chối bảo vệ nó bằng bạo lực và biến người khác thành kẻ thù: nó bắt đầu bằng việc tự tước vũ khí. Như vậy, nó cho thấy luận lý học của Phục Sinh, trong đó tình yêu biểu hiện mạnh mẽ hơn hận thù và sự tha thứ phá vỡ vòng xoáy trả thù. Đây là sức mạnh của Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh: một sức mạnh không tiêu diệt kẻ thù, mà giúp tái khám phá anh chị em mình.
Từ quan điểm này, một số nhóm đã nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục khám phá chủ đề về quyền tự vệ chính đáng trong bối cảnh những biến đổi sâu sắc đã xảy ra trong bản chất của các cuộc xung đột đương thời. Sự suy tư này xứng đáng được phát triển hơn nữa với sự chặt chẽ về mặt thần học và mục vụ cần thiết.
Tôi cũng đặc biệt hoan nghênh sự nhấn mạnh của anh em về Học thuyết Xã hội của Giáo hội. Anh em đã bày tỏ mong muốn học thuyết này ngày càng trở thành di sản sống động của cộng đồng chúng ta, một tiêu chuẩn để đào tạo lương tâm và phân định mục vụ. Học thuyết này không đưa ra các giải pháp định sẵn, mà giáo dục Giáo hội theo cách Tin Mừng để sống trong thực tại, diễn giải thực tại và hướng dẫn hành động một cách có trách nhiệm.
Một điểm chung khác cũng gây ấn tượng với tôi. Nhiều người trong anh em nhận thấy rằng ngày nay lợi ích chung không chỉ đơn thuần là một mục tiêu cần theo đuổi: đó là một thực tại cần được cùng nhau khám phá lại. Chúng ta đang sống trong thời đại mà ngay cả việc nhận ra điều gì thực sự tốt cho tất cả mọi người cũng trở nên khó khăn. Vì lý do này, bắt nguồn từ Chúa Kitô, Giáo hội được kêu gọi bảo vệ những nơi gặp gỡ, lắng nghe và đối thoại, nơi mà một nền văn hóa đổi mới về lợi ích chung có thể phát triển mạnh mẽ. Điều này cũng đòi hỏi công tác giáo dục kiên nhẫn, giúp chúng ta nhận ra phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi người và trách nhiệm ràng buộc chúng ta với nhau. Trong hành trình này, người nghèo không chỉ là đối tượng được chúng ta quan tâm, mà còn là những người truyền cảm hứng cho niềm hy vọng mà Thiên Chúa tiếp tục khơi dậy trong lịch sử.
Một xác tín khác cũng nổi lên mạnh mẽ từ nhiều suy tư của anh em. Khi chúng ta đặt câu hỏi về trách nhiệm của Giáo hội trong thế giới ngày nay, anh em liên tục nhắc nhở về tầm quan trọng của việc làm chứng, sự gần gũi, việc hình thành lương tâm và việc xây dựng các cộng đồng huynh đệ và đáng tin cậy. Sự làm chứng này được sinh ra từ cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, từ Lời Chúa và các Bí tích, trong đó Chúa nâng đỡ dân Người và cho phép họ phục vụ thế giới bằng sức mạnh của Tin Mừng. Giáo hội được mời gọi ngày càng trở nên đúng với những gì mình rao giảng. Chính trên nền tảng này mà ngay cả những cải cách cần thiết về cấu trúc, định chế và quy trình cũng có thể đơm hoa kết trái.
Vì vậy, những ngày này củng cố niềm hy vọng của tôi. Không chỉ vì những gì chúng ta đã chia sẻ, mà còn vì cách chúng ta đã làm điều đó. Trong thời đại đầy sự phân cực, cách thức Giáo hội lắng nghe và đối thoại cũng trở thành một phần thông điệp của Giáo hội. Nếu chúng ta có thể tiếp tục cùng nhau tìm kiếm ý muốn của Chúa, để cho mình được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, tôi tin chắc rằng sự hiệp thông của chúng ta sẽ ngày càng sinh nhiều hoa trái cho sứ mệnh của Giáo hội và cho việc phục vụ toàn thể gia đình nhân loại.
Tôi tin rằng, từng bước một, chúng ta đang tái khám phá ý nghĩa đích thực của Công nghị Hồng Y: sự quy tụ của Hồng Y đoàn quanh Người kế vị Thánh Phêrô để, thông qua sự lắng nghe lẫn nhau và sự phân định chung, Chúa Thánh Thần có thể giúp Đức Giáo Hoàng hướng dẫn Giáo hội. Đó không phải là một nghị viện, không phải là một đại hội mà trong đó ý kiến hoặc lợi ích chiếm ưu thế, mà là một kinh nghiệm hiệp thông phục vụ sứ mệnh. Điều chúng ta đang học cách sống trong những ngày này không chỉ liên quan đến Hồng Y đoàn. Đó là một lối sống mà chúng ta được kêu gọi thúc đẩy trong toàn Giáo hội, để mỗi người đã được rửa tội, theo ơn gọi và trách nhiệm của mình, có thể tham gia xây dựng nền văn minh tình yêu và phục vụ lợi ích chung. Như tôi đã đề cập, tôi muốn tiếp tục sự kiện thường niên này bắt đầu từ năm tới. Tôi vẫn chưa ấn định ngày cụ thể: tôi dự định sẽ thông báo vào cuối năm nay.
Công nghị này là một khoảnh khắc quý giá, nhưng nó không được phép chỉ là một sự kiện riêng lẻ. Trong toàn Giáo hội, chúng ta mong muốn thúc đẩy những không gian mà ở đó dân Chúa có thể lắng nghe lẫn nhau, cầu nguyện, phân định và cùng nhau bước đi. Đây là linh hồn của quá trình thực hiện Thượng hội đồng. Đây cũng sẽ là tinh thần của cuộc họp tiếp theo dành riêng cho Amoris laetitia và của nhiều sáng kiến khác mà Chúa sẽ yêu cầu chúng ta thực hiện. Điều quan trọng không phải là nhân rộng các cuộc họp của chúng ta, mà là học cách trải nghiệm các cuộc họp mà trong đó, bằng cách lắng nghe lẫn nhau, chúng ta cùng nhau học cách lắng nghe Chúa.
Trước khi kết thúc, tôi muốn hoan nghênh lời kêu gọi nhất trí đến từ Công nghị này và biến nó thành lời kêu gọi của riêng tôi. Thật vậy, tôi muốn chúng ta cùng nhau làm điều đó, thông qua những lời này. Chúng ta hãy nói điều đó với các Giám mục anh em của chúng ta, với các Giáo hội được giao phó cho sứ vụ của chúng ta, và với tất cả các dân tộc trên trái đất: Chúa muốn hòa bình cho mọi quốc gia và mọi dân tộc. Vì lý do này, chúng ta không được cam chịu bạo lực. Bạo lực sẽ không có tiếng nói cuối cùng. Chúa tiếp tục mở ra những con đường hòa giải và hòa bình trong suốt lịch sử. Chúng ta có trách nhiệm bước đi trên những con đường đó với lòng can đảm và giúp thế giới nhận ra chúng.
Thưa anh em, tôi chân thành cảm ơn sự đóng góp của anh em, cũng như các diễn giả, người điều hành và tất cả những người đã, với lòng quảng đại và sự khéo léo, làm cho những ngày làm việc và giao lưu này trở nên khả thi. Cảm ơn anh em đã giúp tôi, một lần nữa, nhận ra công việc mà Chúa Kitô tiếp tục thực hiện giữa dân Người và trên thế giới. Chúng ta phó thác thành quả của Công đồng này cho sự cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Giáo hội. Xin Mẹ dạy chúng ta giữ gìn sự hiệp nhất trong đa dạng và phục vụ Tin Mừng bình an với lòng khiêm nhường, can đảm và hy vọng. Cảm ơn anh em!