CHƯƠNG BA: KỸ THUẬT VÀ SỰ THỐNG TRỊ. SỰ VĨ ĐẠI CỦA NHÂN LOẠI DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA NHỮNG LỜI HỨA HẸN CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

90. Sau khi nhắc lại những nguyên tắc soi sáng Học thuyết Xã hội, giờ đây tôi muốn tập trung vào một số thách thức đang định hình sâu sắc cách sống của chúng ta ngày nay. Hình ảnh Kinh Thánh đi kèm với những suy tư này là hình ảnh của một dự án xây dựng. Một mặt, đó là Tháp Baben, nơi nỗ lực tập thể tuân theo một kế hoạch thống trị và cuối cùng làm mất đi tính nhân tính (xem Sáng thế 11:1-9). Mặt khác, đó là những tàn tích của Giêrusalem, được xây dựng lại từng phần dưới sự chỉ đạo của Nơ-khe-mi-a như một dự án trách nhiệm chung (xem Nơ-khe-mi-a 2-6). Chúng ta được mời gọi suy gẫm về những “công trường xây dựng” vĩ đại của thời đại chúng ta và tự hỏi: Chúng ta đang xây dựng cái gì? Khi sự phát triển kỹ thuật nhanh chóng biến đổi ngôn ngữ, các mối quan hệ, kỹ thuật và các hình thức quyền lực, chúng ta, những người tin Chúa, phải và có thể lựa chọn những dự án nào để thực hiện và bằng cách nào, để bảo vệ và trân trọng sự vĩ đại của nhân loại từng được ban cho chúng ta như quà tặng. Đây không chỉ là sự lựa chọn cho tương lai mà còn cho hiện tại, vì trí tuệ nhân tạo và các kỹ thuật mới nổi khác đã là một phần trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

91. Tôi tin chắc rằng cách thức cụ thể để sống các mối quan hệ xã hội theo ánh sáng Tin Mừng không được thiết lập một lần và mãi mãi, mà vẫn là một nhiệm vụ được giao phó từ thế hệ này sang thế hệ khác cho cộng đồng Kitô giáo. Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội cho phép mình được soi sáng bởi Lời Chúa, đọc các dấu hiệu của thời đại và sáng tạo tìm kiếm những cách thức mới để các mối quan hệ giữa các dân tộc và quốc gia ngày càng phù hợp hơn với những đòi hỏi của Nước Thiên Chúa. [118] Vì lý do này, tôi khuyến khích tất cả các thành viên của Giáo Hội đừng sợ hãi những thách thức hiện tại, mà hãy lắng nghe lẫn nhau và vững vàng đón nhận trách nhiệm của mình trong việc xây dựng một xã hội nhân bản và huynh đệ hơn.

Mô hình kỹ trị và quyền lực kỹ thuật số

92. Trong Thông điệp Laudato Si’, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã lên án sự thống trị ngày càng tăng của mô hình kỹ trị [119] trong thế giới toàn cầu hóa của chúng ta: xu hướng để cho luận lý học hiệu năng, kiểm soát và lợi nhuận định hình các quyết định bản thân, xã hội và kinh tế. Điều này cho thấy rõ rằng kỹ thuật không chỉ đơn thuần là một công cụ. Khi nó trở thành tiêu chuẩn để đánh giá mọi thứ, nó bắt đầu quyết định điều gì quan trọng và điều gì có thể bị loại bỏ, biến sự sáng tạo thành đối tượng khai thác và con người thành những bánh răng đơn thuần trong một hệ thống hướng tới hiệu năng ngày càng cao hơn.

93. Mô hình này đã lan rộng nhanh chóng trong những năm gần đây, một phần được thúc đẩy bởi sự mở rộng của trí tuệ nhân tạo, khoa học nhận thức, kỹ thuật nano, robot và kỹ thuật sinh học. Bản thân những đổi mới này có thể phục vụ rất nhiều cho sự phát triển toàn diện của con người và việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta. Tuy nhiên, chính vì sức mạnh của chúng, chúng cũng có thể đẩy nhanh sự mở rộng của mô hình kỹ trị và do đó đòi hỏi một khuôn khổ tinh thần, đạo đức và chính trị mới. Nhiều quyền lực hơn không nhất thiết có nghĩa là điều gì đó tốt hơn. Về khía cạnh này, lời của Romano Guardini vẫn còn phù hợp: “Con người đương thời chưa được đào tạo để sử dụng quyền lực một cách tốt đẹp.” [120]

94. Nguy cơ nhân loại trở thành nạn nhân của chính những thành tựu của mình đã được Thánh Phaolô VI nhận ra rõ ràng, ngài cảnh báo rằng “tiến bộ khoa học phi thường nhất, những kỳ tích kỹ thuật đáng kinh ngạc nhất và sự tăng trưởng kinh tế đáng kinh ngạc nhất, nếu không đi kèm với tiến bộ đạo đức và xã hội đích thực, về lâu dài sẽ phản tác dụng đối với con người.” [121] Vì lý do này, tiến bộ kỹ thuật— tự nó đã có giá trị — đòi hỏi sự phân định cẩn thận về tầm nhìn nhân học hướng dẫn nó và những mục tiêu mà nó theo đuổi. Nếu sự phát triển kỹ thuật tiến bộ mà không có sự tiến bộ đạo đức và xã hội tương ứng, kết quả có thể là sự gia tăng về phương tiện mà không có sự phát triển về nhân tính: “có nhiều hơn” mà không “trở nên tốt hơn”. Trong kịch bản như vậy, có nguy cơ các cá nhân sẽ được đánh giá chủ yếu dựa trên kết quả mà họ tạo ra. [122]

95. Ở đây, chúng ta phải nhận ra một khía cạnh quan trọng khác mà tôi đã lưu ý trước đó. Trong nhiều trường hợp trong bối cảnh kỹ thuật số, quyền kiểm soát các nền tảng, cơ sở hạ tầng, dữ liệu và sức mạnh tính toán không nằm ở các quốc gia, mà thuộc về các chủ thể kinh tế và kỹ thuật lớn. Những thực thể này thực chất thiết lập các điều kiện truy cập, xác định các quy tắc hiển thị và định hình chính các khả năng tham gia. Khi quyền lực như vậy tập trung trong tay một số ít người, nó có xu hướng trở nên mờ ám và né tránh sự giám sát của công chúng, làm tăng nguy cơ các hình thức phát triển méo mó dẫn đến sự phụ thuộc, loại trừ, thao túng và bất bình đẳng mới.

96. Trước sự tập trung quyền lực này trong thế giới kỹ thuật số, các tiêu chuẩn để phán xét và phân biệt trong tình huống mới này là các nguyên tắc cao quý của Học thuyết Xã hội: phẩm giá bất khả xâm phạm của con người, lợi ích chung, đích đến phổ quát của của cải, nguyên tắc phụ đới, tình liên đới và công bằng xã hội. Chúng yêu cầu chúng ta đánh giá xem liệu sức mạnh của cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và thuật toán có thực sự thúc đẩy sự tham gia và trách nhiệm, bảo vệ những người dễ bị tổn thương, đảm bảo tiếp cận công bằng với các cơ hội và vẫn hướng tới lợi ích chung hay không. Trên cơ sở này, giờ đây chúng ta có thể xem xét kỹ hơn trí tuệ nhân tạo là gì, những khả năng mà nó mở ra và những rủi ro mà nó mang lại.

Trí tuệ nhân tạo

97. Ở đây, tôi không có ý định đưa ra một cách tiếp cận toàn diện về trí tuệ nhân tạo, cũng như không đưa ra một cái nhìn tổng quan về các tài liệu liên quan rộng lớn, vì đã có những đóng góp có thẩm quyền, kể cả trong bối cảnh giáo hội. [123] Tôi chỉ giới hạn mình ở việc nhắc lại một vài yếu tố thiết yếu cho sự phân định đạo đức và xã hội nhằm bảo vệ tính ưu việt của con người, để đảm bảo rằng chính trí tuệ con người, với lương tâm và tự do của nó, sẽ luôn hướng dẫn những đổi mới kỹ thuật và xác định một cách có trách nhiệm việc sử dụng và giới hạn của chúng.

98. Cần phải mở đầu cuộc thảo luận này bằng hai cân nhắc. Thứ nhất, bất cứ tuyên bố nào liên quan đến AI đều có nguy cơ nhanh chóng trở nên lỗi thời, do tốc độ phát triển đáng kể của các hệ thống này. Thứ hai, tất cả chúng ta, kể cả những người thiết kế chúng, đều chỉ có hiểu biết hạn chế về cách thức hoạt động thực tế của chúng. Thật vậy, các hệ thống AI hiện nay được “nuôi dưỡng” nhiều hơn là “xây dựng”, bởi vì các nhà phát triển không trực tiếp thiết kế từng chi tiết, mà thay vào đó tạo ra một khuôn khổ trong đó trí tuệ “phát triển”. Kết quả là, các khía cạnh khoa học cơ bản — chẳng hạn như các biểu diễn nội bộ và các quy trình tính toán của các hệ thống này — hiện vẫn chưa được biết đến. Do đó, xuất hiện một nhu cầu cấp thiết về cam kết kép: một mặt, làm sâu sắc thêm nghiên cứu khoa học; mặt khác, thực hành sự phân định đạo đức và tâm linh.

99. Không thể đưa ra một định nghĩa duy nhất, toàn diện về AI. Tuy nhiên, điều có thể khẳng định là chúng ta phải tránh quan niệm sai lầm khi đánh đồng loại “trí tuệ” này với trí tuệ của con người. Các hệ thống này chỉ đơn thuần bắt chước một số chức năng nhất định của trí tuệ con người. Khi làm như vậy, chúng thường vượt trội hơn trí tuệ con người về tốc độ và khả năng tính toán, mang lại lợi ích hữu hình trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, sức mạnh này vẫn hoàn toàn gắn liền với việc xử lý dữ liệu. Cái gọi là trí tuệ nhân tạo không trải qua kinh nghiệm, không có thân thể, không cảm nhận được niềm vui hay nỗi đau, không trưởng thành qua các mối quan hệ và không hiểu từ sâu bên trong ý nghĩa của tình yêu, công việc, tình bạn hay trách nhiệm. Chúng cũng không có lương tâm đạo đức, vì chúng không phán xét thiện ác, không nắm bắt được ý nghĩa cuối cùng của các tình huống, hoặc chịu trách nhiệm về hậu quả. Chúng có thể bắt chước ngôn ngữ, hành vi và kỹ năng phân tích, hoặc thậm chí mô phỏng sự đồng cảm và thấu hiểu, nhưng chúng không hiểu những gì chúng tạo ra, bởi vì chúng thiếu góc nhìn về tình cảm, mối quan hệ và tâm linh mà con người cần để trưởng thành trong khôn ngoan. Ngay cả khi những công cụ này được mô tả là có khả năng “học hỏi”, cách thức học hỏi của chúng cũng khác với con người. Đó không phải là trải nghiệm của những người cho phép bản thân được định hình bởi cuộc sống và trưởng thành theo thời gian thông qua những lựa chọn, sai lầm, sự tha thứ và lòng trung thành. Thay vào đó, đó là một hình thức thích nghi thống kê dựa trên dữ liệu và phản hồi, có thể rất hiệu quả, nhưng không hàm ý sự trưởng thành nội tâm.

Một công cụ quý giá nhưng cần sự cảnh giác

100. Dựa trên những điều đã nói, chúng ta có thể hiểu rõ hơn tại sao AI có thể là một công cụ quý giá và đồng thời, tại sao nó đòi hỏi một cách tiếp cận thận trọng và có chừng mực. Trong những năm gần đây, việc sử dụng AI trong đời sống cá nhân đã mở rộng đáng kể, dẫn đến sự suy gẫm ngày càng tăng về cả những cơ hội mà nó mang lại và những rủi ro gắn liền với sự lan rộng nhanh chóng của nó. Trong sử dụng cá nhân, ba khía cạnh đặc biệt cần được xem xét cẩn thận: sự dễ dàng trong việc thu được kết quả, ấn tượng về tính khách quan và sự mô phỏng truyền thông của con người. Tốc độ và sự đơn giản trong việc truy cập thông tin, các phân tích phức tạp, nội dung truyền thông và hỗ trợ thực tiễn chắc chắn làm cho cuộc sống dễ dàng hơn. Tuy nhiên, chúng cũng có thể khuyến khích sự phụ thuộc quá mức và việc tìm kiếm các câu trả lời có sẵn, đồng thời làm suy yếu khả năng sáng tạo và phán đoán bản thân. Tính khách quan rõ ràng của các phản hồi và đề xuất mà các hệ thống này cung cấp có thể khiến chúng ta bỏ qua sự kiện này là chúng phản ánh các giả định văn hóa của những người đã thiết kế và huấn luyện chúng, với tất cả những điểm mạnh và hạn chế của chúng. Sự bắt chước nhân tạo truyền thông tích cực của con người - những lời khuyên, sự đồng cảm, tình bạn và thậm chí cả tình yêu - có thể hấp dẫn và đôi khi thực sự hữu ích. Tuy nhiên, đối với những người dùng thiếu tinh ý, điều này cũng có thể gây hiểu lầm, tạo ra ảo tưởng về một mối quan hệ với một người thật. Khi lời nói được giả tạo, chúng không xây dựng được mối quan hệ chân chính, mà chỉ là vẻ bề ngoài. Sự bắt chước giả tạo về sự quan tâm hoặc hỗ trợ có thể trở nên đặc biệt nguy hiểm khi nó xuất hiện trong những bối cảnh thiếu vắng các mối quan hệ thực sự và sự gắn kết tình cảm. Ở đây, mối nguy hiểm không nằm ở chỗ một người có thể tin rằng họ đang giao tiếp với một người khác, nhưng thực chất là họ có thể dần đánh mất chính mong muốn tạo dựng những mối liên hệ chân thành giữa người với người.

101. Mở rộng tầm nhìn về việc sử dụng AI trong xã hội, chúng ta thấy rằng nó hiện đang được tích hợp vào các quy trình ra quyết định trên nhiều lĩnh vực và ở nhiều bình diện: trong truyền thông, quản lý và kiểm soát. Lợi ích về hiệu quả và tiềm năng cải thiện một số dịch vụ là rõ ràng, nhưng việc áp dụng chúng một cách nhanh chóng và thiếu cân nhắc sẽ khiến chúng ta đối diện với một loạt rủi ro, bao gồm cả xu hướng bỏ qua tác động đến môi trường. Các hệ thống AI hiện nay đòi hỏi lượng năng lượng và nước khổng lồ, ảnh hưởng đáng kể đến lượng khí thải carbon dioxide, và gây áp lực lớn lên tài nguyên thiên nhiên. Khi độ phức tạp của chúng tăng lên, đặc biệt là trong trường hợp các mô hình ngôn ngữ lớn, nhu cầu về sức mạnh tính toán và dung lượng lưu trữ cũng tăng lên, đòi hỏi một mạng lưới máy móc, cáp, trung tâm dữ liệu và cơ sở hạ tầng tiêu tốn nhiều năng lượng. Vì lý do này, điều cần thiết là phải phát triển các giải pháp kỹ thuật bền vững hơn nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường và giúp bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta. [124]

Trách nhiệm, tính minh bạch và quản trị AI

102. Việc sử dụng AI không bao giờ chỉ là vấn đề kỹ thuật thuần túy: khi nó tham gia vào các quy trình ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, nó tác động đến quyền, cơ hội, địa vị và tự do. Các quyết định quan trọng và nhạy cảm — liên quan đến việc làm, tín dụng, tiếp cận các dịch vụ công cộng hoặc thậm chí là danh tiếng của một người — có nguy cơ bị giao hoàn toàn cho các hệ thống tự động không biết đến “lòng trắc ẩn, sự khoan dung, sự tha thứ, và trên hết là hy vọng rằng con người có thể thay đổi,” [125] và do đó có thể dẫn đến các hình thức loại trừ mới. Rõ ràng có những cách sử dụng có hại, chẳng hạn như thao túng thông tin hoặc vi phạm quyền riêng tư. Tuy nhiên, cũng có một mối nguy hiểm tinh vi hơn, bởi vì khi các hệ thống AI tự thể hiện mình là trung lập và khách quan, chúng cuối cùng lại phản ánh và củng cố các khuôn mẫu hoặc thành kiến về tư tưởng của những người thiết kế và phát triển chúng.

103. Thật vậy, việc giao phó cho một thuật toán trên thực tế quyền lựa chọn ai xứng đáng hay không, mà không ai chịu trách nhiệm về phán xét đó, là giao phó nhiệm vụ định nghĩa lại ranh giới của khả năng con người. Trong quá trình này, trách nhiệm chính trị cũng bị mất đi, không chỉ là sự đồng cảm đối với những người bị loại trừ, điều mà xét cho cùng cũng có thể được giả tạo. Việc loại trừ những người dễ bị tổn thương được che đậy bằng một lớp vỏ bọc trung lập và khách quan, khiến việc phản đối trở nên khó khăn. Bằng cách này, sự bất công không bị chú ý, và lòng thương xót, sự khoan dung và tha thứ — được hiểu không chỉ là vẻ bề ngoài mà là những hành động chính trị thực sự — dần dần biến mất khỏi tầm nhìn.

104. Từ đó dẫn đến một hệ quả đơn giản nhưng thuyết phục: chúng ta không thể coi AI là trung lập về mặt đạo đức. Trên thực tế, mọi công cụ kỹ thuật đều thể hiện các lựa chọn và ưu tiên thông qua những gì nó đo lường, bỏ qua và tối ưu hóa, và cách nó phân loại con người và tình huống. Nếu một hệ thống được thiết kế hoặc sử dụng theo cách đối xử với một số sinh mạng là kém giá trị hơn, hoặc loại trừ họ mà không có khả năng kháng cáo, thì nó không chỉ đơn thuần là một công cụ “để sử dụng tốt”, vì nó đã đưa ra các tiêu chuẩn mâu thuẫn với phẩm giá bất khả xâm phạm của con người. Vì lý do này, sự phân định đạo đức không thể chỉ giới hạn ở việc hỏi liệu chúng ta đang sử dụng một hệ thống cho mục đích tốt hay xấu; nó cũng phải khảo sát xem cách hệ thống đó được thiết kế và tầm nhìn nào về con người và xã hội được đặt để trong dữ liệu và mô hình hướng dẫn nó. [126]

105. Để AI tôn trọng phẩm giá con người và thực sự phục vụ lợi ích chung, trách nhiệm phải được xác định rõ ràng ở mọi giai đoạn: từ những người thiết kế và phát triển các hệ thống này đến những người sử dụng chúng và dựa vào chúng để đưa ra các quyết định cụ thể. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các quy trình nội bộ dẫn đến kết quả vẫn còn mơ hồ, khiến việc phân công trách nhiệm và sửa chữa lỗi trở nên khó khăn hơn. Đây là lúc trách nhiệm giải trình trở nên quan trọng: khả thể xác định ai phải “chịu trách nhiệm” về các quyết định, biện minh cho chúng, giám sát chúng và, khi cần thiết, thách thức chúng và khắc phục mọi thiệt hại gây ra. [127]

106. Kêu gọi sự thận trọng, đánh giá nghiêm ngặt và thậm chí, đôi khi, tốc độ chậm hơn trong việc áp dụng AI không có nghĩa là chống lại sự tiến bộ; thay vào đó, đó là một thao tác chăm sóc có trách nhiệm đối với gia đình nhân loại. Nhu cầu này càng trở nên cấp thiết hơn khi thường xuyên có sự mất cân bằng giữa tốc độ tăng trưởng kỹ thuật và sự phát triển chậm hơn của nhận thức, chuẩn mực, biện pháp bảo vệ và các định chế có khả năng quản lý các tác động của nó. Không chỉ cần viện dẫn đạo đức một cách trừu tượng; cần có các khuôn khổ pháp lý vững chắc, sự giám sát độc lập, người dùng được thông tin đầy đủ và một hệ thống chính trị không thoái thác trách nhiệm. Nếu không, sự thay đổi sẽ chỉ bị chi phối bởi tư duy kỹ trị và được trình bày như là cần thiết và không thể tránh khỏi, cuối cùng sẽ áp đặt các quy tắc do những người kiểm soát dữ liệu, cơ sở hạ tầng và sức mạnh tính toán đặt ra.

107. Chúng ta không thể chỉ hài lòng với việc kêu gọi phải đạo đức hóa máy móc — điều gọi là “sự xếp hàng” AI cho phù hợp với các giá trị con người — mà không có đủ can đảm để nhấn mạnh thêm một điều kiện nữa: khả năng thảo luận công khai về các khuôn khổ đạo đức liên quan và đưa chúng vào các tiêu chuẩn chung về công bằng xã hội. Nếu không, những người kiểm soát AI sẽ áp đặt tầm nhìn đạo đức của riêng họ, điều này sẽ trở thành cơ sở hạ tầng vô hình của các hệ thống này. Một AI có đạo đức hơn là chưa đủ nếu đạo đức đó được quyết định bởi một số ít người. Điều cần thiết là sự tham gia chính trị tích cực hơn, có khả năng làm chậm mọi thứ khi mọi thứ đang tăng tốc, và bảo vệ các cơ hội cho các cộng đồng vẫn có thể tham gia và đặt câu hỏi.

108. Trên thực tế, cũng như mọi sự thay đổi kỹ thuật lớn, AI có xu hướng khuếch đại quyền lực của những người đã sở hữu các nguồn lực kinh tế, chuyên môn và quyền truy cập dữ liệu. Xét về lợi ích chung và mục đích phổ quát của hàng hóa, điều này làm dấy lên những lo ngại nghiêm trọng, vì các nhóm nhỏ nhưng có ảnh hưởng lớn có thể định hình các mô hình thông tin và tiêu dùng, ảnh hưởng đến các quy trình dân chủ và điều khiển động lực kinh tế theo hướng có lợi cho riêng họ, làm suy yếu công bằng xã hội và tình liên đới giữa các dân tộc. Vì lý do này, điều cần thiết là việc sử dụng AI, đặc biệt khi nó liên quan đến hàng hóa công cộng và các quyền cơ bản, phải được hướng dẫn bởi các tiêu chuẩn rõ ràng và sự giám sát hữu hiệu, dựa trên sự tham gia và tính phụ đới. Cộng đồng và các tổ chức trung gian không được bị giảm xuống thành những người thụ động tiếp nhận các quyết định được đưa ra ở nơi khác; họ phải có khả năng đóng góp vào việc phân định và giám sát. Hơn nữa, quyền sở hữu dữ liệu không thể chỉ nằm trong tay tư nhân mà phải được điều chỉnh một cách thích hợp. Dữ liệu là sản phẩm của nhiều người đóng góp và không nên được coi là thứ để bán đi hoặc giao phó cho một số ít người được chọn. Cần phải tư duy sáng tạo để quản lý dữ liệu như một tài sản chung hoặc được chia sẻ, với tinh thần tham gia, như Thánh Gioan Phaolô II đã đề xuất liên quan đến tài sản tập thể. [128]

109. Các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội cung cấp một khuôn khổ để hiểu thực tại mới này. Trong một thế giới nơi dữ liệu, tài nguyên tính toán và ảnh hưởng điều lệ vẫn nằm trong tay một số ít người, việc nói về lợi ích chung có nghĩa là vạch trần hình thức bất đối xứng về nhận thức, kinh tế và chính trị mới này và nêu danh các độc quyền mới của AI. Nói về đích đến phổ quát của hàng hóa có nghĩa là tìm cách đảm bảo quyền tiếp cận phổ quát đối với cả kỹ thuật và giáo dục cần thiết để sử dụng chúng. Nói về tính phụ đới đòi hỏi phải bảo vệ khả năng lựa chọn và điều chỉnh của cộng đồng, thay vì chỉ giới hạn vai trò của họ ở việc giám sát sau khi các tiêu chuẩn đã được thiết lập ở nơi khác. Nói về nguyên tắc liên đới buộc chúng ta phải nhận ra những người lao động thầm lặng, thường bị bóc lột, những người duy trì các hệ thống thuật toán. Nói về công lý đòi hỏi phải đặt câu hỏi về sự phân bổ quyền lực toàn cầu quyết định ai thực sự có thể đào tạo các mô hình này và ai chỉ đơn thuần là đối tượng bị chi phối bởi chúng. Tương tự, điều đó có nghĩa là thừa nhận rằng công bằng xã hội không chỉ là mục tiêu cần được bảo vệ sau khi kỹ thuật được triển khai, mà còn là điều kiện phải định hình thiết kế của chúng ngay từ đầu.

110. Cuối cùng, tôi muốn sử dụng cụm từ “giải giáp”, một cụm từ rất gần gũi với tôi. Giải giáp AI có nghĩa là giải phóng nó khỏi tư duy cạnh tranh “có vũ trang”, điều mà ngày nay không chỉ giới hạn trong bối cảnh quân sự, mà còn là một hiện tượng kinh tế và nhận thức. Điều này kéo theo một cuộc chạy đua để có được các thuật toán ngày càng mạnh mẽ hơn và các tập dữ liệu lớn hơn, được thúc đẩy bởi mong muốn đảm bảo sự thống trị về địa chính trị hoặc thương mại. Giải trừ vũ khí có nghĩa là bác bỏ giả định rằng sức mạnh kỹ thuật tự động mang lại quyền cai trị. Giải trừ vũ khí không có nghĩa là từ chối kỹ thuật, mà là ngăn chặn nó thống trị nhân loại. Nó có nghĩa là giải phóng kỹ thuật khỏi sự kiểm soát độc quyền và mở nó ra cho thảo luận và tranh luận, do đó làm cho nó thân thiện với con người và khôi phục nó vào sự đa dạng của các nền văn hóa và lối sống của nhân loại. Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay không chỉ là đạo đức hay kỹ thuật. Nó mang tính sinh thái theo nghĩa sâu sắc nhất, bởi vì nó liên quan đến một chiều kích mới của ngôi nhà chung của chúng ta. Trí tuệ nhân tạo đã là một môi trường mà chúng ta đang sống trong đó, cũng như một lực lượng mà chúng ta phải tương tác. Vì lý do này, chỉ điều chỉnh nó thôi là chưa đủ; nó phải được giải trừ vũ khí, trở nên thân thiện và dễ tiếp cận.

111. Tôi muốn gửi lời kêu gọi đặc biệt đến những người phát triển trí tuệ nhân tạo. Theo một nghĩa nào đó, đổi mới kỹ thuật có thể đại diện cho sự tham gia của con người vào hành động sáng tạo thần linh. Do đó, các nhà phát triển mang một trách nhiệm đạo đức và tâm linh đặc biệt, bởi vì mỗi lựa chọn thiết kế đều phản ánh một tầm nhìn về nhân loại. Cũng như người sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật hay văn học phải cân nhắc những giá trị mà nó truyền tải, các nhà phát triển cũng được kêu gọi phải lồng ghép các giá trị vào dự án của mình một cách nghiêm túc: với sự minh bạch, trách nhiệm đối với cộng đồng bị ảnh hưởng và sự chú ý cẩn thận để đảm bảo rằng những gì đang được vun đắp là một điều tốt đẹp thực sự.

Những gì không được phép mất đi

11 2. Sau khi xem xét các vấn đề về trách nhiệm và quản trị trí tuệ nhân tạo, chúng ta phải quay lại câu hỏi trọng tâm: bảo vệ nhân tính của chúng ta có nghĩa là gì? Rủi ro không chỉ nằm ở việc lạm dụng một số kỹ thuật nào đó. Nghiêm trọng hơn, mô hình kỹ trị phổ biến mà chúng ta đang chìm đắm, và được khuếch đại bởi cuộc cách mạng kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo, đe dọa bình thường hóa một tầm nhìn phản nhân loại. Trong tầm nhìn đó, sự trọn vẹn của cuộc sống được đánh đồng với việc sở hữu nhiều hơn, giảm thiểu điểm yếu, loại bỏ sự không chắc chắn và thực hiện quyền kiểm soát tuyệt đối. Khi hiệu năng trở thành thước đo giá trị tối thượng, con người bị cám dỗ coi mình như một dự án cần được tối ưu hóa hơn là những con người được kêu gọi đến các mối quan hệ và sự hiêp thông.

113. Trên thực tế, việc nâng bất cứ khía cạnh nào của hiện sinh con người lên mức tuyệt đối luôn là một sai lầm. Thật vậy, sự hỗn loạn không chỉ phát sinh từ sự khan hiếm; ngay cả sự tăng trưởng không kiểm soát cũng có thể dẫn đến sự nghèo khó. Trong một hệ sinh thái, sự cân bằng bị phá vỡ khi một loài mở rộng bằng cách chiếm đoạt của các loài khác; trong cuộc sống con người, điều tương tự xảy ra khi một năng lực nào đó tự cho mình là thước đo của mọi thứ. Do đó, trí thông minh, khi được tuyệt đối hóa, sẽ che khuất các khía cạnh thiết yếu khác của cuộc sống, chẳng hạn như tình cảm, ý chí, sự cam kết và các mối quan hệ. Tương tự, sức mạnh kỹ thuật, nếu không được cân bằng, không làm cho chúng ta có khả năng hơn; nó làm cho chúng ta bị cô lập hơn và dễ bị thống trị và loại trừ hơn. Điểm quan trọng này không đối lập với trí thông minh, mà là lời nhắc nhở rằng khi trí thông minh trở nên tự quy chiếu, mục đích thực sự của nó là phục vụ cuộc sống và con người sẽ bị mất đi.

114. Chất lượng của một nền văn minh không được đo bằng sức mạnh của các phương tiện của nó, mà bằng sự quan tâm mà nó có thể mang lại, bằng khả năng nhận ra người khác như một khuôn mặt chứ không chỉ là một chức năng. Khả năng quan tâm đến nhau là một khía cạnh cơ bản của nhân tính chúng ta, một khía cạnh được học hỏi và làm chủ thông qua kinh nghiệm sống. Đọc truyện cho trẻ em, bầu bạn với người già và sắp xếp nhà cửa sao cho ấm cúng là những cử chỉ đơn giản thường bắt nguồn từ cuộc sống gia đình. Chúng dạy chúng ta coi trọng sự quan tâm ở bình diện xã hội và rèn luyện chúng ta nhận ra người khác là những người đáng được quan tâm. Kỹ thuật cũng có thể hỗ trợ sự quan tâm lẫn nhau giữa con người, ví dụ, bằng cách cung cấp các công cụ giúp chúng ta dự đoán và sắp xếp mọi việc, mà không làm suy yếu tự do và khả năng phán đoán của con người. Xét cho cùng, con người là chủ thể của các mối quan hệ và chịu trách nhiệm về các quyết định của chính mình.

Những câu chuyện ngầm: chủ nghĩa siêu nhân và chủ nghĩa hậu nhân

115. Trong nỗ lực làm sáng tỏ những giả định văn hóa đi kèm với cuộc cách mạng kỹ thuật số đang diễn ra, tôi muốn chuyển sự chú ý của chúng ta đến một số dòng tư tưởng diễn giải sự tiến bộ như là vượt qua thân phận con người, và thường được nhóm lại dưới nhãn hiệu chủ nghĩa siêu nhân [transhumanism] và chủ nghĩa hậu nhân [posthumanism]. Những quan điểm này tạo thành bối cảnh tư tưởng hiện diện trong một số trung tâm quyền lực kỹ thuật và chiếm lĩnh trí tưởng tượng tập thể dưới dạng đơn giản hóa, đặc biệt là trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Chúng có xu hướng thúc đẩy sự nhiệt tình đối với các kỹ thuật mới thông qua một tầm nhìn tương lai về một “con người được tăng cường” hoặc “con người lai máy móc”.

116. Chủ nghĩa siêu nhân và chủ nghĩa hậu nhân bao gồm một loạt các dòng tư tưởng và cảm nhận, khiến việc định nghĩa chúng một cách duy nhất, rõ ràng trở nên khó khăn. Chúng có thể được ví như một quần đảo gồm những “hòn đảo” khái niệm, riêng biệt nhưng được kết nối bởi một “biển” chung của các giả định, cụ thể là vai trò trung tâm của kỹ thuật và khát vọng vượt qua giới hạn của thân phận con người. Nói chung, chủ nghĩa siêu nhân hình dung việc nâng cao con người thông qua các kỹ thuật— chẳng hạn như y sinh học, kỹ thuật cơ thể, thiết bị và thuật toán — với mục đích tăng hiệu suất và khả năng. Chủ nghĩa hậu nhân, đặc biệt là ở các hình thức cực đoan hơn, còn đi xa hơn: nó thách thức chủ nghĩa lấy con người làm trung tâm và hình dung sự lai ghép giữa con người, máy móc và môi trường, thậm chí còn dự đoán một ngưỡng nơi nhân loại vượt qua chính mình trong một giai đoạn tiến hóa mới. Ngay cả khi những ý tưởng như vậy vẫn còn mang tính suy đoán, chúng vẫn có được sự liên quan bằng cách thay đổi trí tưởng tượng tập thể và do đó ảnh hưởng đến các lựa chọn xã hội, kinh tế và chính trị. [129]

117. Từ quan điểm của Học thuyết Xã hội của Giáo hội, vấn đề cốt lõi không phải là việc sử dụng kỹ thuật mà là tầm nhìn nằm dưới nó. Nếu con người được coi là thứ cần được hoàn thiện hoặc vượt qua, thì sẽ dễ dàng chấp nhận rằng một số cuộc sống ít hữu ích hơn, ít đáng mong muốn hơn hoặc ít xứng đáng hơn. Nhân danh sự tiến bộ, “những hy sinh cần thiết” có thể bắt đầu được biện minh, đặt gánh nặng lên những người dễ bị tổn thương nhất trong quá trình theo đuổi sự tối ưu hóa được cho là của loài người. Về vấn đề này, lời cảnh báo nói trên của Thánh Phaolô VI vẫn giữ nguyên tầm nhìn xa: quả thực, những tiến bộ khoa học và kỹ thuật, khi tách rời khỏi sự tiến bộ về đạo đức và xã hội, cuối cùng sẽ quay lại chống lại nhân loại. [130] Vì lý do này, cần phải có sự phân biệt rõ ràng. Tích hợp kỹ thuậtbvào một tầm nhìn lấy con người làm trung tâm và mang tính quan hệ là một chuyện; chuyện hoàn toàn khác là việc bị dẫn dắt bởi một quan điểm coi thường giới hạn của con người và hứa hẹn một hình thức “cứu rỗi” thuần túy kỹ thuật.

Giới hạn, trái tim và sự vĩ đại của con người

118. Mối quan hệ của chúng ta với cuộc sống dường như đang trong khủng hoảng ngày nay. Mọi thứ xuất hiện như một “giới hạn” — sự bất lực, bệnh tật, tuổi già, đau khổ, dễ bị tổn thương — thường được xem chủ yếu là một khiếm khuyết cần được sửa chữa, hơn là một thực tại qua đó nhân tính của chúng ta trưởng thành và mở lòng đón nhận các mối quan hệ. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng nhân loại phát triển mạnh mẽ không phải bất chấp những hạn chế, mà thường là thông qua chúng. Ánh sáng của đức tin mang đến một góc nhìn về thực tại giúp chúng ta nhận ra điều mà chúng ta gọi là “tính ngẫu nhiên” của những sự vật trên thế giới này. Mặc dù việc nỗ lực làm giảm bớt nỗi đau khổ vốn là đặc điểm của cuộc sống con người là điều đúng đắn, nhưng cũng thật khôn ngoan khi thừa nhận sự hữu hạn cơ bản của chúng ta, biết rằng “kinh nghiệm tôn giáo, và đặc biệt là đức tin Kitô giáo, đề xuất rằng chúng ta sống, không đơn giản hóa quá mức, sự mâu thuẫn này giữa sự vĩ đại và giới hạn của con người, diễn giải nó dưới ánh sáng mối quan hệ nguyên thủy và cơ bản của chúng ta với Chúa.” [131]

119. Chính trong những giới hạn của chúng ta mà những điều sau đây tìm thấy chỗ đứng: lòng thương xót, cũng như sự quan tâm chân thành đến nhu cầu của người khác; lòng quảng đại có thể xuất hiện ngay cả giữa bóng tối và thất bại; kinh nghiệm tâm linh và sự thờ phượng Chúa. Chúng ta thấy điều này ở nhiều khoảnh khắc khi giới hạn của chúng ta trở nên hữu hình: khi chúng ta đối diện với sự từ chối, khi chúng ta chịu đựng bệnh tật hoặc mất mát người thân yêu, khi chúng ta gặp phải điểm yếu hoặc thất bại của chính mình. Một cách kỳ diệu, chính trong những khoảnh khắc như vậy mà chúng ta có thể khám phá ra một khôn ngoan mới, cảm nhận một cách hữu hình sự gần gũi của người khác và gặp gỡ sự hiện diện của Chúa.

120. Ngay cả khi những giới hạn được trải nghiệm như nỗi đau khổ nội tâm, sự khôn ngoan của con người dạy chúng ta không nên phủ nhận hoặc kìm nén nó, mà là tích hợp nó. Loại bỏ hoàn toàn đau khổ cuối cùng cũng có nghĩa là dập tắt tình yêu và khát vọng. Những người yêu thương và khao khát không thể tránh khỏi việc trải qua thử thách và đau khổ; và qua nhiều năm, chúng ta mang trong mình những bài học để lại dấu ấn như những vết sẹo, những ký ức về một hành trình được định hình bởi tự do và thất bại, ước mơ và thất vọng. Chỉ nhờ sự tương tác của những yếu tố này mà những điều kỳ diệu của tâm hồn mới xảy ra trong chúng ta, cho phép chúng ta cảm nhận được sự phong phú của nhân tính. [132] Từ bỏ cuộc phiêu lưu này, vừa bi thảm vừa huy hoàng, nhân danh sự siêu việt được cho là vượt qua mọi giới hạn, có thể mang nhiều ý nghĩa, nhưng nó sẽ không còn là con người nữa.

121. Sự tha hóa đạo đức của những giới hạn của chúng ta với tư cách là những sinh vật được tạo ra — cụ thể là cái ác rõ ràng khuấy động trái tim con người — hủy hoại xã hội và cuộc sống, đôi khi đạt đến những hình thức vô nhân đạo cực đoan. Tuy nhiên, ngay cả những biểu thức đau đớn này về những giới hạn của chúng ta vẫn mở ra những cơ hội cho điều tốt đẹp. Ngay cả khi con người tự phi nhân hóa bản thân và gây ra bi kịch, một ánh sáng nhỏ vẫn tiếp tục tỏa sáng trong nhân loại, một ánh sáng có thể được thắp lại, với ân sủng của Chúa, trên con đường hoán cải và hòa giải. Như Viktor Frankl đã nhận xét đúng đắn, trong những khoảnh khắc kinh hoàng, “chúng ta đã biết con người thực sự là gì. Sau tất cả, con người là sinh vật đã phát minh ra các phòng hơi ngạt ở Auschwitz; tuy nhiên, anh ta cũng là sinh vật đã bước vào những phòng hơi ngạt đó một cách thẳng đứng, với Kinh Lạy Cha hoặc Shema Yisrael trên môi.” [133]

122. Sự hữu hạn, khi được chấp nhận một cách chân thành, không làm giảm giá trị của chúng ta mà mở ra cho chúng ta khả năng nhận ra khuôn mặt của Chúa và những người khác. Thật vậy, chính vì chúng ta trải nghiệm những giới hạn — sự dễ bị tổn thương, đau khổ và thất bại — chúng ta có thể nhận ra phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi người, cả của chính chúng ta và của người khác. Trong cùng trải nghiệm này, chúng ta vẫn có khả năng trực giác về một tình huynh đệ lớn hơn chính mình và nhận thấy sự bất công như một điều đáng xấu hổ. Văn hóa và nghệ thuật đích thực bảo tồn tia lửa này, chống lại sự bình thường hóa cái ác. Vì lý do này, một số tác phẩm đã mang ý nghĩa gần như tiên tri: Bản giao hưởng số 9 của Beethoven có thể được xem như một khát vọng về sự thống nhất; Guernica như một sự tố cáo sự phi nhân hóa; Danh sách Schindler như một lời kêu gọi không được lãng quên quá khứ.

123. Lịch sử không chỉ xuất hiện như một ghi chép về bạo lực của con người, mà còn như bằng chứng cho thấy nhân loại có khả năng tạo ra các thể chế bảo vệ cuộc sống chung của chúng ta. Trong hai thế kỷ qua, điều này có thể được thấy trong một số thành tựu mang tính biểu tượng: việc thành lập Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (1863), với tính trung lập trong hoạt động đảm bảo sự chăm sóc nhân ái cho tất cả mọi người; quá trình lâu dài dẫn đến việc bãi bỏ chế độ nô lệ, không chỉ đại diện cho một sự thay đổi về mặt pháp lý mà còn là một sự chuyển đổi về lương tâm; việc thành lập Liên Hợp Quốc (1945) và Tuyên ngôn Nhân quyền phổ quát (1948), trong đó nêu rõ ngôn ngữ chung để khẳng định, ít nhất là như một lý tưởng chung, tính phổ quát của phẩm giá con người; và Công ước về người tị nạn năm 1951, công nhận nghĩa vụ bảo vệ những người chạy trốn khỏi sự đàn áp và nguy hiểm. Trong mỗi trường hợp này, khát vọng về điều tốt đẹp đã được thể hiện cụ thể trong các bối cảnh công cộng — luật pháp, thể chế và thực tiễn — có khả năng hạn chế việc lạm dụng quyền lực và bảo vệ những người dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, không có sự phát triển nào trong số này xuất hiện mà không gặp phải sự phản kháng, lợi ích hẹp hòi hoặc sự trì trệ về văn hóa. Tiến bộ về mặt đạo đức hầu như luôn diễn ra thông qua một hành trình dài và đầy thách thức, thường được đánh dấu bằng những trở ngại. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến các tiến trình hòa bình bị đình trệ hoặc việc thực hiện chậm chạp các cam kết về môi trường. Chính sự mong manh của những thành tựu này làm nổi bật trách nhiệm quý giá của những người khởi xướng và duy trì chúng.

124. Một số sự kiện cho thấy rõ rằng lịch sử cũng có thể thay đổi khi các cá nhân thực sự coi trọng phẩm giá của mọi người: phong trào dân quyền ở Hoa Kỳ, gắn liền với lời chứng của Martin Luther King Jr., hoặc sự chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi sau khi Nelson Mandela được thả tự do và quyết định không đầu hàng tương lai trước lòng thù hận. Trong những bối cảnh khác nhau, nhiều người phụ nữ dũng cảm và hào phóng cũng đã nổi bật, bao gồm Thánh Laura Montoya, Thánh Teresa thành Calcutta, Dorothy Day, Marie Skłodowska-Curie, Maria Montessori, Elisabeth Elliot, Wangari Maathai, Benazir Bhutto và vô số người khác từ mọi châu lục, những người có sự cống hiến đã góp phần làm cho lịch sử trở nên nhân bản hơn.

125. Bên cạnh những dấu hiệu công khai này, còn có một câu chuyện kín đáo nhưng mang tính quyết định hơn. Chúng ta thấy điều đó trong các cộng đồng tôn giáo chọn phục vụ ở những nơi nghèo khó và nguy hiểm. Chúng ta cũng thấy điều đó trong các vị tử đạo vì tình huynh đệ và công lý, như Thánh Maximilian Mary Kolbe, Thánh Oscar Romero và Chân phước Enrique Angelelli; và trong những chứng nhân đã thể hiện niềm hy vọng của Tin Mừng cũng như phẩm giá con người giữa những điều kiện khắc nghiệt, thường là vô nhân đạo, như Đấng Đáng Kính Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Trên hết, điều đó thể hiện rõ nhất ở những “người tử đạo trong đời sống thường nhật” – những người chăm sóc, giáo dục, đồng hành và an ủi mà không phô trương, như cha mẹ, y tá, bác sĩ, tình nguyện viên và những người ở bên cạnh người già hoặc người bị xã hội ruồng bỏ. Chứng ngôn của họ cho thấy rằng lòng tốt không tự nhiên mà có, mà cần sự kiên trì, ghi nhớ và sự hoán cải nội tâm cần thiết để bắt đầu lại, ngay cả sau thất bại.

126. Chính sự đan xen giữa các định chế công bằng, những nhân chứng đáng tin cậy và lòng trung thành hằng ngày đã duy trì hy vọng và cung cấp hướng đi rõ ràng cho sự tiến bộ kỹ thuật mà không để cho trái tim sa sút. Vì lý do này, nhân tính – với tất cả sự vĩ đại và tổn thương của nó – không bao giờ được thay thế hoặc vượt qua. Chúng ta có thể đón nhận sự tiến bộ kỹ thuật giúp giảm bớt đau khổ và mở ra những khả năng mới, miễn là chúng ta không từ bỏ bản chất cốt lõi của nhân loại, đó là khả năng thiết lập mối quan hệ và tình yêu thương. Điều này dẫn đến một câu hỏi quan trọng: nếu một thể “hơn cả con người” đích thực hiện hữu, thì nó được tìm thấy ở đâu? Đức tin Kitô giáo trả lời câu hỏi đó bằng cách chỉ ra một sự viên mãn không phát sinh từ sự thần thánh hóa kỹ thuật, mà thông qua ân sủng của Chúa nhận được trong Chúa Kitô.

“Hơn cả cả con người” đích thực: ân sủng và chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo

127. Cụm từ “hơn cả con người” không phải là lĩnh vực độc quyền của lời hứa kỹ thuật. Trong nhiều thế kỷ, truyền thống Kitô giáo đã khẳng định rằng con người không bị giới hạn bởi ranh giới của bản chất riêng mình; trái lại, họ được kêu gọi vượt lên chính mình, không phải bằng cách trốn tránh thực tại hay coi thường những hạn chế của mình, mà thông qua sự viên mãn trong tình yêu. Đức tin nhận ra sự cởi mở hướng tới “vượt lên trên”, bắt nguồn từ một ơn ban của Thiên Chúa. Sự biến đổi này là một công việc của Chúa Thánh Thần. Như Thánh Tôma Aquinô đã dạy, quá trình nâng cao và biến đổi này “vượt qua mọi khả năng của bản chất được tạo dựng”, [134] vì một sự khác biệt vô hạn ngăn cách bản chất hữu hạn của chúng ta với sự sống của Thiên Chúa. [135] Tuy nhiên, vẫn có thể bước vào trái tim của sự sống vô tận đó, ngay cả khi chúng ta hành trình qua những giới hạn của thế giới này. Đấng làm cho sự chuyển đổi này trở nên khả hữu chỉ có thể là Đấng Vĩnh Hằng, Đấng ban chính mình. Thật vậy, chính Thiên Chúa là Đấng vượt qua sự bất cân xứng “vô hạn”. [136] Trong Người, sự tái tạo con người diễn ra. “Nếu ai ở trong Đấng Ki-tô, người ấy là một tạo vật mới; mọi sự cũ đều đã qua đi, này, mọi sự đều trở nên mới” (2 Cô-rinh-tô 5:17).

128. Khi chúng ta đón nhận khả năng vượt lên chính mình nhờ ân sủng của Chúa, chúng ta không phủ nhận bản chất của mình, cũng không trở nên kém nhân tính hơn. Ngược lại, như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã giải thích, “Chúng ta trở nên trọn vẹn là con người khi chúng ta trở nên hơn cả con người, khi chúng ta để Chúa đưa chúng ta vượt lên chính mình để đạt được chân lý trọn vẹn nhất của hữu thể chúng ta.” [137] Đây chính là sự khác biệt căn bản so với những giấc mơ Prometheus: điều cứu rỗi nhân loại không phải là sự tự túc được nâng cao, mà là một mối quan hệ giải phóng, một sự hiệp thông biến đổi. Trong ánh sáng này, một kỹ thuật chỉ đơn thuần phân loại và tối ưu hóa những gì đã hiện hữu, dù vô tình, cũng có thể trở thành trở ngại cho sự thay đổi và sự phát triển. Đối với một thuật toán, lỗi là một khiếm khuyết cần được sửa chữa; tuy nhiên, đối với một người, lỗi có thể là chất xúc tác cho sự thay đổi sâu sắc. Tương lai của một người không thể tính toán được, mà phụ thuộc vào sự tự do của người đó — được nâng cao bởi ân sủng vô bờ bến của Chúa — và vào các mối quan hệ được vun đắp.

Hai thành phố và hai tình yêu

129. Chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo không bác bỏ khoa học hay kỹ thuật, mà đón nhận chúng với lòng biết ơn và chủ nghĩa thực tiễn, và đặt chúng trong một sứ mệnh cao cả hơn. Trí tuệ sáng tạo của nhân loại là một thiên phú có thể làm giảm bớt đau khổ và mở ra những khả năng mới, nhưng nó phải được hướng tới lợi ích chung, công lý, sự chăm sóc những người dễ bị tổn thương và tạo thế. Theo nghĩa này, sự lựa chọn thực sự không phải là giữa sự nhiệt tình và nỗi sợ hãi, mà là giữa hai con đường phát triển: một sự tiến bộ phục vụ các cá nhân và dân tộc, hoặc một sự tiến bộ khiến họ phải phục tùng tư duy quyền lực. Cuối cùng, câu hỏi then chốt vẫn là câu hỏi do Thánh Gioan Phaolô II đặt ra: liệu trí tuệ nhân tạo có “làm cho cuộc sống con người trên trái đất ‘nhân bản hơn’ trong mọi khía cạnh của cuộc sống đó không? Liệu nó có làm cho cuộc sống xứng đáng với con người hơn không?” [138] Nếu câu trả lời là có, thì chúng ta có thể nhận ra đó là một cơ hội để đón nhận một cách có trách nhiệm, trên con đường tái thiết kiên nhẫn, cùng nhau, tương tự như việc xây dựng lại Giêrusalem được kể trong Sách Nơ-khe-mi-a. Tuy nhiên, nếu quyền lực gia tăng trong khi trái tim héo mòn và các mối liên kết giữa con người rạn nứt, thì chúng ta phải đối diện với một hình thức Baben mới — một công trình vĩ đại, nhưng về cơ bản là phi nhân tính.

130. Việc đặt câu hỏi về con đường tiến bộ thay thế này và cách chúng ta diễn giải và sống theo nó cuối cùng là vấn đề xem xét chính trái tim của chúng ta. Cách chúng ta hiểu và định hình các mối quan hệ, công việc và định chế, trên thực tế cho thấy các giá trị cơ bản của chúng ta. Cuối cùng, tất cả đều bắt nguồn từ những gì chúng ta trân trọng nhất. Đó là một tình yêu hướng dẫn chúng ta về những gì chúng ta thực sự trân quý, cả với tư cách cá nhân và xã hội, và định hướng cuộc sống và hành động của chúng ta. Thánh Augustinô đã mô tả lịch sử loài người như một cuộc đấu tranh giữa hai tình yêu, tạo ra hai cách sống trên thế giới và sống cùng nhau — hay hai “thành phố”, như người ta vẫn nói: một mặt, tình yêu đối với Chúa và tha nhân; mặt khác, đó là tình yêu bản thân độc quyền. “Hai tình yêu đã xây dựng nên hai thành phố: thành phố trần gian, tình yêu bản thân đến mức khinh miệt Thiên Chúa; thành phố thiên đường, tình yêu Thiên Chúa đến mức khinh miệt bản thân.” [139] Cũng như trong suốt lịch sử, hai tình yêu này tiếp tục tranh giành quyền thống trị trong trái tim chúng ta ngày nay. Thời đại AI cũng không ngoại lệ: việc xây dựng tháp Baben hay việc xây dựng lại Giêrusalem bắt đầu từ bên trong mỗi chúng ta.

Kỳ tới: Chương bốn