CHƯƠNG HAI: NỀN TẢNG VÀ NGUYÊN TẮC CỦA HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI

46. Học thuyết Xã hội của Giáo hội là một thực tại sống động, đối thoại với lịch sử, văn hóa và khoa học. Đồng thời, nó chứa đựng một tập hợp các chân lý bất biến. Vì lý do này, nó có thể được coi là một hình thức khôn ngoan có khả năng hướng dẫn đời sống bản thân và xã hội của các tín hữu ngay cả ngày nay. Trong chương thứ hai này, tôi muốn tập trung vào một số nền tảng và nguyên tắc của Học thuyết Xã hội của Giáo hội sẽ giúp chúng ta hiểu được “những điều mới” của thời đại chúng ta, đặc biệt là xét đến phẩm giá vốn có của con người. Để bảo vệ con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo, tôi tin rằng ngày nay chúng ta phải một lần nữa suy gẫm về lợi ích chung, mục đích phổ quát của cải, nguyên tắc phụ đới, tình liên đới và công bằng xã hội. Tôi tin chắc rằng mối quan hệ hài hòa giữa các nguyên tắc này đòi hỏi chúng phải được xem xét một cách tổng thể, để làm rõ mối liên hệ và sự bổ sung lẫn nhau của chúng.

47. Khi trình bày những suy tư này, trước hết và trên hết, tôi hy vọng giúp các tín hữu giáo dân và những người thiện chí tái khám phá bổn phận thực hiện các nguyên tắc nêu trên trong đời sống hằng ngày, các mối quan hệ gia đình, công việc và sự tham gia vào xã hội. Như vậy, họ sẽ được truyền cảm hứng bởi mục đích hiện thân tình yêu của Chúa trong những sự kiện cụ thể của cuộc sống. Đồng thời, tôi muốn khuyến khích các cơ sở giáo dục và các trường đại học tạo động lực mới cho những nguyên tắc này, và áp dụng chúng một cách phù hợp và hữu hiệu trong việc giải quyết cuộc cách mạng kỹ thuật số. Bằng cách này, việc nghiên cứu thần học và triết học sẽ có thể tiếp tục khám phá và hỗ trợ hành trình mục vụ của Giáo hội, và góp phần vào nhiệm vụ của Huấn quyền trong việc soi sáng lương tâm của các tín hữu và hướng dẫn nỗ lực của họ để làm cho đời sống xã hội chúng ta công bằng và huynh đệ hơn.

Các Nền tảng của Học thuyết Xã hội

Con người: hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi

48. Học thuyết Xã hội của Giáo hội đưa chúng ta đến tận cốt lõi của đức tin: mầu nhiệm Thiên Chúa hằng sống, được mặc khải trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng, với tư cách là một sự hiệp thông các Ngôi vị — Cha, Con và Thánh Thần — chính là tình yêu trong mối quan hệ, được phát biểu trong sự hiến dâng lẫn nhau và trong việc chia sẻ với thế giới. [51] Như Công đồng đã nhắc lại, con người được mời gọi bước vào sự hiệp thông với Thiên Chúa và “chỉ có thể khám phá trọn vẹn bản ngã đích thực của mình trong sự hiến dâng chân thành”. [52] Thật vậy, ơn gọi sâu sắc nhất của họ là bước vào động lực của tình yêu Ba Ngôi được đón nhận và chia sẻ.

49. Nếu mầu nhiệm Thiên Chúa là Tình Yêu là nguồn gốc của Học thuyết Xã hội, thì chúng ta thấy biểu thức cụ thể nhất của nó nơi dung mạo của Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể. Bằng cách trở thành người, Con Thiên Chúa bước vào lịch sử của chúng ta và mang lấy xác thịt con người, mang theo tình yêu kết hợp Người với Cha và Thánh Thần. Trong Người, “mầu nhiệm của nhân loại thực sự trở nên rõ ràng” [53] bởi vì nhân tính của Người hoàn toàn tự do, cởi mở với người khác, có khả năng xây dựng những mối quan hệ lành mạnh và tốt đẹp và tận tâm hiến dâng trọn vẹn bản thân. Những người tin vào Người tham gia vào công việc đổi mới vĩ đại bắt đầu từ mầu nhiệm khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người, và họ cộng tác trong việc xây dựng Vương quốc Thiên Chúa, học cách đón nhận tất cả mọi người như anh chị em, con cái của một Cha. Bằng cách này, cả việc rao giảng Tin Mừng và đời sống Kitô giáo, được hướng dẫn bởi hoạt động của Chúa Thánh Thần, đều hướng đến việc mang lại những hệ quả xã hội trên thế giới. [54]

50. Cốt lõi của sự hiểu biết Kitô giáo về con người nằm ở sự khẳng định vĩ đại của Kinh Thánh rằng nam nữ được tạo dựng theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi (xem Sáng thế 1:26-27). Được tạo dựng cho mối quan hệ, mỗi con người đều được Thiên Chúa lên kế hoạch và muốn để hiệp thông với Người, với người khác và với tạo thế. Phẩm giá con người không phụ thuộc vào khả năng, của cải hay địa vị trong cuộc sống của một người, cũng không phụ thuộc vào những lựa chọn đúng hay sai đã thực hiện; thay vào đó, nó là một ơn ban có trước và vượt lên trên mỗi người, được Thiên Chúa ban tặng như một biểu thức của tình yêu bất diệt của Người. Vì lý do này, con người luôn luôn là “con đường cho Giáo hội” [55] và là trái tim của mọi con đường đích thực của sự phát triển toàn diện con người. [56]

Phẩm giá bình đẳng của tất cả mọi người

51. Thánh Gioan Phaolô II đã tuyên bố rằng, “ý thức được nâng cao về phẩm giá của con người và tính độc nhất của họ, và về sự tôn trọng dành cho hành trình lương tâm, chắc chắn đại diện cho một trong những thành tựu tích cực của nền văn hóa hiện đại.” [57] Tuyên bố này tiếp nối đường lối đã được nêu ra bởi Công đồng Vatican II, trong đó ghi nhận sự công nhận ngày càng tăng về phẩm giá cao cả của tất cả mọi người, sự ưu việt của họ so với vật chất và các quyền và nghĩa vụ phổ quát và bất khả xâm phạm của họ. [58] Điều quan trọng là phải đảm bảo rằng sự gia tăng đánh giá cao phẩm giá con người này không bị che khuất bởi áp lực của các hệ tư tưởng mới hoặc các lợi ích rất mạnh mẽ trong thế giới ngày nay. Trong số những hệ tư tưởng này, tôi cho rằng đặc biệt nguy hiểm là hệ tư tưởng cho rằng mỗi người phải tự mình kiếm được hoặc chứng minh giá trị của bản thân, đến mức gán giá trị lớn hơn cho những người hữu hiệu hoặc có năng suất hơn. Từ quan điểm này, con người cuối cùng bị hạ thấp xuống thành phương tiện để đạt được kết quả, một nguồn lực để sử dụng và khai thác, và không còn được công nhận là mục đích tự thân đúng đắn, không bao giờ nên bị lợi dụng. Tuy nhiên, giá trị của con người không phụ thuộc vào những gì họ đạt được hoặc sản xuất. Có những quyền áp dụng cho tất cả mọi người chỉ đơn giản bằng việc là con người, và không một quyền lực nào của con người có thể hợp pháp phủ nhận hoặc tùy tiện hạn chế chúng. [59]

52. Khi chúng ta nói về phẩm giá, chúng ta không phải lúc nào cũng sử dụng từ này theo cùng một cách. Đôi khi chúng ta đề cập đến phẩm giá đạo đức, cụ thể là cách một người định hướng các lựa chọn và hành động của mình. Những lúc khác, chúng ta nghĩ đến phẩm giá xã hội, đề cập đến điều kiện sống của một người và sự tôn trọng cụ thể nhận được từ xã hội. Trong những trường hợp khác, chúng ta đề cập đến phẩm giá hiện sinh, có nghĩa là cách một người nhận thức giá trị của chính mình và giá trị của cuộc sống. Những khía cạnh này của phẩm giá có thể được nâng cao hoặc giảm đi. Bên cạnh những khái niệm này, còn có một bìnhh diện sâu sắc và quan trọng hơn về phẩm giá hữu thể học. Đây là phẩm giá thuộc về mỗi con người chỉ đơn giản nhờ việc hiện hữu, nhờ việc được Thiên Chúa muốn, tạo dựng và yêu thương. [60] Không tội lỗi, thất bại, sỉ nhục hay sự loại trừ nào có thể làm giảm giá trị sâu sắc của một cuộc sống con người mà Thiên Chúa đã muốn và kêu gọi. [61]

53. Do đó, phẩm giá cơ bản của mỗi người không phải là thứ có được hay kiếm được, cũng không cần phải được biện minh. Tuyên bố Dignitas Infinita gần đây đã tóm tắt tư tưởng của Giáo hội về vấn đề này: “Mỗi con người đều sở hữu một phẩm giá vô hạn, được đặt nền tảng không thể tách rời trong chính hữu thể của họ, phẩm giá này tồn tại trong và vượt ra ngoài mọi hoàn cảnh, trạng thái hoặc tình huống mà người đó có thể gặp phải” [62] — nói cách khác, luôn luôn và không có ngoại lệ. Phẩm giá của mỗi con người có thể được mô tả là vô hạn, như Thánh Gioan Phaolô II đã nói, [63] vì hai lý do: thứ nhất, bởi vì tình yêu của Thiên Chúa, Đấng kêu gọi chúng ta làm bạn với Người, là vô hạn; và thứ hai, tình yêu của Người là hoàn toàn vô điều kiện, theo nghĩa là, ngay cả khi chúng ta tìm kiếm vô tận, chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy bất cứ điều gì có thể xóa bỏ hoặc phủ nhận nó.

Giá trị tối cao của nhân quyền

54. Giáo hội thừa nhận một cách biết ơn rằng “phong trào hướng tới việc xác định và công bố nhân quyền là một trong những nỗ lực quan trọng nhất để đáp ứng hữu hiệu những yêu cầu không thể tránh khỏi của phẩm giá con người.” [64] Về vấn đề này, Thánh Gioan Phaolô II đã nói rằng Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền, được Liên Hợp Quốc công bố vào ngày 10 tháng 12 năm 1948, vẫn là một trong những biểu thức cao nhất của lương tâm con người trong thời đại chúng ta. [65] Đó là “một cột mốc trên con đường dài và khó khăn của nhân loại.” [66] Vì lý do này, từ quan điểm Kitô giáo, nhân quyền không phải là một sự bổ sung bên ngoài cho con người, mà là một biểu thức của phẩm giá nội tại của con người, mà cộng đồng quốc tế được kêu gọi bảo vệ và cổ vũ.

55. Nhân quyền là bất khả xâm phạm, vì chúng “vốn có trong con người và trong phẩm giá con người”. [67] Do đó, chúng là phổ quát và bất khả chuyển nhượng. [68] Chính vì chúng được đặt nền tảng trên phẩm giá chung của mỗi người đàn ông và đàn bà, nên chúng có những hậu quả thực tiễn và hiệu lực pháp lý, bởi vì “sẽ thật vô ích nếu tuyên bố nhân quyền mà đồng thời không làm mọi thứ để đảm bảo nghĩa vụ tôn trọng chúng, sự tôn trọng của tất cả mọi người, ở mọi nơi và cho tất cả mọi người”. [69] Trong số những quyền này, quyền đầu tiên là quyền sống, từ khi thụ thai đến khi kết thúc tự nhiên, [70] nếu không có quyền này thì không thể thực hiện bất cứ quyền nào khác. Khi quyền cơ bản này bị phủ nhận — như trong các trường hợp phá thai, giết người vô tội và an tử — chúng ta phải đối diện với những lựa chọn mà Giáo hội coi là sai trái nghiêm trọng. [71]

56. Nhìn vào thời đại của chúng ta, chúng ta không thể bỏ qua sự kiện này là việc bảo vệ nhân quyền đã bị phơi bày trước hai mối nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng. Thứ nhất là những quyền này được tuyên bố một cách hoàn toàn hình thức, trong khi tiến bộ kỹ thuật tiếp tục diễn ra song song với những vi phạm ngầm hoặc công khai về phẩm giá con người. Thứ hai, mà thực chất là gốc rễ của điều thứ nhất, là sự bất lực trong việc nhận ra nền tảng trong tính phổ quát của chúng, vì chúng ta đã từ bỏ “việc tìm kiếm những nền tảng vững chắc hỗ trợ các quyết định và luật pháp của chúng ta”. [72] Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã kêu gọi chúng ta không nên đánh giá thấp vấn đề cuối cùng này. Ngài chỉ ra rằng khi lý trí nghiêm túc xem xét bản chất con người, nó có khả năng khám phá ra những giá trị áp dụng cho tất cả mọi người, bởi vì chúng bắt nguồn từ bản chất con người. Nếu nhiệm vụ tìm hiểu này bị bỏ rơi, có thể hình dung rằng những quyền được coi là bất khả xâm phạm ngày nay, trong tương lai, cuối cùng sẽ bị những người nắm quyền đặt câu hỏi hoặc phủ nhận, có lẽ sau khi chỉ đạt được sự đồng thuận bề ngoài từ các nhóm dân cư bị sợ hãi hoặc bị thao túng. [73]

57. Cùng với nhận thức lớn hơn về giá trị của mỗi con người và quyền của họ, sự công nhận quyền của các nhóm thiểu số cũng đã tăng lên. Tuy nhiên, vẫn còn một chặng đường dài để đảm bảo rằng quyền của rất nhiều người, đặc biệt là phụ nữ, được đảm bảo một cách bình đẳng và thực sự trên toàn thế giới. Thực tế là “những phụ nữ phải chịu đựng tình trạng bị loại trừ, ngược đãi và bạo lực càng nghèo khổ hơn, vì họ thường ít có khả năng bảo vệ quyền của mình.” [74] Do đó, chỉ đơn giản tuyên bố rằng nam và nữ có phẩm giá và quyền bình đẳng là chưa đủ; cần phải phản ánh điều này trong các quyết định cụ thể, chẳng hạn như trong luật pháp, tiếp cận việc làm, giáo dục, trách nhiệm xã hội và chính trị, và cách xã hội lắng nghe và đánh giá cao những đóng góp của phụ nữ. Chừng nào khoảng cách này còn tồn tại, chúng ta không thể nói rằng xã hội thực sự và đầy đủ công nhận rằng phụ nữ có phẩm giá như nam giới.

58. Chính các cá nhân mới là điều quan trọng, mỗi người, cùng với gia đình của họ. Các phong trào xã hội, hệ tư tưởng cộng đồng và những tuyên bố chính trị lớn lao ủng hộ một bộ phận dân chúng đều vô giá trị nếu chúng không dẫn đến sự thịnh vượng của con người – cả nam và nữ – với những quyền bất khả xâm phạm của họ. Tương tự, việc ca ngợi tự do cá nhân hay doanh nghiệp tư nhân là chưa đủ nếu sau đó chúng ta lại để cho nhiều người tiếp tục sống mà không có việc làm tử tế, sự bảo vệ hoặc tiếp cận với những nhu cầu cơ bản.

Các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội

Nguyên tắc lợi ích chung


59. Nhận thức rằng mỗi người đàn ông và đàn bà đều sở hữu một phẩm giá bất khả xâm phạm, cùng với những quyền mà không một thế lực nào của con người có thể phản bội hay vô hiệu hóa, đòi hỏi chúng ta phải định hình cách chúng ta sống cùng nhau, bao gồm cả những lựa chọn kinh tế và chính trị của chúng ta, và cấu trúc của các thành phố. Từ đó nảy sinh nguyên tắc chính đầu tiên của Học thuyết Xã hội mà tôi muốn nhấn mạnh: lợi ích chung. Chúng ta có thể mô tả nó như biểu thức xã hội của phẩm giá được công nhận trong mỗi con người. Khi Đức Bê-nê-đíc-tô XVI đề cập đến những giá trị không thể thương lượng mà Giáo hội phải luôn bảo vệ, ngài đã bao gồm trong đó “việc thúc đẩy lợi ích chung”. [75] Đối với một người Kitô hữu, việc vượt ra khỏi những giới hạn hẹp hòi của lợi ích cá nhân và cống hiến hết mình, trong khả năng của mình, cho lợi ích chung là một giá trị không thể thương lượng, cũng như việc cổ vũ sự sống.

60. Công đồng Vatican II khẳng định rằng lợi ích chung bao gồm “tổng thể các điều kiện xã hội cho phép mọi người, dù là theo nhóm hay cá nhân, đạt được sự viên mãn của mình một cách trọn vẹn và dễ dàng hơn”. [76] Định nghĩa này cung cấp cho chúng ta một điểm tham chiếu ban đầu có giá trị, bởi vì lợi ích chung không thể bị thu hẹp thành một danh sách đơn thuần các điều kiện hoặc định chế. Nó không phải là tổng thể các lợi ích cá nhân, cũng không phải là sự giao thoa của các lợi ích riêng biệt của họ; đó là một lợi ích lớn hơn thuộc về tất cả mọi người, và nó chỉ có thể đạt được, nuôi dưỡng và bảo vệ bằng những nỗ lực tập thể của chúng ta. Chúng ta có thể nói rằng hành động xã hội đạt được sự viên mãn khi nó hướng tới lợi ích chung này, cũng như hành động đạo đức của một người tìm thấy sự viên mãn trong việc lựa chọn điều thiện đích thực. [77]

61. Theo nghĩa này, chúng ta có thể nói rằng toàn thể “lớn hơn tổng số các phần của nó” [78] và chính vì lý do này, “tổng số các lợi ích cá nhân không đủ khả năng tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho toàn thể gia đình nhân loại.” [79] Thật vậy, thật là ảo tưởng khi nghĩ rằng chỉ theo đuổi sự tiến bộ của bản thân mà không quan tâm đến người khác là đủ để đóng góp vào lợi ích chung. Quan điểm này bỏ qua giá trị vốn có và đặc thù của lợi ích chung, là kết quả của sự “phụ thuộc lẫn nhau” [80] tạo ra một mạng lưới lợi ích xã hội mở rộng và tác động đến mọi người. Lợi ích chung là một “phần cộng”, kết quả của sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau kết nối các hành động, sáng kiến, nỗ lực và quyết định khác nhau. Nếu chúng ta cộng các lợi ích cá nhân lại với nhau, chúng ta không thể giải thích sự tồn tại của “phần cộng” vốn vượt lên trên chúng và đồng thời làm giàu thêm cho chúng.

62. Việc theo đuổi lợi ích chung mang lại sức sống cho một dân tộc, được hiểu không chỉ đơn thuần là một tập hợp các cá nhân, mà là một thực tại sống động trong đó mọi người học cách nhận ra rằng bản thân họ có mối liên hệ với nhau và cùng chịu trách nhiệm về nền cộng hòa. Theo nghĩa này, mỗi người đóng góp vào việc xây dựng dân tộc mình thông qua “một nỗ lực chậm chạp và gian khổ đòi hỏi mong muốn hội nhập và sẵn sàng đạt được điều này thông qua sự phát triển của một nền văn hóa gặp gỡ hòa bình và đa diện.” [81] Làm việc cùng nhau vì lợi ích chung có nghĩa là có một tầm nhìn chung. Rõ ràng là có nhiều khác biệt về tư tưởng và thực hành giữa mọi người, cũng như những lợi ích khác nhau và những bất đồng thường xuyên, nhưng điều đó không có nghĩa là không thể tham gia đối thoại để thiết lập một tập hợp các thỏa thuận cơ bản cho phép tạo ra một tầm nhìn chung, dựa vào đó mọi người có thể cùng nhau tiến lên.

63. Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo sự gắn kết, sự thống nhất và tổ chức đúng đắn của xã hội dân sự, để lợi ích chung có thể được theo đuổi với sự đóng góp của mọi người. Về mặt thực hành, điều này có nghĩa là các cơ quan công quyền có nhiệm vụ tế nhị là “hài hòa các lợi ích ngành khác nhau với các yêu cầu của công lý”, [82] tìm kiếm sự cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung, mà không bỏ lại những người dễ bị tổn thương nhất. Khi chính trị từ bỏ tầm nhìn dài hạn và tự thu hẹp lại thành những tính toán ngắn hạn hoặc sự phân cực vô ích, thì ngôn ngữ về lợi ích chung sẽ mất đi uy tín, đồng thời, bất bình đẳng và chia rẽ xã hội ngày càng gia tăng.

64. Điều này cũng áp dụng cho chính trị quốc tế. Khi khoảng cách giữa các quốc gia ngày càng rộng, tâm lý đối đầu và gây hấn bắt đầu hình thành, và con đường khó khăn hướng tới một thế giới thống nhất và có tình anh em hơn phải chịu những trở ngại mới và đau đớn. Trong bối cảnh này, việc nói về một hành trình chung hướng tới sự phát triển công bằng hơn cho toàn thể gia đình nhân loại “nghe có vẻ điên rồ”. [83] Tuy nhiên, chúng ta không được mất hy vọng. Tôi mời mọi người cùng suy nghĩ về các cách thức hợp tác và các định chế quốc tế hữu hiệu hơn, có khả năng bảo vệ lợi ích chung toàn cầu mà không làm tổn hại đến sự đa dạng hợp pháp của các dân tộc và quốc gia. Thật vậy, việc thúc đẩy lợi ích chung không bao giờ có thể tách rời khỏi việc tôn trọng quyền hiện hữu của các dân tộc, quyền bảo tồn bản sắc riêng và quyền đóng góp những phẩm chất độc đáo của họ cho cộng đồng quốc tế. [84] Hơn nữa, bất cứ nỗ lực hoặc kế hoạch nào nhằm xóa bỏ hoặc khuất phục một quốc gia đều là vô cùng phi đạo đức và do đó không thể chấp nhận được.

Nguyên tắc về đích đến phổ quát của của cải

65. “Trong số nhiều hàm ý của lợi ích chung, nguyên tắc đích đến phổ quát của của cải mang ý nghĩa trực tiếp.” [85] Trước hết, nguyên tắc này nhắc nhở chúng ta rằng của cải của trái đất — đất, nước, không khí và tài nguyên thiên nhiên — được Chúa ban cho toàn thể gia đình nhân loại để duy trì sự sống của tất cả mọi người, và mỗi người đều có quyền cố hữu đối với việc sử dụng những của cải đó, cả hiện tại và tương lai. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại rằng, “Thiên Chúa đã ban trái đất cho toàn thể nhân loại để nuôi sống tất cả các thành viên của nó, không loại trừ hay ưu ái bất cứ ai.” [86] Do đó, “không phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa khi sử dụng ơn ban này theo cách mà lợi ích của nó chỉ thuộc về một số ít người được chọn.” [87] Ngày nay, chúng ta được kêu gọi nhận ra rằng mục đích phổ quát này không chỉ áp dụng cho của cải vật chất, mà còn cho của cải phi vật chất và văn hóa.

66. Chắc chắn có quyền sở hữu tư nhân, có ý nghĩa và mục đích cụ thể riêng, nhưng nó luôn luôn phụ thuộc vào đích đến phổ quát của của cải. Theo Đức Gioan Phaolô II, sự phụ thuộc này là quy tắc vàng của hành vi xã hội và là “nguyên tắc đầu tiên của toàn bộ trật tự đạo đức và xã hội.” [88] Trong truyền thống của Giáo hội, tài sản được coi là phương tiện để bảo vệ và quản lý của cải sao cho chúng có thể phục vụ tốt hơn cho lợi ích chung. Vì “truyền thống Kitô giáo chưa bao giờ công nhận quyền sở hữu tư nhân là tuyệt đối hoặc bất khả xâm phạm,” [89] nên chức năng xã hội của nó không được coi là một quan điểm thần học đơn thuần, mà là một học thuyết của Giáo hội, đã hiện diện trong Kinh Thánh và trong các tác phẩm của các Giáo phụ. Vì lý do này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhắc nhở chúng ta rằng tình liên đới, khi được sống trọn vẹn nhất, cũng có nghĩa là “trả lại cho người nghèo những gì thuộc về họ.” [90]

67. Ngày nay, trong số những của cải được dành cho tất cả mọi người, chúng ta cũng phải bao gồm các hình thức sở hữu mới, chẳng hạn như bằng sáng chế, thuật toán, nền tảng kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và dữ liệu. Trong bối cảnh mà sự giàu có của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào kiến thức và kỹ thuật, khi những của cải này vẫn tập trung trong tay một số ít người, mà không có các hình thức chia sẻ và tiếp cận thích hợp, một sự mất cân bằng mới được tạo ra, trái ngược với đích đến phổ quát của cải. Đến lượt nó, nó làm gia tăng khoảng cách giữa những người được bao gồm và những người bị loại trừ, giữa những người có thể tham gia vào cuộc cách mạng kỹ thuật số và những người vẫn ở bên lề. Hơn nữa, việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta và trách nhiệm của chúng ta đối với người nghèo và các thế hệ tương lai đòi hỏi việc sử dụng các của cải do tạo hóa ban tặng và những khả năng mới do kỹ thuật mang lại phải được điều chỉnh theo cách tôn trọng môi trường, tránh lãng phí và ngăn chặn các hình thức bóc lột mới.

Nguyên tắc phụ đới

68. Nguyên tắc phụ đới xuất phát từ chính sự hiểu biết về con người đã hướng dẫn suy tư của chúng ta về phẩm giá và lợi ích chung. Nếu mỗi người đàn bà và người đàn ông được kêu gọi làm chủ cuộc sống của chính mình và đóng góp vào sự hình thành xã hội, thì các định chế xã hội cũng phải tôn trọng và hỗ trợ trách nhiệm này. Học thuyết Xã hội của Giáo hội đề cập đến nguyên tắc phụ đới như là nguyên tắc theo đó vai trò của cá nhân, gia đình, cộng đồng địa phương và các tổ chức trung gian không nên bị thay thế bởi các thẩm quyền cao hơn. Hơn nữa, các định chế cao cấp hơn phải công nhận, bảo vệ và thúc đẩy sự tự do và sáng tạo của các thực thể cấp thấp hơn, phối hợp các đóng góp của họ để họ có thể hợp tác hữu hiệu vì lợi ích chung. [91]

69. Bắt đầu từ Đức Lê-ô XIII và những khởi đầu của giáo huấn xã hội hiện đại, Giáo hội đã nhấn mạnh rằng cả cá nhân lẫn gia đình không nên bị Nhà nước chi phối, mà nên được phép hành động tự do, trong chừng mực có thể, mà không gây hại đến lợi ích chung. [92] Thánh Gioan Phaolô II đã tiếp thu và phát triển quan điểm này, lưu ý rằng cộng đồng chính trị phục vụ xã hội dân sự và Nhà nước phải bảo vệ lợi ích chung, can thiệp khi cần thiết, nhưng không thay thế vĩnh viễn trách nhiệm của các tổ chức trung gian và các định chế xã hội. [93] Nguyên tắc phụ đới không biện minh cho sự rút lui của Nhà nước, mà đúng hơn là hướng dẫn hành động của Nhà nước. Thật vậy, sự can thiệp của nhà nước là cần thiết chính để cho phép tất cả các chủ thể xã hội hoàn thành sứ mệnh của họ mà không bị kìm hãm. Cộng đồng chính trị có trách nhiệm tạo ra những điều kiện cho phép các cá nhân, gia đình, hiệp hội và các tổ chức trung gian hoàn thành sứ mệnh của họ trong xã hội, mà không bị thay thế hoặc bị giảm xuống chỉ còn là những người hỗ trợ. [94]

70. Nguyên tắc này khuyến khích chúng ta vượt ra khỏi bất cứ hình thức quản lý đời sống xã hội nào mang tính duy cha chú [paternalistic] hoặc dựa trên phúc lợi, mà thay vào đó thúc đẩy một nền văn hóa trách nhiệm chung trong một Nhà nước coi trọng sáng kiến của công dân và một xã hội dân sự có khả năng tạo dựng mối liên kết và huy động năng lực phục vụ lợi ích chung. Phù hợp với nguyên tắc phụ đới, các quyết định được đưa ra ở bình diện gần nhất có thể với những người liên quan, do đó thúc đẩy đời sống cộng đồng và tránh việc người dân phải đối diện với những quyết định đã được đưa ra. Bằng cách này, người dân có thể tham gia vào quá trình ra quyết định. Khi các gia đình, hiệp hội, cộng đồng địa phương, các tổ chức tình nguyện và những tổ chức thuộc điều gọi là “khu vực thứ ba” được công nhận và hỗ trợ, đời sống xã hội trở nên dễ tiếp cận hơn với người dân, các dịch vụ trở nên phù hợp hơn với nhu cầu thực tế và các giải pháp trở nên sáng tạo hơn và tôn trọng phẩm giá của mỗi người. [95]

71. Nguyên tắc phụ đới đặc biệt áp dụng trong bối cảnh cuộc cách mạng kỹ thuật số. Ở đây, cấp cao nhất không phải là Nhà nước, mà là các tác nhân kinh tế và kỹ thuật lớn thực thi quyền lực trên thực tế đối với các điều kiện của cuộc sống hàng ngày. Bình diện này, độc quyền về chuyên môn, dữ liệu và quyền ra quyết định, bao gồm các công ty và nền tảng xác định các điều kiện truy cập, quy tắc hiển thị, hình thức tương tác và thậm chí cả cơ hội kinh tế. Nguyên tắc phụ đới yêu cầu các quy trình như vậy không được áp đặt từ trên xuống một cách mờ ám và đơn phương, mà thay vào đó phải hướng tới lợi ích chung với tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và các hình thức tham gia có ý nghĩa (bao gồm kiểm tra độc lập, tính minh bạch về thuật toán, quyền truy cập dữ liệu công bằng và các kênh khiếu nại). [96]

72. Trong bối cảnh này, các quốc gia và các tổ chức siêu quốc gia được kêu gọi đảm bảo các quy tắc công bằng và các biện pháp bảo vệ hữu hiệu, để các cộng đồng địa phương, các tổ chức trung gian, trường học, đại học, các tổ chức và hiệp hội tôn giáo có tiếng nói và có thể đóng góp vào việc phân định các lựa chọn ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người dân, chẳng hạn như việc làm, tiếp cận dịch vụ, quản lý dữ liệu và môi trường kỹ thuật số. Khi nói đến các quyết định liên quan đến các luồng kinh tế và nền tảng kỹ thuật số, cũng như việc quản trị dữ liệu và thuật toán, chúng ta không thể cho phép một số ít tác nhân tự ý quyết định các quy trình này; thay vào đó, chúng ta phải xây dựng các hình thức hợp tác tôn trọng các bình diện khác nhau của cộng đồng toàn cầu và khiến họ cùng chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. [97]

Nguyên tắc liên đới

73. Sau khi xem xét lợi ích chung và nguyên tắc phụ đới, tôi muốn suy gẫm về nguyên tắc liên đới. Nguyên tắc này xuất phát từ một tầm nhìn về con người được hình thành bởi đức tin, đó là mỗi con người được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa và là một phần của mạng lưới các mối quan hệ ràng buộc họ với những người khác, với các cộng đồng cụ thể và với tạo thế. Thánh Phaolô VI nhận thấy rằng các nghĩa vụ liên đới, công lý và bác ái bắt nguồn từ các mối liên kết huynh đệ nhân bản và siêu nhiên kết nối các cá nhân và cộng đồng. [98] Tình huynh đệ không chỉ là một khát vọng của những người tin, mà là một thực tại xã hội và chính trị cần được hiện thân trong các lựa chọn và nỗ lực chung. Liên đới, do đó, là sự thừa nhận cụ thể rằng tương lai của mỗi cá nhân được kết nối với tương lai của tất cả; quả thật, “không ai được cứu rỗi một mình.” [99] Mối liên hệ chặt chẽ giữa nguyên tắc phụ đới và tình liên đới do đó trở nên rõ ràng. Như vậy, rõ ràng là có một mối liên hệ mật thiết giữa nguyên tắc phụ đới và tình liên đới. Khi nguyên tắc phụ đới không được liên kết với tình liên đới, nó cuối cùng chỉ trở thành sự bảo vệ các lợi ích cụ thể; khi tình liên đới không được hỗ trợ bởi nguyên tắc phụ đới, nó sẽ thoái hóa thành một hình thức phúc lợi không thúc đẩy trách nhiệm. [100] Sự liên kết này cũng liên quan đến trách nhiệm tham gia đích thực. Tình liên đới được phát biểu khi mỗi người, cả cá nhân và tập thể, tham gia vào đời sống cộng đồng — bằng cách cập nhật thông tin, tương tác với người khác, lên tiếng và đóng góp vào các quyết định và lựa chọn công cộng — đồng thời gánh vác trách nhiệm thực sự để đạt được lợi ích chung thông qua việc ra quyết định chung.

74. Trong nhiều lĩnh vực, chúng ta đã và đang trải nghiệm một loại “tình liên đới trên thực tế”, vì cuộc sống của chúng ta đan xen vào nhau; mạng lưới kỹ thuật số kết nối mọi người và cộng đồng trên khắp thế giới trong thời gian thực, và nền kinh tế và truyền thông toàn cầu có nghĩa là các sự kiện ở một nơi có tác động sâu rộng. Tuy nhiên, mạng lưới các mối quan hệ này chỉ cấu thành tình liên đới theo nghĩa đầy đủ nhất của hạn từ khi nó trở thành một lựa chọn có ý thức. Đức tin mời gọi chúng ta nhìn nhận thực tại này như một lời kêu gọi: chúng ta không chỉ là những người láng giềng của nhau, mà còn được giao phó cho nhau, để mỗi người trong chúng ta có thể chịu trách nhiệm, trong khả năng tốt nhất của mình, đối với cuộc sống và những vết thương của anh chị em mình. Tinh thần liên đới nảy sinh chính khi chúng ta quyết định không thờ ơ với những gì xảy ra với người láng giềng của mình mà thay vào đó biến những mối ràng buộc không thể tránh khỏi — kinh tế, văn hóa và kỹ thuật— thành những con đường chia sẻ, hợp tác và chăm sóc lẫn nhau, đón nhận ý tưởng “suy nghĩ và hành động theo tinh thần cộng đồng”. [101]

75. Giáo huấn xã hội của Giáo hội nhấn mạnh rằng liên đới vừa là một nguyên tắc vừa là một nhân đức. Là một nguyên tắc, nó nói lên trật tự khách quan của các mối quan hệ giữa các cá nhân, nhóm và dân tộc, chỉ ra nhận thức về sự phụ thuộc lẫn nhau, theo đó lợi ích của mỗi người phụ thuộc vào lợi ích của người khác. Là một nhân đức, nó đòi hỏi một “quyết tâm vững chắc và kiên trì” [102] để phấn đấu vì lợi ích chung, đặc biệt chú ý đến những người cần giúp đỡ nhất. Đức Giáo Hoàng Phanxicô lưu ý rằng liên đới là “một cách làm nên lịch sử” [103] tạo ra các cộng đồng chứ không chỉ là những khối cá nhân. Vì lý do này, nó đòi hỏi một lối sống khiêm tốn và chia sẻ, khả năng từ bỏ lợi ích trước mắt để tạo cơ hội cho người khác trong tương lai, và sự sẵn lòng thách thức những thói quen và đặc quyền — bao gồm cả những thói quen và đặc quyền liên quan đến tiêu dùng kỹ thuật số và sử dụng kỹ thuật — khi chúng ngăn cản người khác sống một cách đàng hoàng.

76. Trong một thế giới được đánh dấu bởi những mối liên hệ ngày càng chặt chẽ giữa con người, cộng đồng và quốc gia, tình liên đới cũng mang một chiều kích toàn cầu. Đức Bê-nê-đic-tô XVI đã hết sức nhấn mạnh mối liên hệ giữa phát triển, công lý và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai, tuyên bố rằng sự phát triển đích thực đòi hỏi tình liên đới và công lý giữa các thế hệ, [104] cũng như nhận thức về những mối liên kết gắn kết chúng ta với môi trường tự nhiên. Ngày nay, trách nhiệm này cũng mở rộng đến cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và thông tin. Giống như môi trường tự nhiên, “hệ sinh thái kỹ thuật số” có thể được bảo tồn hoặc khai thác, chia sẻ hoặc độc quyền. Tình liên đới đòi hỏi các quyết định liên quan đến dữ liệu, thuật toán, nền tảng và trí tuệ nhân tạo phải tính đến không chỉ lợi ích trước mắt của một số ít người, mà còn cả tác động đến tất cả mọi người và các thế hệ tương lai.

Nguyên tắc công bằng xã hội

77. Đối với cộng đồng Kitô giáo, công bằng xã hội là một cách cụ thể để noi theo Chúa Giêsu và trung thành với Tin Mừng. Trong Tân Ước, Chúa Giêsu loan báo “tin mừng cho người nghèo” (Lc 4:18) và đồng nhất mình với những người thấp hèn, người bệnh, người bị giam cầm và người lạ (xem Mt 25:31-46). Như vậy, Người dạy chúng ta rằng công lý được sinh ra từ và được hoàn thành trong tình huynh đệ, bởi vì cách chúng ta tiếp cận và liên hệ với những người thấp kém nhất trong chúng ta, nói một cách cụ thể, trở thành thước đo mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa và với anh chị em của chúng ta. Tuy nhiên, công lý không chỉ liên quan đến hành vi của các cá nhân, mà còn liên quan đến cách thức mà các cấu trúc của xã hội được hình thành và tổ chức. Về vấn đề này, Công đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta rằng mọi định chế đều được kêu gọi phục vụ con người và phẩm giá của họ. [105] Do đó, công bằng xã hội được đặc trưng bởi khả năng của một trật tự xã hội, kinh tế và chính trị cho phép mọi người — đặc biệt là những người yếu thế nhất — sống một cuộc sống thực sự có phẩm giá, không bỏ lại ai phía sau.

78. Giáo huấn gần đây đã nhấn mạnh rằng công bằng xã hội bắt đầu từ những người thấp kém nhất trong chúng ta. Thánh Gioan Phaolô II đã nói về sự lựa chọn ưu tiên cho người nghèo [106] phải hướng dẫn cả những lựa chọn cá nhân và xã hội, trong khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã lên án một “văn hóa ‘vứt bỏ’” [107] tạo ra những hình thức loại trừ ngày càng mới. Từ quan điểm này, công bằng xã hội đòi hỏi chúng ta phải nhìn vào các cá nhân và cộng đồng, bắt đầu từ những người dễ bị tổn thương nhất: người nghèo, người di cư, người tị nạn, người di dời trong nước, nạn nhân của bạo lực và những người sống ở vùng ngoại ô đô thị hoặc vùng ngoại ô về mặt hiện sinh.

79. Ý niệm “công bằng xã hội” giúp chúng ta nhận ra rằng sự bất công không chỉ phát sinh từ những lựa chọn sai lầm của cá nhân, mà còn từ các cấu trúc, cơ chế và hệ thống kinh tế và văn hóa tạo ra sự bất bình đẳng gần như tự động. Thánh Gioan Phaolô II đã nói về các cấu trúc tội lỗi [108] chống lại ý muốn của Thiên Chúa và đòi hỏi sự cam kết hoán cải cá nhân và xã hội. Theo quan điểm này, công lý không chỉ đơn thuần là việc phân phối nguồn lực công bằng hơn hoặc sửa chữa những bất công hiện tại, mà còn mang một chiều kích phục hồi. Nó nhằm mục đích hàn gắn những mối quan hệ đổ vỡ và tái hòa nhập những người bị loại trừ, có tính đến những vết thương do bất công gây ra, chẳng hạn như chiến tranh, chủ nghĩa thực dân, phân biệt chủng tộc hoặc giới tính, bạo lực chống lại toàn bộ các dân tộc và bóc lột. Điều này có thể bao gồm việc khôi phục phẩm giá và tiếng nói cho những người bị bỏ qua, thúc đẩy các quá trình chữa lành ký ức tập thể, chống lại các luật và thực hành phân biệt đối xử, và cung cấp hỗ trợ cụ thể cho những người vẫn còn gánh chịu hậu quả của những sai trái đã phải chịu đựng trong quá khứ.

80. Trong thời đại ngày nay, công lý xã hội cũng phải đối diện với môi trường được định hình bởi các kỹ thuật kỹ thuật số. Sự lan rộng của các mạng lưới toàn cầu, nền tảng và hệ thống trí tuệ nhân tạo đang thay đổi cách chúng ta thu thập thông tin, giao tiếp và tiếp cận các dịch vụ. Công lý đòi hỏi chúng ta phải ngăn chặn sự xuất hiện của các hình thức loại trừ và tước đoạt tự do mới: các cá nhân và dân tộc bị cản trở hoặc bị từ chối tiếp cận các kỹ thuật cơ bản, các cộng đồng bị phơi bày trước sự giám sát xâm phạm và các nhóm xã hội bị trừng phạt bởi các thuật toán mập mờ duy trì định kiến và phân biệt đối xử. Trong thời đại kỹ thuật số, một trật tự xã hội công bằng đảm bảo cho mọi người quyền tiếp cận bình đẳng các cơ hội, bảo vệ các thành viên trẻ nhất và yếu thế nhất trong xã hội, chống lại sự thù hận và thông tin sai lệch, và đặt việc sử dụng dữ liệu và kỹ thuật dưới sự giám sát của công chúng, để nguyên tắc chỉ đạo không chỉ là lợi nhuận mà còn là phẩm giá của mỗi người và lợi ích chung của tất cả mọi người.

81. Một phép thử cho công lý xã hội ngày nay là cách đối xử với người di cư, người tị nạn và những người buộc phải di chuyển do nghèo đói, bạo lực, biến đổi khí hậu và thảm họa môi trường. Cách một xã hội đối xử với họ cho thấy liệu ý thức công lý của xã hội đó được thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi hay bởi tinh thần bác ái. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã kêu gọi chúng ta nhìn nhận người di cư không chỉ đơn thuần là một vấn đề cần được quản lý, mà là hình ảnh sống động của dân Chúa đang di chuyển. [109] Họ là những người có phẩm giá, nguồn lực và ước mơ, có quyền được đối xử tôn trọng và yêu cầu trở thành thành viên tích cực của các xã hội chào đón họ. Công bằng xã hội trong lĩnh vực này bao hàm ít nhất hai cam kết bổ sung cho nhau. Một mặt, điều này có nghĩa là bảo vệ những hy vọng chính đáng của những người buộc phải rời bỏ quê hương bằng cách đảm bảo các tuyến đường an toàn và hợp pháp, điều kiện tiếp nhận xứng đáng và con đường hội nhập thực sự. Mặt khác, điều này có nghĩa là thúc đẩy quyền được ở lại quê hương trong hòa bình và an ninh bằng cách giải quyết các nguyên nhân gốc rễ buộc người dân phải di cư, bao gồm cả những nguyên nhân liên quan đến bất công kinh tế và khủng hoảng khí hậu. Khi những quyền này được tôn trọng, di cư có thể trở thành cơ hội gặp gỡ và làm giàu lẫn nhau giữa các dân tộc.

Phát triển con người toàn diện

82. Trong Thông điệp Populorum Progressio, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI khẳng định rằng sự phát triển chỉ thực sự đúng đắn nếu nó “toàn diện”, có nghĩa là nó có thể “phát huy sự phát triển của mỗi người và của toàn thể con người”. [110] Trong những thập niên tiếp theo, Học thuyết Xã hội của Giáo hội đã nhắc lại và suy gẫm về cách diễn đạt này để chỉ ra những cách thức thực tiễn mà các nguyên tắc cao cả — phẩm giá, lợi ích chung, đích đến phổ quát của của cải, tính phụ đới, tình liên đới và công bằng xã hội — được thực hiện trong đời sống thực tế. “Phát triển toàn diện con người” ở đây có nghĩa là một quá trình trong đó sự phát triển của cá nhân và dân tộc bao trùm tất cả các khía cạnh của sự tồn tại và mở ra tương lai cho các thế hệ kế tiếp.

83. Đối với cá nhân cũng như các quốc gia, phát triển vừa là nghĩa vụ vừa là quyền lợi. Cần có những điều kiện tối thiểu để cho phép mỗi người và mỗi dân tộc phát triển thịnh vượng phù hợp với phẩm giá của họ, mà không bị giữ trong tình trạng phụ thuộc hoặc bị loại trừ khỏi việc tiếp cận các hàng hóa cần thiết. Phát triển thực sự là nhân bản khi nó đặt con người làm trung tâm thay vì tích lũy của cải, và khi nó liên quan đến các dân tộc cũng như các cá nhân. Công lý đòi hỏi sự công nhận các quyền của xã hội và các quyền của các dân tộc, và bao gồm trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Phát triển không thực sự mang tính nhân bản nếu nó làm tăng mức tiêu thụ cho một số người trong khi chuyển gánh nặng chi phí sang những người khác, hoặc đẩy toàn bộ các khu vực vào vai trò phụ thuộc, ngăn cản họ phát huy hết tiềm năng của mình. [111] Phát triển mang tính toàn diện khi nó không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà còn thúc đẩy chất lượng cuộc sống ở các khía cạnh tinh thần, văn hóa, đạo đức và quan hệ, đồng thời tôn trọng ngôi nhà chung của chúng ta, sự đa dạng của các dân tộc và lối sống của họ. [112]

84. Ngày nay, khái niệm phát triển toàn diện con người là một chuẩn mực để đánh giá sinh thái toàn diện, vốn đã trở thành một khía cạnh không thể thiếu của Học thuyết Xã hội của Giáo hội. Thật vậy, chất lượng phát triển được đo lường bằng khả năng tích hợp công lý đối với con người và việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta, và thúc đẩy điều kiện sống xứng đáng, tiếp cận các hàng hóa cần thiết, các mối quan hệ xã hội công bằng, chăm sóc tạo thế và quan tâm đến các thế hệ tương lai. Từ đó suy ra rằng tiến bộ thực sự không phải là điều làm tăng phúc lợi của một số người bằng cách làm suy thoái hệ sinh thái, chuyển gánh nặng chi phí sang các cộng đồng thiệt thòi nhất, hoặc làm tổn hại đến điều kiện sống của những người sẽ kế vị chúng ta.

85. Nhìn theo ánh sáng này, phát triển toàn diện con người là khuôn khổ mà qua đó chúng ta có thể diễn giải những thay đổi của thời đại chúng ta, bao gồm cả những thay đổi do cuộc cách mạng kỹ thuật số mang lại. Những đổi mới kỹ thuật, bao gồm cả trí tuệ nhân tạo, không phải là trung lập, bởi vì chúng có thể thúc đẩy sự tham gia và công lý hoặc làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng, kiểm soát và loại trừ. Vì lý do này, chúng phải được đánh giá bằng cách đặt ra một câu hỏi quan trọng: Liệu chúng có thực sự giúp các cá nhân và các dân tộc trở nên nhân bản và huynh đệ hơn, đồng thời tôn trọng ngôi nhà chung của chúng ta và các thế hệ tương lai? Chính tại đây, các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội trở thành tiêu chuẩn cụ thể để phân định về các vấn đề mà chúng ta sẽ đề cập trong các chương tiếp theo.

Một cuộc xét mình cho Giáo hội

86. Tóm lại, tôi muốn đề cập đến một điểm đặc biệt gần gũi với trái tim tôi. Học thuyết Xã hội không chỉ đơn thuần là một thông điệp gửi đến xã hội; nó còn là một cuộc tự vấn lương tâm cho Giáo hội — một ngôi nhà và trường học của sự hiệp thông luôn được kêu gọi đảm bảo rằng các nguyên tắc được nêu trong chương này được áp dụng, đặc biệt là trong các cấu trúc của chính mình. Trong bối cảnh Giáo hội, lợi ích chung mang hình thức của một cách tiếp cận đồng nghị cho sứ mệnh phục vụ Nước Trời. Thật vậy, Giáo hội là “chủ thể cộng đồng và lịch sử của tính đồng ghị và sứ mệnh”. [113] Điều này đòi hỏi sự chú ý đến cách thức đưa ra quyết định và thực hiện trách nhiệm. Văn kiện Cuối cùng của Thượng Hội đồng xác định một nền văn hóa minh bạch, trách nhiệm giải trình và đánh giá là những thực tiễn quan trọng cho sự chuyển đổi truyền giáo. [114]

87. Với suy nghĩ này, nguyên tắc phụ đới trở thành nguyên tắc hướng dẫn cho việc quản trị và đời sống mục vụ. Nó bao gồm việc công nhận và hỗ trợ các tổ chức giáo hội trung gian và tín hữu khi họ thực hiện trách nhiệm của mình, coi trọng các đặc sủng và kỹ năng, đồng thời tránh mọi hình thức của chủ nghĩa duy cha chú bóp nghẹt tự do Tin Mừng. Về mặt thực hành, sự tham gia của những người đã được rửa tội vào các quá trình ra quyết định và trách nhiệm chung của họ trong sứ mệnh được thực hiện thông qua các cơ quan tham gia thực sự, chứ không chỉ mang tính hình thức. [115]

88. Đối với cộng đồng Kitô giáo, tình liên đới bắt nguồn từ mầu nhiệm của Chúa Kitô và được nuôi dưỡng bởi Bí tích Thánh Thể. Tình liên đới nảy sinh từ sự hiệp thông trong đức tin và các Bí tích: Bí tích Rửa tội và Bí tích Thêm sức kết hợp chúng ta trong Chúa Kitô, để chúng ta trở thành một Thân Thể và một Thần Khí, một Tâm Hồn và một Linh Hồn (xem Ê-phê-sô 4:4; Công vụ 4:32). Bí tích Thánh Thể, là bí tích của sự hiệp nhất, nuôi dưỡng sự thuộc về Thân Thể Chúa Kitô của chúng ta và dạy chúng ta cách chia sẻ. Sự đa dạng về cảm nhận trong Giáo hội và những niềm tin mạnh mẽ thúc đẩy mỗi người là nguồn phong phú nếu chúng được neo giữ trong sự chắc chắn rằng sự hiệp nhất là một ơn ban đã nhận được và là một trách nhiệm cần phải hoàn thành.

89. Sống công lý trong Giáo hội có nghĩa là thanh lọc các mối quan hệ và cấu trúc Giáo hội khỏi những sự méo mó dẫn đến bất bình đẳng, thiếu minh bạch và lạm dụng quyền lực. Về vấn đề này, lắng nghe các nạn nhân của sự lạm dụng về tinh thần, kinh tế, định chế, tình dục và quyền lực, cũng như lạm dụng lương tâm, là một phần không thể thiếu của hành trình hướng tới công lý, bao gồm việc thừa nhận những tổn hại đã gây ra, bồi thường công bằng và thực hiện các bước để ngăn chặn điều đó xảy ra lần nữa. Mọi quyền lực đều phục vụ cho sự hiệp thông và sứ mệnh. Mọi thẩm quyền đều phục vụ dân Chúa. Thừa tác vụ phục vụ này được phát biểu không những qua đức tin của chúng ta được cử hành và sống trong các Bí tích, và trong việc áp dụng phong cách đồng nghị, mà còn trong việc chia sẻ của cải cụ thể. Theo gương của Giáo hội sơ khai, các nguồn lực của Giáo hội cần được chia sẻ để không ai trong chúng ta phải thiếu thốn (xem Công vụ 4:34), và để việc quản lý chúng có thể hỗ trợ sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo nhất. Việc đánh giá thường xuyên việc thực hiện các trách nhiệm mục vụ nên được khuyến khích, không phải như những phán xét đối với cá nhân, mà như những công cụ để học hỏi và sửa chữa hướng tới sứ mệnh. [116] Chỉ khi nào chúng ta mở lòng đón nhận sự tác động của Chúa Thánh Thần thì những nguyên tắc của Học thuyết Xã hội này mới được nhập thể trong đời sống Giáo hội. Bằng cách này, Giáo hội sẽ có thể làm chứng đáng tin cậy cho xã hội rằng việc cùng nhau tìm kiếm lợi ích chung, với trách nhiệm chung và tình huynh đệ, không phải là không tưởng, nhưng là một khả thể thực sự. (117)

Kỳ tới: Chương Ba