Nữ tu – Hiền thê của Đức Kitô?
Khi tuyên khấn giữ mình đồng trinh, người nữ tu muốn dâng hiến trọn đời mình cho Đức Kitô cả thể xác lẫn tâm hồn. Hay nói cách khác con tim của người nữ tu thay vì hiến dâng cho một nam nhân, thì nay hòan tòan hiến dâng cho Đức Kitô, từ nay hòan tòan thuộc về Đức Kitô, và được ví như hiền thê của Người.
Sự ví von nầy mang tính chất lãng mạn nên thơ, nhưng là một sự ví von mang đến nhiều hiểu lầm. Bởi con ngừơi luôn bị chi phối bởi những cái nhìn lệch lạc, và lấy đời sống tính dục như là tâm điểm của cuộc sống. Mọi sinh họat đều qui về tính dục. Do đó người ta không thể hiểu tại sao những cô gái xinh đẹp như thế mà lại chọn đời sống độc thân? Rồi người ta làm những cuộc phân tích thuộc khoa tâm sinh lý để đi đến kết luận: để có đựơc một đời sống quân bình đòi buộc người ta phải cân bằng đời sống tâm sinh lý. Rồi kết luận võ đoán rằng, các nữ tu đã nỗ lực đi tìm sự quân bình đời sống qua việc chọn Đức Kitô như vị hôn phu, và tình yêu dành cho Đức Kitô chỉ để quân bình đời sống tâm sinh lý. Họ dựa vào CƯ để khẳng định ngừơi nam và ngừơi nữ chỉ có thể triển nở nhờ việc kết hợp lại với nhau. Trong Kinh Thánh đã không ca tụng đời sống vợ chồng đó sao! Hãy nghe Diễm tình ca cất tiếng:
“Ứơc gì chàng hôn ta những nụ hôn chính môi miệng chàng! Ân ái của anh còn ngọt ngào hơn rượu. …. Hãy kéo em theo anh, đôi ta cùng mau bước! Quân vương đã vời thiếp vào cung nội” (Dc 1, 2.4)
Và đó cũng là lý do để người ta thêu dệt những câu chuyện tình của Chúa Giêsu, như “cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa”, và mới đây nhất là cuốn tiểu thuyết của Dan Brown “The Da Vinci Code”, đã được dựng thành phim, đang là đề tài gây nhiều phản ứng gay gắt từ phía Giáo hội Công giáo. Một cuộn phim chứa đầy tình nhạo báng đức tin công gíao được diễn tả qua cuộc tình của Chúa Giêsu với bà Maria Madalêna.
Vì vậy cần phải hiểu lời tuyên khấn trinh khiết không là để biến mình thành hôn thê của Đức Kitô. Hôn thê của Đức Kitô chỉ được hiểu trong chiều kích Giáo hội. Để diễn tả mối quan hệ của Giáo hội đối với Chúa Giêsu Thánh kinh thường dùng các hình ảnh, đặc biệt hình ảnh về “Thân thể Đức Kitô” (Rom 12, 5; 1 Cor 10, 16; 1 Cor 12, 12 – 27; Col 1, 18; 2, 19; Eph 1, 22tt; 4, 1 – 16) và “Hiền thê Đức Kitô” ( Kh 12, 1 -6; 19, 7; 21, 2. 9; 22, 17; x. 1 Cor 6, 12 – 20; Eph 5, 21 – 32). Công đồng Vat. II đã trình bày: “Chúa Kitô yêu thương Giáo hội như hiền thê Người, Ngừơi trở thành gương mẫu của ngừơi chồng yêu vợ mình như yêu chính bản thân (x. Eph 5, 25 – 28); còn Giáo hội tùng phục Đầu mình (Eph 5, 23 -24)” (LG 7). Khi trình bày Gíáo hội “Hiền thê Đức Kitô” Công đồng nhấn mạnh trước tiên đến sự phân biệt giữa Giáo hội với Đức Kitô, Giáo hội đứng đối diện với Người trong một tương quan cá nhân, nhờ tình yêu của Đức Kitô dành cho Giáo hội, mà Giáo hội được nâng cao phẩm gía, được thánh hóa và được giữ gìn khỏi cái chết bởi tội lỗi. Bởi tự bản chất Giáo hội không thể thánh thiện, chỉ nhờ tình yêu Đức Kitô, Giáo hội được thánh thiện, như nhà thần học Karl Rahner trong tác phẩm “Giáo hội của người tội lỗi” biên soạn vào năm 1947 đã đưa đoạn Tin mừng của Thánh Gioan 8, 1 – 11 đề áp dụng cho Giáo hội:
“Những người luật sĩ và biệt phái – những hạng người đó không chỉ có trong Giáo hội, nhưng ở mọi nơi -, lôi ‘người đàn bà’ đến trước mặt Chúa với một chút tình cảm chân thật thầm kín: người đàn bà – may qúa – cũng không tốt gì hơn chính họ, để tố cáo bà ta: ‘Thưa thầy, người đàn bà nầy phạm tội ngoại tình vừa mới bị bắt gặp qủa tang. Thầy nói sao về chuyện nầy?’ Người đàn bà không chối cãi việc tố cáo nầy. Không, đó là một sự tức giận. Và không có một chút gì thêu dệt. Bà ta nghĩ đến tội của bà, vì qủa thật bà đã phạm tội, và bà không quên điều đó (một người tớ nữ khiêm hạ có thể làm cách khác được chăng?) trước vẻ huy hoàng vừa ẩn dấu vừa tỏ lộ của sự thánh thiện. Và bà không muốn phủ nhận. Bà chính là Giáo hội tội nhân đáng thương. Sự khiêm hạ của bà, nếu không có nó thì không được thánh hóa, chỉ nhìn thấy tội của mình. Bà đang đứng trước Đấng mà bà tín thác vào, trước Đấng yêu thương bà và đã tự trao ban chính mình vì bà, để thánh hoá bà, trước Đấng biết rõ tội của bà hơn kẻ tố cáo bà biết bà. Nhưng Chúa hoàn toàn im lặng. Người viết tội của bà trên cát của lịch sử thế giới, một lịch sử sẽ bị biến đi cùng với tội của bà. Người im lặng trong cho khoảnh khắc, cái khoảnh khắc đó là cả hằng thế kỷ đối với chúng ta. Người kết án bà chỉ qua sự im lặng của tình yêu Người, cái tình yêu mang đến lòng thương xót và sự thứ tha. Trong thế kỷ nầy tới thế kỷ khác xuất hiện những kẻ tố cáo mới đứng bên cạnh ‘người đàn bà nầy’ và luôn lập lại việc từ từ rón rén rời bỏ đi, người nầy tới người khác, bắt đầu là những người lớn tuổi nhất; rồi chẳng còn một ai, chẳng có một ai vô tội. Cuối cùng chỉ còn một mình Chúa với bà. Và Chúa ngẩng đầu lên hướng nhìn người đàn bà ngoại tình, hiền thê của Người và hỏi: ‘nầy chị, những người kết án chị đâu cả rồi? Không có ai kết án chị ư?’ Ngươì đàn bà trả lời trong sự hối hận và lòng khiêm nhượng không thể diễn tả được: ‘thưa Ngài, không có ai’. Bà kinh ngạc và hầu như muốn ngã qụy vì không có một ai kết án bà. Chúa đi lại về phía bà và nói:‘Tôi cũng không muốn kết án chị’. Người hôn lên trán chị và nói: ‘Hiền thê của Ta, Giáo hội thánh thiện của Ta’”( K. Rahner, Kirche der Sünder, in: Schr. Z. Th. VI., 319f.)
Như vậy hiền thê của Đức Kitô không phải là riêng một chị nữ tu nào, nhưng là Giáo hội, là bao gồm tất cả những ngừơi được qui tụ vào trong Giáo hội. Vậy đức Khiết tịnh mà ngừơi nữ tu tuyên khấn không gì khác ngoài việc trở nên giống Đức Kitô, để “yêu mến Chúa và mọi ngừơi cách nồng nàn hơn. Vì thế, đức Khiết tịnh là dấu chỉ đặc biệt của kho tàng trên trời và cũng là phương tiện thích hợp nhất cho các tu sĩ hân hoan hiến mình để phụng sự Thiên Chúa và làm việc tông đồ” (PC 12).
Dĩ nhiên trong công trình tạo dựng Thiên Chúa “đã dựng nên ngừơi nam và ngừơi nữ” (st 1, 27), có nghĩa hôn nhân là một định chế đựơc Thiên Chúa thiết lập và tình yêu nam nữ là một hành vi đựơc Thiên Chúa chúc phúc. Từ người nam và người nữ, Thiên Chúa tạo nên một hữu thể duy nhất, để từ đó tìm kiếm “một dòng dõi do Chúa ban” (Mal 2, 14tt). Tuy nhiên định chế hôn nhân không là khuôn mẫu bắt buộc mọi ngừơi phải noi theo, bởi vì có một thực tại cao hơn thực tại trần thế, đó là thực tại “Nứơc Trời”. Đức Giêsu đã mặc khải cho biết điều đó, nơi “Nước Trời” không có chuyện lấy vợ gả chồng (x. Lc 20, 35). Chính Đức Kitô đã thể hiện dạng thức Nước Trời ngay chính trong đời sống của Người qua việc sống độc thân, một việc làm mà các Rabbi Do thái thời đó không thể chấp nhận được. Chính Đức Kitô cũng đã thổ lộ: “có những ngừơi tự trở nên họan nhân vì Nước Trời” (Mt 19, 12). Vậy việc khấn đức Khiết tịnh của ngừơi tu sĩ chính là trở nên giống Đức Kitô để loan báo thực tại Nước Trời, nơi đó những công dân Nước Trời là anh chị em với nhau, không còn bị chi phối bởi những dục tình, những ham muốn theo khuynh hướng tình dục. Ở nơi đó con ngừơi không còn bị chi phối bởi một tình yêu quy ngã, nhưng là một tình yêu hướng tha. Sự khiết tịnh của những người độc thân trinh khiết, biểu lộ một con tim không chia sẻ dâng hiến cho Thiên Chúa (x. 1 Cr 7,32-34), phản ảnh tình yêu vô biên đang kết nối Ba Ngôi Vị Thần Linh trong chiều sâu nhiệm mầu của đời sống Ba Ngôi; tình yêu mà Ngôi Lời nhập thể làm chứng cho đến hy sinh mạng sống; tình yêu ‘đã được đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần’ (Rm 5,5), tình yêu thúc bách chúng ta đáp trả với trọn tình thương dành cho Thiên Chúa và anh em.” (Vita consecrata số 21)
Hành vi yêu thương lý tưởng nầy không là chuyện đơn giản, như Công đồng Vat. II nhận định: “sự tiết dục trọn vẹn đụng chạm đến những khuynh hướng thâm sâu của bản tính con người” (PC 12). Bởi vậy đời tận hiến sống khiết tịnh luôn đối diện với nhiều thách đố, nhất là trong thời đại hôm nay, một thời đại đang đề cao nền văn hóa hưởng thụ “chủ trương tháo gỡ mọi qui tắc khách quan của tính dục, thường giản lược tính dục thành một trò chơi và món hàng tiêu thụ” (Vita consecrata số 88). Cho nên, để có thể bước vào đời sống yêu thương như Đức Kitô, người tu sĩ cần phải được huấn luyện trưởng thành về mặt tâm lý, tình cảm, phải cung cấp cho các tu sĩ khả năng suy tư về phái tính trong chương trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa (x. Huấn thị của Thánh bộ Tu sĩ về những chỉ dẫn việc đào tạo trong các hội dòng, số 39). Đào tạo ý thức về đời sống chung anh em, chị em với nhau như là một hồng ân cao qúi. Chính qua đời sống chung tập thể, người tu sĩ không còn sống cho mình, nhưng sống cho và với người khác và thúc đẩy họ phục vụ người khác trong sự hiến mình khiêm hạ không tính toán ích kỷ. Chỉ dẫn người tu sĩ nhận ra việc tuân giữ đức Khiết tịnh như là việc tìm kiếm vẻ đẹp của Thiên Chúa, từ đó thúc đẩy người được thánh hiến “chăm sóc hình ảnh Thiên Chúa đã bị bóp méo trên bộ mặt anh chị em mình, những bộ mặt hốc hác vì đói khổ, những bộ mặt thất vọng vì những lời hứa hẹn chính trị, những bộ mặt tủi hổ vì thấy văn hoá của mình bị chà đạp, những bộ mặt kinh đảm vì bạo lực mù quáng xảy ra thường ngày, những bộ mặt lo âu của người trẻ, những bộ mặt của những phụ nữ bị xúc phạm và hạ giá, những bộ mặt mệt mỏi của những người di dân không được ai tiếp nhận, những bộ mặt u buồn của những người có tuổi không có những điều kiện tối thiểu để sống cho ra sống. Đời thánh hiến dùng ngôn ngữ của việc làm để nói rằng lòng mến Thiên Chúa là nền tảng và là thuốc kích thích một tình yêu nhưng không và ân cần” (Vita consecrata 75).
Khi tuyên khấn giữ mình đồng trinh, người nữ tu muốn dâng hiến trọn đời mình cho Đức Kitô cả thể xác lẫn tâm hồn. Hay nói cách khác con tim của người nữ tu thay vì hiến dâng cho một nam nhân, thì nay hòan tòan hiến dâng cho Đức Kitô, từ nay hòan tòan thuộc về Đức Kitô, và được ví như hiền thê của Người.
Sự ví von nầy mang tính chất lãng mạn nên thơ, nhưng là một sự ví von mang đến nhiều hiểu lầm. Bởi con ngừơi luôn bị chi phối bởi những cái nhìn lệch lạc, và lấy đời sống tính dục như là tâm điểm của cuộc sống. Mọi sinh họat đều qui về tính dục. Do đó người ta không thể hiểu tại sao những cô gái xinh đẹp như thế mà lại chọn đời sống độc thân? Rồi người ta làm những cuộc phân tích thuộc khoa tâm sinh lý để đi đến kết luận: để có đựơc một đời sống quân bình đòi buộc người ta phải cân bằng đời sống tâm sinh lý. Rồi kết luận võ đoán rằng, các nữ tu đã nỗ lực đi tìm sự quân bình đời sống qua việc chọn Đức Kitô như vị hôn phu, và tình yêu dành cho Đức Kitô chỉ để quân bình đời sống tâm sinh lý. Họ dựa vào CƯ để khẳng định ngừơi nam và ngừơi nữ chỉ có thể triển nở nhờ việc kết hợp lại với nhau. Trong Kinh Thánh đã không ca tụng đời sống vợ chồng đó sao! Hãy nghe Diễm tình ca cất tiếng:
“Ứơc gì chàng hôn ta những nụ hôn chính môi miệng chàng! Ân ái của anh còn ngọt ngào hơn rượu. …. Hãy kéo em theo anh, đôi ta cùng mau bước! Quân vương đã vời thiếp vào cung nội” (Dc 1, 2.4)
Và đó cũng là lý do để người ta thêu dệt những câu chuyện tình của Chúa Giêsu, như “cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa”, và mới đây nhất là cuốn tiểu thuyết của Dan Brown “The Da Vinci Code”, đã được dựng thành phim, đang là đề tài gây nhiều phản ứng gay gắt từ phía Giáo hội Công giáo. Một cuộn phim chứa đầy tình nhạo báng đức tin công gíao được diễn tả qua cuộc tình của Chúa Giêsu với bà Maria Madalêna.
Vì vậy cần phải hiểu lời tuyên khấn trinh khiết không là để biến mình thành hôn thê của Đức Kitô. Hôn thê của Đức Kitô chỉ được hiểu trong chiều kích Giáo hội. Để diễn tả mối quan hệ của Giáo hội đối với Chúa Giêsu Thánh kinh thường dùng các hình ảnh, đặc biệt hình ảnh về “Thân thể Đức Kitô” (Rom 12, 5; 1 Cor 10, 16; 1 Cor 12, 12 – 27; Col 1, 18; 2, 19; Eph 1, 22tt; 4, 1 – 16) và “Hiền thê Đức Kitô” ( Kh 12, 1 -6; 19, 7; 21, 2. 9; 22, 17; x. 1 Cor 6, 12 – 20; Eph 5, 21 – 32). Công đồng Vat. II đã trình bày: “Chúa Kitô yêu thương Giáo hội như hiền thê Người, Ngừơi trở thành gương mẫu của ngừơi chồng yêu vợ mình như yêu chính bản thân (x. Eph 5, 25 – 28); còn Giáo hội tùng phục Đầu mình (Eph 5, 23 -24)” (LG 7). Khi trình bày Gíáo hội “Hiền thê Đức Kitô” Công đồng nhấn mạnh trước tiên đến sự phân biệt giữa Giáo hội với Đức Kitô, Giáo hội đứng đối diện với Người trong một tương quan cá nhân, nhờ tình yêu của Đức Kitô dành cho Giáo hội, mà Giáo hội được nâng cao phẩm gía, được thánh hóa và được giữ gìn khỏi cái chết bởi tội lỗi. Bởi tự bản chất Giáo hội không thể thánh thiện, chỉ nhờ tình yêu Đức Kitô, Giáo hội được thánh thiện, như nhà thần học Karl Rahner trong tác phẩm “Giáo hội của người tội lỗi” biên soạn vào năm 1947 đã đưa đoạn Tin mừng của Thánh Gioan 8, 1 – 11 đề áp dụng cho Giáo hội:
“Những người luật sĩ và biệt phái – những hạng người đó không chỉ có trong Giáo hội, nhưng ở mọi nơi -, lôi ‘người đàn bà’ đến trước mặt Chúa với một chút tình cảm chân thật thầm kín: người đàn bà – may qúa – cũng không tốt gì hơn chính họ, để tố cáo bà ta: ‘Thưa thầy, người đàn bà nầy phạm tội ngoại tình vừa mới bị bắt gặp qủa tang. Thầy nói sao về chuyện nầy?’ Người đàn bà không chối cãi việc tố cáo nầy. Không, đó là một sự tức giận. Và không có một chút gì thêu dệt. Bà ta nghĩ đến tội của bà, vì qủa thật bà đã phạm tội, và bà không quên điều đó (một người tớ nữ khiêm hạ có thể làm cách khác được chăng?) trước vẻ huy hoàng vừa ẩn dấu vừa tỏ lộ của sự thánh thiện. Và bà không muốn phủ nhận. Bà chính là Giáo hội tội nhân đáng thương. Sự khiêm hạ của bà, nếu không có nó thì không được thánh hóa, chỉ nhìn thấy tội của mình. Bà đang đứng trước Đấng mà bà tín thác vào, trước Đấng yêu thương bà và đã tự trao ban chính mình vì bà, để thánh hoá bà, trước Đấng biết rõ tội của bà hơn kẻ tố cáo bà biết bà. Nhưng Chúa hoàn toàn im lặng. Người viết tội của bà trên cát của lịch sử thế giới, một lịch sử sẽ bị biến đi cùng với tội của bà. Người im lặng trong cho khoảnh khắc, cái khoảnh khắc đó là cả hằng thế kỷ đối với chúng ta. Người kết án bà chỉ qua sự im lặng của tình yêu Người, cái tình yêu mang đến lòng thương xót và sự thứ tha. Trong thế kỷ nầy tới thế kỷ khác xuất hiện những kẻ tố cáo mới đứng bên cạnh ‘người đàn bà nầy’ và luôn lập lại việc từ từ rón rén rời bỏ đi, người nầy tới người khác, bắt đầu là những người lớn tuổi nhất; rồi chẳng còn một ai, chẳng có một ai vô tội. Cuối cùng chỉ còn một mình Chúa với bà. Và Chúa ngẩng đầu lên hướng nhìn người đàn bà ngoại tình, hiền thê của Người và hỏi: ‘nầy chị, những người kết án chị đâu cả rồi? Không có ai kết án chị ư?’ Ngươì đàn bà trả lời trong sự hối hận và lòng khiêm nhượng không thể diễn tả được: ‘thưa Ngài, không có ai’. Bà kinh ngạc và hầu như muốn ngã qụy vì không có một ai kết án bà. Chúa đi lại về phía bà và nói:‘Tôi cũng không muốn kết án chị’. Người hôn lên trán chị và nói: ‘Hiền thê của Ta, Giáo hội thánh thiện của Ta’”( K. Rahner, Kirche der Sünder, in: Schr. Z. Th. VI., 319f.)
Như vậy hiền thê của Đức Kitô không phải là riêng một chị nữ tu nào, nhưng là Giáo hội, là bao gồm tất cả những ngừơi được qui tụ vào trong Giáo hội. Vậy đức Khiết tịnh mà ngừơi nữ tu tuyên khấn không gì khác ngoài việc trở nên giống Đức Kitô, để “yêu mến Chúa và mọi ngừơi cách nồng nàn hơn. Vì thế, đức Khiết tịnh là dấu chỉ đặc biệt của kho tàng trên trời và cũng là phương tiện thích hợp nhất cho các tu sĩ hân hoan hiến mình để phụng sự Thiên Chúa và làm việc tông đồ” (PC 12).
Dĩ nhiên trong công trình tạo dựng Thiên Chúa “đã dựng nên ngừơi nam và ngừơi nữ” (st 1, 27), có nghĩa hôn nhân là một định chế đựơc Thiên Chúa thiết lập và tình yêu nam nữ là một hành vi đựơc Thiên Chúa chúc phúc. Từ người nam và người nữ, Thiên Chúa tạo nên một hữu thể duy nhất, để từ đó tìm kiếm “một dòng dõi do Chúa ban” (Mal 2, 14tt). Tuy nhiên định chế hôn nhân không là khuôn mẫu bắt buộc mọi ngừơi phải noi theo, bởi vì có một thực tại cao hơn thực tại trần thế, đó là thực tại “Nứơc Trời”. Đức Giêsu đã mặc khải cho biết điều đó, nơi “Nước Trời” không có chuyện lấy vợ gả chồng (x. Lc 20, 35). Chính Đức Kitô đã thể hiện dạng thức Nước Trời ngay chính trong đời sống của Người qua việc sống độc thân, một việc làm mà các Rabbi Do thái thời đó không thể chấp nhận được. Chính Đức Kitô cũng đã thổ lộ: “có những ngừơi tự trở nên họan nhân vì Nước Trời” (Mt 19, 12). Vậy việc khấn đức Khiết tịnh của ngừơi tu sĩ chính là trở nên giống Đức Kitô để loan báo thực tại Nước Trời, nơi đó những công dân Nước Trời là anh chị em với nhau, không còn bị chi phối bởi những dục tình, những ham muốn theo khuynh hướng tình dục. Ở nơi đó con ngừơi không còn bị chi phối bởi một tình yêu quy ngã, nhưng là một tình yêu hướng tha. Sự khiết tịnh của những người độc thân trinh khiết, biểu lộ một con tim không chia sẻ dâng hiến cho Thiên Chúa (x. 1 Cr 7,32-34), phản ảnh tình yêu vô biên đang kết nối Ba Ngôi Vị Thần Linh trong chiều sâu nhiệm mầu của đời sống Ba Ngôi; tình yêu mà Ngôi Lời nhập thể làm chứng cho đến hy sinh mạng sống; tình yêu ‘đã được đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần’ (Rm 5,5), tình yêu thúc bách chúng ta đáp trả với trọn tình thương dành cho Thiên Chúa và anh em.” (Vita consecrata số 21)
Hành vi yêu thương lý tưởng nầy không là chuyện đơn giản, như Công đồng Vat. II nhận định: “sự tiết dục trọn vẹn đụng chạm đến những khuynh hướng thâm sâu của bản tính con người” (PC 12). Bởi vậy đời tận hiến sống khiết tịnh luôn đối diện với nhiều thách đố, nhất là trong thời đại hôm nay, một thời đại đang đề cao nền văn hóa hưởng thụ “chủ trương tháo gỡ mọi qui tắc khách quan của tính dục, thường giản lược tính dục thành một trò chơi và món hàng tiêu thụ” (Vita consecrata số 88). Cho nên, để có thể bước vào đời sống yêu thương như Đức Kitô, người tu sĩ cần phải được huấn luyện trưởng thành về mặt tâm lý, tình cảm, phải cung cấp cho các tu sĩ khả năng suy tư về phái tính trong chương trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa (x. Huấn thị của Thánh bộ Tu sĩ về những chỉ dẫn việc đào tạo trong các hội dòng, số 39). Đào tạo ý thức về đời sống chung anh em, chị em với nhau như là một hồng ân cao qúi. Chính qua đời sống chung tập thể, người tu sĩ không còn sống cho mình, nhưng sống cho và với người khác và thúc đẩy họ phục vụ người khác trong sự hiến mình khiêm hạ không tính toán ích kỷ. Chỉ dẫn người tu sĩ nhận ra việc tuân giữ đức Khiết tịnh như là việc tìm kiếm vẻ đẹp của Thiên Chúa, từ đó thúc đẩy người được thánh hiến “chăm sóc hình ảnh Thiên Chúa đã bị bóp méo trên bộ mặt anh chị em mình, những bộ mặt hốc hác vì đói khổ, những bộ mặt thất vọng vì những lời hứa hẹn chính trị, những bộ mặt tủi hổ vì thấy văn hoá của mình bị chà đạp, những bộ mặt kinh đảm vì bạo lực mù quáng xảy ra thường ngày, những bộ mặt lo âu của người trẻ, những bộ mặt của những phụ nữ bị xúc phạm và hạ giá, những bộ mặt mệt mỏi của những người di dân không được ai tiếp nhận, những bộ mặt u buồn của những người có tuổi không có những điều kiện tối thiểu để sống cho ra sống. Đời thánh hiến dùng ngôn ngữ của việc làm để nói rằng lòng mến Thiên Chúa là nền tảng và là thuốc kích thích một tình yêu nhưng không và ân cần” (Vita consecrata 75).