Hình ảnh Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI, chụp ngày 20 tháng 1 năm 2006. Giuseppe Ruggirello qua Wikimedia (CC BY-SA 3.0).


Năm tới sẽ đánh dấu kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Joseph Ratzinger. Nhân dịp này, Edgar Beltrán của tạp chí The Pillar có phỏng vấn Cha Regoli, tân chủ tịch của Quỹ Ratzinger, về vị giáo hoàng quá cố người Bavaria. Bài phỏng vấn được đăng tải trong bản tin ngày 1 tháng 3, năm 2026 của The Pillar:

Là vị Giáo hoàng đầu tiên từ chức trong gần 700 năm, Đức Bê-nê-đic-tô cũng được biết đến như một trong những nhà trí thức Công Giáo có tầm ảnh hưởng nhất của thời hiện đại. Tác phẩm của ngài trải rộng trên các lĩnh vực thần học cơ bản, Kinh Thánh, triết học, thần học chính trị và thần học phụng vụ.

Ratzinger từng là giáo sư thần học ở Đức, cố vấn tại Công đồng Vatican II, tổng giám mục Munich và Freising, Bộ trưởng Thánh bộ Giáo lý Đức tin, và cuối cùng là giáo hoàng. Ngài để lại một khối lượng học thuật đồ sộ tiếp tục định hình cuộc tranh luận thần học ngày nay.

Để thảo luận về tác động lâu dài của di sản trí thức của ngài, The Pillar đã trò chuyện với Cha Roberto Regoli, người được bổ nhiệm làm chủ tịch Quỹ Ratzinger vào tháng Giêng.

Cha Regoli nhận bằng tiến sĩ lịch sử Giáo hội từ Đại học Giáo hoàng Gregorian năm 2001 và đã giảng dạy lịch sử Giáo hội đương đại ở đó từ năm 2005. Ngài từng là giám đốc khoa lịch sử Giáo hội của trường đại học từ năm 2015 đến năm 2024 và là biên tập viên của tạp chí Archivum Historiae Pontificiae.

Cha cũng là tác giả của cuốn “Vượt qua khủng hoảng trong Giáo hội: Triều đại Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI” (Nhà xuất bản St. Augustine, 2024), cùng nhiều tác phẩm khác về lịch sử Giáo hội hiện đại và đương đại.

Hiện tại, Cha Regoli là chuyên viên nghiên cứu thỉnh giảng của Sáng kiến Nghiên cứu Công Giáo Toàn cầu tại Trung tâm Đạo đức và Văn hóa de Nicola thuộc Đại học Notre Dame, chuyên nghiên cứu về ngoại giao của Vatican từ Cách mạng Pháp đến nay.

Cuộc phỏng vấn được thực hiện bằng tiếng Ý và đã được biên tập lại cho ngắn gọn và rõ ràng hơn.

Cha Roberto Regoli. Ảnh do cung cấp


Giờ đây gần tới một trăm năm từ ngày sinh của Ratzinger, cha tin điều gì là di sản trí thức chính của ngài? Đây là một câu hỏi khá rộng, nhưng chúng ta có thể thu hẹp nó theo nghĩa di sản của ngài liên quan tới đức tin, một điều xem ra có vẻ giống như một câu trả lời tầm phào đối vớ một vị giáo hoàng hay bất cứ Ki-tô hữu nào. Nhưng điều gì hết sức đặc biệt về ngài?

Đó là ngài, trong tư cách một nhà thần học trẻ, tổng giám mục Munich, Hồng Y bộ trưởng Tòa Thánh và giáo hoàng – tập trung toàn bộ nghiên cứu thần học và hoạt động cai quản của mình vào việc trình bày hình ảnh Chúa Kitô một cách trực tiếp cho tất cả các tín hữu.

Ngay cả khi làm giáo hoàng, khi ngài viết ba tập sách về Chúa Giêsu thành Na-da-rét, điều này đã cho chúng ta hiểu rằng ưu tiên của ngài là rao giảng về Chúa Kitô và làm cho Người dễ tiếp cận. Một Chúa Kitô được trình bày không thỏa hiệp, nghĩa là được trình bày một cách toàn diện và trọn vẹn, với những đòi hỏi của Người và với vẻ đẹp của việc theo Người. Ngài chưa bao giờ là một mục tử hay một nhà thần học trình bày một Chúa Giêsu mềm yếu, một Chúa Giêsu dễ dãi.

Nhưng cũng không phải là một Chúa Giêsu cứng cỏi, một Chúa Giêsu đứng đó muốn lên án. Ratzinger trình bày một Chúa Giêsu trọn vẹn, với những đòi hỏi của Người và với vẻ đẹp của cuộc gặp gỡ giữa đức tin và chân lý. Di sản của Ratzinger, đối với Giáo hội ngày nay và Giáo hội tương lai, là sự rao giảng trọn vẹn về Chúa Kitô. Điều khiến tôi ấn tượng là Ratzinger vẫn chịu trách nhiệm cho nhiều người trở lại đạo, những người xin được rửa tội hoặc những người đã là thành viên của một cộng đồng Kitô giáo và xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Họ thường đọc các tác phẩm của Ratzinger, và điều này khiến tôi nghĩ rằng triều đại giáo hoàng và công trình trí thức của ngài đã mang lại nhiều thành quả trong việc đưa mọi người đến với đức tin.

Một số người sẽ mô tả thần học của Ratzinger như một kinh nghiệm sống về đức tin – nói cách khác, một nền thần học được đặc trưng bởi lòng đạo đức bản thân mãnh liệt. Đức tin được sống mãnh liệt của Ratzinger đã ảnh hưởng đến thần học của ngài như thế nào?

Ratzinger tìm thấy sự thống nhất trong cuộc sống giữa những gì ngài dạy và những gì ngài sống, và sự thống nhất trong cuộc sống này, mà trung tâm là Chúa Kitô, có thể được tóm tắt tốt nhất bằng một khoảnh khắc khi ngài đã là giáo hoàng hưu trí: ngài đang kỷ niệm 65 năm chức linh mục, tức là chính xác 10 năm trước, và ngài xuất hiện tại Tông điện trước mặt Đức Giáo Hoàng Phanxicô và các Hồng Y, và vào thời điểm đó, ngài nói về kinh nghiệm đức tin của cuộc gặp gỡ Thánh Thể với Chúa Kitô như một sự biến đổi toàn bộ thực tại. Thông thường, khi chúng ta nói về khái niệm thần học về sự biến đổi bản thể, chúng ta nói về bánh Thánh Thể biến thành một thứ khác, trở thành thân thể Chúa Kitô, nhưng theo quan điểm của Ratzinger, sự biến đổi bản thể cũng liên quan đến đời sống của tất cả các tín hữu và hơn nữa, của toàn thế giới.

Nói cách khác, cái nhìn thần học và kinh nghiệm của ngài đã dẫn ngài đến tầm nhìn rộng lớn này, đến nỗi một thuật ngữ thường được tìm thấy trong các tác phẩm nổi tiếng nhất của Ratzinger là “kinh nghiệm về Chúa Kitô”. Đó là một kinh nghiệm dẫn đến sự hoán cải đời sống và do đó dẫn đến sự biến đổi bản thể của thực tại cá nhân tôi và của thế giới xung quanh tôi.

Nói cách khác, sự cam kết về xã hội, chính trị, học thuật, kinh tế, mọi cam kết của người Kitô hữu, không tách rời khỏi kinh nghiệm về Chúa Kitô, mà là một kinh nghiệm trọn vẹn về Chúa Kitô, được biến đổi bởi cuộc gặp gỡ đó. Điều này rất rõ ràng trong các bài diễn thuyết và văn bản của Ratzinger. Có một sự thống nhất trong cuộc sống, đó không phải là đề xuất về một Kitô giáo sống trong những ngăn riêng biệt có thể tách rời, mà là một sự thống nhất hoàn toàn.

Trong quá khứ, đôi khi dường như nền chính thống trong thần học bị giới hạn ở việc bảo vệ một số khái niệm giáo lý nhất định, nhưng Ratzinger dường như cảnh báo chúng ta chống lại điều này. Đâu là tầm nhìn của ngài?

Ratzinger là một nhân vật phi điển hình của Công Giáo thế kỷ XX bởi vì ngài là người bảo đảm cho toàn bộ truyền thống thần học và huấn quyền, nhưng cũng có khả năng sáng tạo bản vị nhờ trí hiểu và đức tin của mình, cho phép ngài đề xuất các giải pháp đổi mới.

Vào thời điểm đó, ngài thường bị một số giới duy truyền thống hiểu lầm vì ngài không được coi là một người theo chủ nghĩa Thomist hay tân Thomist, mà là một người có loại thần học khác. Trong giới “tiến bộ”, họ coi ngài là một người bảo vệ đức tin, hay là “chó Rottweiler của Chúa”, như họ gọi ngài. Một số người cũng gọi ngài là “chó chăn cừu Đức”, một lời xúc phạm dựa trên sự mơ hồ của thuật ngữ này.

Vì vậy, ngài vẫn bị hiểu lầm rất nhiều vì ngài đã cố gắng tổng hợp cái cũ và cái mới, theo cách làm thần học rất Công Giáo trong thời đại đương thời, nói về sự phát triển tín lý. Không có một kho tàng đức tin tĩnh tại, mà là một kho tàng đức tin thực sự với nội dung rõ ràng, ngày càng được làm sáng tỏ hơn qua nhiều thế kỷ.

Cả với tư cách là người đứng đầu Thánh Bộ Giáo lý Đức tin và với tư cách là Giáo hoàng, khi ngài nói với chúng ta về cải cách trong sự liên tục của Giáo hội, chính là để giữ vững những gì đã có trước đây và những thách thức của thời đại hiện nay.

Cơn cám dỗ nào đang hiện diện trong Công Giáo ngày nay?

Chúng ta coi Công Giáo như một bảo tàng, với những hiện vật quý giá và tuyệt đẹp từ quá khứ, nhưng chỉ được trưng bày trong tủ kính để chiêm ngưỡng, trong khi những người khác lại muốn đáp ứng nhu cầu của thời đại nhưng lại muốn vứt bỏ tất cả những giá trị quý báu của quá khứ.

Ratzinger nhận thấy rằng thách thức thực sự là làm thế nào để dung hòa những khía cạnh này sao cho truyền thống Công Giáo, tức là nội dung của đức tin, không gì khác hơn là cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô hằng sống, có thể tiếp tục trong các thế hệ sau, bởi vì trách nhiệm của các mục tử là làm cho Chúa Kitô trở nên dễ tiếp cận, nghĩa là đảm bảo rằng cộng đồng tín hữu là nơi trải nghiệm Chúa Kitô và là nơi mà Chúa Kitô có thể đến với các thế hệ mới.

Ngài rất tâm huyết với ý tưởng này vào thời điểm mà Giáo hội những năm 1960, 1970, và thậm chí cả những năm 1980 đang trải qua nhiều căng thẳng và xung đột giữa các mục tử và giám mục với các linh mục của họ, hoặc giáo dân với các linh mục quản xứ. Chúng ta đã có những khoảnh khắc căng thẳng và hiểu lầm lớn, vì vậy việc đóng vai trò người mang lại sự cân bằng cho hệ thống Công Giáo đã khiến ngài phải nhận nhiều lời chỉ trích.

Nhưng đó là cái giá mà ngài phải trả vì đã cố gắng giữ gìn sự hiệp nhất của Giáo Hội Công Giáo mà không nhượng bộ, mà nói lên tất cả những gì cần tin về Chúa Kitô và đức tin.

Trong công nghị gần đây nhất, nhiều Hồng Y đã nói về việc truyền giáo như một “sự trở về với những điều cơ bản”, một khái niệm được Ratzinger nhấn mạnh nhiều lần trong các tác phẩm của ngài. Tầm nhìn của Ratzinger có thể giúp chúng ta định hình sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội như thế nào?

Sự trở về với cội nguồn có thể được hiểu theo hai cách thiết yếu. Thứ nhất là một nỗ lực mang tính trí thức, nghĩa là chúng ta phải quay trở lại việc học tập. Học tập các văn bản cơ bản, học tập các nguồn tài liệu. Nghĩa là, tất cả các cuộc cải cách mà chúng ta đã có trong thế kỷ 20, bao gồm cả những cuộc cải cách của Công đồng Vatican II, đều có thể thực hiện được bởi vì trong những thập kỷ trước, thậm chí cả trong thế kỷ trước đó, người ta đã rất chú trọng đến các nguồn tài liệu: Kinh Thánh, phụng vụ và các Giáo phụ.

Khi có thể quay trở lại những cội nguồn đó, người ta cũng có cơ hội tạo ra các đề xuất tiếp nối những nguồn tài liệu đó nhưng được điều chỉnh cho phù hợp với thời đại mới. Nhưng điều gì đã xảy ra sau Công đồng Vatican II?

Có những người, có lẽ không được chuẩn bị về mặt trí thức, vì muốn thích nghi với thời đại mới, đã làm giảm giá trị đáng kể thông điệp Tin Mừng.

Sự sáng tạo dựa trên kiến thức vững chắc về cội nguồn là sự sáng tạo cho phép chúng ta tiếp tục làm giàu thêm kho tàng đức tin. Khi sự sáng tạo không có gốc rễ, nó trở thành sự tầm thường hóa đề xuất của Kitô giáo, khiến cho đề xuất đó trở nên hoàn toàn không hấp dẫn.

Về mặt trí thức, đó là vấn đề quay trở lại nguồn gốc, quay trở lại việc nghiên cứu nghiêm túc. Đoạn văn khác được tìm thấy trong nhiều bài diễn thuyết của Ratzinger là đoạn trình bày cộng đồng tín hữu như một cộng đồng lôi cuốn bởi vì giữa các tín hữu, họ có thể tuân theo luật bác ái theo yêu cầu của sự thánh thiện.

Nghĩa là, Ratzinger thường nói về cộng đồng tín hữu như một kinh nghiệm về tình bạn trong Chúa Kitô. Điều này, sau đó ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của cuộc sống. Khi chính ngài nói về Giáo hội như một “thiểu số sáng tạo”, ngài không đề cập đến một thiểu số thực sự mang tính trí thức hay tổ chức. Từ quan điểm xã hội học lý luận, một thiểu số sáng tạo là một thiểu số có tổ chức, tự đặt ra mục tiêu và biết cách đạt được chúng bằng cách thu hút người khác tham gia.

Nhưng thiểu số sáng tạo của Ratzinger là một thiểu số nói về một cộng đồng tín hữu được xây dựng trên tình bạn trong Chúa Kitô. Vì vậy, nếu một mặt cần phải quay về cội nguồn, thì kinh nghiệm quay về nguồn gốc này—và tôi dùng thuật ngữ kinh nghiệm, như chúng ta đã nói trước đó, bởi vì đó là một từ rất được Ratzinger yêu thích—không chỉ đơn thuần là điều gì đó mang tính trí thức, mà trở thành một kinh nghiệm cơ bản, thực tế trong một cộng đồng tín hữu.

Điều này cho chúng ta thấy cách để kết hợp thần học, giáo lý và mục vụ. Chúng ta thường có nguy cơ muốn tách rời thần học khỏi mục vụ, như thể thần học làm phức tạp mọi thứ đối với mục vụ hoặc mục vụ là sự tầm thường hóa thần học. Trong đề xuất của Ratzinger, cũng là cách mà Giáo hội đã sống trong nhiều thế kỷ, hai khía cạnh này nhất thiết phải đi cùng nhau.

Chỉ khi có thần học, tức là một tư tưởng vững chắc, người ta mới có thể đưa ra một đề xuất mục vụ có ý nghĩa. Và chúng ta thấy điều này trên khắp thế giới, nơi các Giáo hội địa phương có mối liên hệ chặt chẽ với giáo huấn thần học và truyền thống tâm linh của Kitô giáo qua nhiều thế kỷ, chúng ta cũng có nhiều sự hoán cải hơn. Các con số rất đáng chú ý.

Nếu chúng ta nhìn vào Pháp, các nước Scandinavia và chính Hoa Kỳ, nơi chúng ta có những cộng đồng sống động, nơi mọi người cầu nguyện, nơi có một đề xuất thần học, chúng ta có sự hoán cải. Nói cách khác, sự phong phú trong đề xuất của Ratzinger đã được chuyển đến nhiều nơi trên thế giới, bởi vì đó là cách duy nhất để Giáo hội có thể sống động ngày nay.

Cha đã đề cập đến cám dỗ tách rời thần học khỏi mục vụ, điều thường xảy ra trong lĩnh vực thần học luân lý. Trong suốt cuộc đời mình, Ratzinger đã bảo vệ khả năng nhận biết chân lý luân lý trong thời kỳ hỗn loạn của thế giới và Giáo hội. Làm thế nào thần học của ngài có thể giúp Giáo hội đối diện với những thách thức đương thời trong lĩnh vực này?

Ratzinger không phải là một nhà thần học luân lý, nhưng cách tiếp cận thần học và giáo huấn của ngài cũng giúp ích cho thần học luân lý. Và ở bình diện huấn quyền, triều giáo hoàng của ngài cũng rất phù hợp với các vị tiền nhiệm là Thánh Gio-an Phao-lô II – người mà Ratzinger là linh hồn thần học của triều đại giáo hoàng đó – và Thánh Phao-lô VI.

Chúng ta đã thấy rằng tất cả các vị giáo hoàng này đều đưa ra một đề xuất có tính minh bạch thần học và giáo huấn cao, mặc dù xã hội phương Tây trong những năm 1960 và 1970 rất phản đối quan điểm này. Hãy nghĩ đến cuộc cách mạng tình dục, bao cao su, việc sử dụng thuốc tránh thai, một quan niệm mới về cơ thể con người, về các mối quan hệ.

Đề xuất của Kitô giáo hoàn toàn đi ngược lại văn hóa trong khuôn khổ này. Nhưng tại sao Giáo hội vẫn tiếp tục đề xuất những điều này trong thần học luân lý? Bởi vì Giáo hội coi đó là điều chạm đến tận trái tim và đời sống của Giáo hội.

Sẽ thuận tiện hơn nhiều nếu nói, “Hãy làm những gì bạn muốn,” nhưng thay vào đó, đề xuất của Giáo hội là muốn nói về lòng bác ái và sự trong sạch như là hệ quả của khả năng yêu thương.

Đó là một đề xuất không thể giải quyết bằng một dòng tweet hay một đoạn video ngắn trên Instagram, mà đòi hỏi sự đào tạo về trí thức, tâm linh, tình cảm và nhân cách. Diễn ngôn Kitô giáo trong chân lý của nó là một diễn ngôn đòi hỏi khắt khe bởi vì nó nói một cách toàn diện, nghĩa là, đến tất cả các chiều kích của con người. Không có chiều kích nào bị loại trừ.

Và vì lý do này, những đòi hỏi của đời sống Kitô giáo trong một thế giới nhịp độ nhanh, nơi mà giới trẻ ngày nay chỉ có vài giây chú ý để xem video, là một đề xuất đầy thách thức. Nhưng chúng ta đang thấy rằng chính xác ở những xã hội có vẻ thế tục hóa hơn, nhu cầu về tâm linh đang đưa nhiều người trẻ trở lại với Kitô giáo, trở lại với Công Giáo, với nhiều lễ rửa tội và nhiều người trở lại đạo từ các giáo phái khác sang Công Giáo, bởi vì Công Giáo đưa ra một đề xuất toàn diện, bao gồm tất cả các khía cạnh của hiện hữu, kể cả đạo đức.

Trong bài giảng về nền tảng tiền chính trị của nhà nước tự do, Ratzinger đặt câu hỏi liệu nhà nước dân chủ tự do có thể tự tạo ra những nền tảng đạo đức cần thiết để tồn tại hay không. Những hiểu biết của ngài có thể ảnh hưởng như thế nào đến học thuyết xã hội của Giáo hội và tư tưởng chính trị-xã hội Công Giáo?

Ngay cả khi nói về sự tham gia chính trị, tầm nhìn về nhà nước và học thuyết xã hội của Giáo hội, chúng ta cũng phải xem xét các bối cảnh lịch sử và chính trị khác nhau mà chúng ta đang sống.

Ở châu Âu, đã có kinh nghiệm về các đảng phái lấy cảm hứng từ Kitô giáo. Ở Hoa Kỳ, không có kinh nghiệm như vậy vì có một mô hình phân lập rõ ràng hơn nhiều, nhưng với một xã hội Kitô giáo sâu sắc. Nhiều Cha già lập quốc đã nói rằng để hiểu và đưa Hiến pháp vào thực thi, cần phải có xã hội Kitô giáo tạo ra Hiến pháp đó.

Khái niệm về nhà nước là kết quả của tư duy triết học, tư duy pháp lý, nhưng cũng nhất thiết là tư duy tôn giáo. Ở lục địa châu Âu cũ, tôn giáo ngày càng bị gạt sang một bên, nhưng tôn giáo cũng đã tạo ra các phạm trù khái niệm của nhà nước hiện đại. Chúng ta không thể tách rời sự kiện có một đóng góp của tôn giáo.

Bản chất thế tục của nhà nước chỉ ra một phương pháp, chứ không phải một nội dung. Đến mức chính Ratzinger đã đặt ra câu hỏi về luật pháp liên quan đến các vấn đề cơ bản về đạo đức con người, nơi các vấn đề cơ bản liên quan đến chân lý của con người không thể để cho sự tùy ý của đa số phiếu, nghị viện, hay bất cứ điều gì khác quyết định.

Cha thấy tương lai của Quỹ Ratzinger như thế nào, đặc biệt là khi lễ kỷ niệm 100 năm sắp đến?

Đây là một cơ hội không thể bỏ lỡ. Lễ kỷ niệm 100 năm này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho công việc của quỹ vì nó đòi hỏi chúng ta phải tập trung vào một điều cụ thể. Ngày 16 tháng 4 này đánh dấu kỷ niệm 99 năm ngày sinh của Ratzinger, có nghĩa là chúng ta đang bước sang năm thứ 100 của ngài.

Chúng tôi có nhiều sáng kiến đang được triển khai, một số mang tính chất trí thức và học thuật hơn, số khác hướng đến công chúng hơn, vì vậy chúng tôi sẽ tổ chức các sự kiện trên khắp các châu lục, hội nghị, bài giảng, khóa học, ấn phẩm, triển lãm và thậm chí cả hòa nhạc.

Nói cách khác, chúng tôi muốn giới thiệu Ratzinger không chỉ đơn thuần như một ký ức về quá khứ mà còn cho thấy di sản của ngài liên quan đến hiện tại và tương lai. Vì vậy, đây không chỉ đơn thuần là việc thuật lại tư tưởng của Ratzinger. Thay vào đó, công việc của quỹ là làm thế nào để tư tưởng của Ratzinger có thể trở thành động lực cho các cuộc tranh luận thần học, triết học và văn hóa hiện nay.

Chúng tôi không quan tâm đến một bảo tàng hay một công viên khảo cổ thần học, mà quan tâm đến cuộc tranh luận văn hóa hiện tại, và Ratzinger là một điểm tham chiếu sống động cho nhiều trí thức và tiếp tục là điểm tham chiếu cho nhiều người trẻ, những người trong các nghiên cứu thần học và triết học của họ, quan tâm đến việc tìm kiếm chân lý Kitô giáo.