MẤY KINH NGẮN TUYÊN XƯNG MẦU NHIỆM MỘT CHÚA BA NGÔI
1. KINH DẤU THÁNH GIÁ
Bản tiếng Việt : Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
Bản tiếng Latinh : In nomine Patris et Filii et Spiritus Sancti. Amen.
Kinh nầy phát xuất từ Lời Chúa Kitô dạy : Anh em hãy đi giảng dạy tất cả dân nước, thanh tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần (Mathêu 28,19).
Bản tiếng Latinh : Euntes ergo docete omnes gentes, baptizantes eos in nomine Patris et Filii et Spiritus Sancti (Mt 28,19).
Để hiểu đúng kinh nầy, cần phải để ý tới văn phạm, cụm từ IN NOMINE, nhất là từ ngữ NOMINE. Nomine là danh, là tên thuộc số ít đối với nominibus là danh, là tên thuộc số nhiều. Vậy, in nomine là nhân vì một danh, nhân vì một tên, còn in nominibus là nhân vì nhiều danh, nhân vì chư danh.
Vậy, in nomine Patris et Filii et Spiritus Sancti có nghĩa là nhân vì (nhân bởi) một danh của Cha (Ngôi Cha) và Con (Ngôi Con) và Thánh Thần (Ngôi Thánh Thần) tức là tuyên xưng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi (mầu nhiệm một danh Thiên Chúa, một bản tính Thiên Chúa có Ba Ngôi vị Thần linh là Cha và Con và Thánh Thần) (L’unite d’essence en trois personnes).
Sách Giáo lý của Giáo Hội Công giáo năm 1992 thấy cần phải nhấn mạnh về vấn đề nầy nên đã viết :
Bản tiếng Pháp : Les chrétiens sont baptisés “au nom” du Père et du Fils et du Saint Esprit et non pas “aux noms” de ceux-ci car il n’y a qu’un seul Dieu. Le Père Tout-Puissant et son Fils unique et l’Esprit Saint : la Très Sainte Trinité (Cathéchisme de l’Église Catholique, 233).
Bản tiếng Anh : Christians are baptized in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit : not in their names, for only one God, the almighty Father, his only Son, and the Holy Spirit : the Most Holy Trinity (Cathechism of the Catholic Church, 233).
Bản tiếng Việt : Rửa (Rửa tội) nhân danh Cha và Con và Thánh Thần chứ không nhân “chư danh” (những danh) của các vị nầy, bởi vì có một Thiên Chúa duy nhất là Cha toàn năng và Con hữu nhất của Người và Thánh Thần : đó là Thiên Chúa Ba Ngôi (Bản dịch Giáo lý của Hội Thánh Công giáo số 233).
Tổ tiên chúng ta dịch từ tiếng Latinh : In nomine Patris et Filii et Spiritus Sancti ra tiếng Việt : Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, ta thấy không nói rõ được “một danh”, và ta dễ dàng nói kinh nầy tuyên xưng Ba Ngôi Thiên Chúa (bỏ mất Một Thiên Chúa). Có lẽ các ngài sử dụng tiếng Latinh trong Phụng vụ và hiểu in nomine chỉ là một danh, một Thiên Chúa theo văn phạm Latinh đã học thuộc lòng, không để ý tới bản dịch tiếng Việt.
Luôn thể xin phép nói số 1 và số 3 nơi Thiên Chúa :
Nơi Thiên Chúa, tất cả đều là một trừ các tương quan đặc hữu (In Deo, omnia sunt unum, ubi non obviat relationis oppositio, D 703) tức là nơi Thiên Chúa, tất cả là một trừ ba Ngôi vị Cha và Con và Thánh Thần phân biện nhau. Vì thế, những từ ngữ, danh Thiên Chúa, toàn năng, thánh thiện, vinh quang, nhân từ, công bằng, tình yêu v.v… chỉ dùng ở số một vì chỉ một cái chung, một bản tính nơi Thiên Chúa, còn ba Ngôi vị là Cha và Con và Thánh Thần thì phân biệt nhau (Cha là Cha, Con là Con, Thánh Thần là Thánh Thần). Nhưng Ba Ngôi hoàn toàn bằng nhau, như nhau và đồng nhất với bản tính Thiên Chúa (trois personnes divines sont réellement identiques avec l’essence divine) vì nơi Thiên Chúa chỉ có đơn thuần tuyệt đối, không có đa số, không có phức số.
Và cũng phải để ý tới cách nói : 3 bằng 1, 1 bằng 3. Đối tượng của toán học là số lượng. Nói 3 bằng 1, và 1 bằng 3 là vô lý trừ khi nói tới giá trị : 3 ký gạo giá bằng 1 ký thịt.
Nơi Thiên Chúa, số 1 chỉ một bản tính (toàn năng, thánh thiện, nhân ái, vinh quang, công bằng v.v…) và số 3 chỉ Ba Ngôi vị thần linh là Cha và Con và Thánh Thần. Vì thế nói Ba Ngôi là Một Chúa, Một Chúa là Ba Ngôi.
2. KINH SÁNG DANH
Bản tiếng Việt : sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần. Như đã có trước vô cùng và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen.
Bản tiếng Latinh : Gloria Patri et Filio et Spiritui Sancto. Sicut erat in principio, et nunc, et semper et in saecula saeculorum. Amen.
Bản tiếng Pháp : Gloire au Père et au Fils et au Saint Esprit. Comme il était au commencement, maintenant et toujours dans les siècles des siècles. Amen.
Bản tiếng Anh : Glory be to the Father and to the Son and to the Holy Spirit. As it was in the beginning, is now and ever shall be, world without end. Amen.
Kinh chúc tụng nầy (doxologie) có nguồn gốc từ Kinh Thánh :
Thánh Phaolô chúc tụng : Xin ơn sủng của Chúa Giêsu Kitô, tình yêu của Thiên Chúa và ơn hiệp nhất của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em (2 Corinto 13,13).
Thánh Phêrô : Xin sự quan phòng của Thiên Chúa Cha, sức thánh hóa của Thánh Thần và sự vâng phục của Đức Giêsu Kitô và Máu Thánh thanh tẩy của Ngài ban ơn sủng và bình an cho anh em (1 Phêrô 1,2).
Kinh nầy bất đầu được đọc từ thế kỷ thứ 5 để kết thúc Thánh vịnh vừa để tuyên xưng Đức tin chân thành vừa để chống lại dị giáo (hérésie) Arius.
Phân tích Kinh Sáng danh bằng tiếng Latinh : Gloria (sáng danh, vinh danh thuộc số ít (số một) tức là một sáng danh, một vinh danh, tức là nói đến vinh danh của một Thiên Chúa), Patri (thuộc Cha, của Cha) et Filio (và thuộc Con, của Con) et Spiritui Sancto (và thuộc Thánh Thần, của Thánh Thần) : Một Sáng danh của Cha và của Con và của Thánh Thần đã có từ khởi sự (từ đời đời) và bây giờ đang có, và luôn luôn có và có từ đời này qua đời kia không có cùng, không có hạn. Vinh danh của Một Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần có từ trước vô cùng, bây giờ đang có, và luôn luôn có và có từ đời nầy đến đời kia không khi nào hết, không khi nào cùng.
3. CHÚA BA NGÔI (TRINITAS)
Giáo phụ Tertullien (thế kỷ 2 và 3) đã dùng từ ngữ Trinitas trong tác phẩm chống lại dị giáo (Adversus Praxeam, 2) để bảo vệ Ba Ngôi vị Thiên Chúa, Ba Ngôi vị đều là Thiên Chúa trong một bản tính Thiên Chúa.
Nhóm của linh mục Arius dạy Chúa Kitô là thụ tạo cao nhất, hạng nhất làm trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Dạy như vậy là phá mầu nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi. Tertullien dùng giáo lý trinitas để chống lại. Trinitas dịch là TAM VỊ NHẤT THỂ thật chuẩn xác. Ba Ngôi vị Thiên Chúa trong một bản thể Thiên Chúa.
Nhưng thật ra nguyên ngữ của từ ngự Trinitas là Trinus tức là số 3 hoặc chỉ cách lập lại 3 lần.
Thời xưa, cử hành bí tích Thánh tẩy (rửa tội), chủ tế hỏi thụ nhân 3 lần và 3 lần dìm nước (rửa tội) sau mỗi câu hỏi để tuyên xưng mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa (Có tin Chúa Cha…, có tin Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa…, có tin Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa…).
Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo viết : Ba Ngôi là Một. Chúng tôi không tuyên xưng ba Thiên Chúa, nhưng tuyên xưng một Thiên Chúa mà thôi trong Ba Ngôi : Đó là Ba ngôi đồng bản thể. Các ngôi vị Thiên Chúa không chia nhau một bản tính Thiên Chúa duy nhất, nhưng mỗi Ngôi Vị là Thiên Chúa hoàn toàn trọn vẹn : Ngôi Cha là Thiên Chúa hoàn toàn trọn vẹn như Ngôi Con, Ngôi Con là Thiên Chúa hoàn toàn trọn vẹn như Ngôi Cha, Ngôi Cha và Ngôi Con là Thiên Chúa hoàn toàn trọn vẹn như Ngôi Thánh Thần nghĩa là chỉ có một Thiên Chúa theo bản tính. Mỗi Ngôi trong Ba Ngôi là thực tại nầy nghĩa là chính là bản thể, là yếu tính, là bản tính Thiên Chúa (La Trinité est Une. Nous ne confessons pas trois dieux, mais un seul Dieu en trois personnes : la “Trinité consubstantielle”. Les personnes divines ne se partagent pas l’unique divinité mais chacune d’elles est Dieu tout entier : “Le Père est cela même qu’est le Fils, le Saint-Esprit, c’est à dire la substance, l’essence ou la nature divine” (Catéchisme de l’Église catholique, 253).
Tóm lại, nơi Thiên Chúa, mọi sự đều là một nên loại bỏ đa thành phần, và loại bỏ phức số tức là nơi Thiên Chúa là đơn thuần hoàn toàn, nhưng có Ba Ngôi Thiên Chúa. Ba Ngôi này phân biệt (Cha là Cha, Con là Con, Thánh Thần là Thánh Thần) nhưng hoàn toàn bằng nhau về mọi mặt và là Thiên Chúa hoàn toàn trọn vẹn tức là thực sự đồng nhất với bản tính Thiên Chúa.
Ngôn ngữ loài người có giới hạn dùng để diễn tả mầu nhiệm nơi Thiên Chúa nhất là mầu nhiệm căn bản của Thiên Chúa (Một Chúa Ba Ngôi) luôn luôn có nguy cơ hạ thấp mầu nhiệm của Thiên Chúa, nếu không muốn nói là dễ rơi vào sai lầm. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã dùng ngôn ngữ loài người để mạc khải mầu nhiệm của Ngài trong Kinh Thánh, nên Kinh Thánh phải là ngôn ngữ ta nói về Thiên Chúa là chính và thần học luôn luôn dùng ngôn ngữ Kinh Thánh và “của trần thế” để giúp ta biết và “hiểu” đôi chút về mầu nhiệm.