CÁC MẦU NHIỆM SỰ SÁNG TRONG KINH MÂN CÔI (Phần 1)
Để góp phần vào việc suy niệm cách sâu xa hơn các mầu nhiệm trong chuỗi Mân Côi trong tháng Mân Côi sắp tới, xin tạm dịch và gửi đến bạn đọc Vietcatholic bài viết của giáo sư thánh kinh nổi tiếng Wilfrid J. Harrington, O.P. (Spirituality, Vol. 9, n. 47, March/April 2003, pp. 80-85) về một số ý nghĩa kinh thánh của các mầu nhiệm Sự Sáng trong Kinh Mân Côi. KT
Toàn bộ Kinh Mân Côi là kinh nguyện phát xuất từ Kinh Thánh, là lời cầu nguyện của Tân Ước. Không những chỉ vì Kinh Lạy Cha và một phần của Kinh Kính Mừng là kinh nguyện phát xuất trực tiếp từ Phúc Âm, nhưng còn vì hầu hết các “mầu nhiệm” được suy niệm trong kinh Mân Côi cũng là những sự kiện trong Phúc Âm. Các mầu nhiệm Vui suy niệm về cuộc đời thơ ấu của Chúa Giêsu, trích từ hai chương đầu của Phúc Âm theo thánh Luca. Các mầu nhiệm Thương dựa trên trình thuật về cuộc khổ nạn của bốn Phúc Âm. Các mầu nhiệm Mừng suy niệm về các biến cố sau cùng trong Phúc Âm và việc mở ra kỷ nguyên mới của Chúa Thánh Thần và của Giáo Hội.
Tuy nhiên, Kinh Mân Côi vẫn còn thiếu sót, các mầu nhiệm Vui chỉ suy niệm đến việc Chúa Giêsu trong Đền thờ khi ngài lên mười hai tuổi. Các mầu nhiệm Thương bắt đầu với biến cố trong vườn Giếtsêmani. Không có “mầu nhiệm” nào suy niệm về các sứ vụ công khai của Chúa Giêsu! Hiển nhiên là không thể thực sự hiểu được cái chết của Chúa Giêsu nếu không đặt nó trong bối cảnh của cuộc sống ngài. Cái chết của ngài không đơn thuần - ngài bị giết chết. Ngài bị lên án chết chính vì chứng từ của ngài, vì những gì ngài sống, những gì ngài làm trong suốt sứ vụ của mình. “Các con bảo thầy là ai?” là một thách đố của Chúa Giêsu cho chúng ta trong Phúc âm theo thánh Marcô (Mc 8:29).
Câu trả lời không chỉ qua cái chết của Ngài mà thôi nhưng còn qua những gì đưa đến cái chết này. Việc Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thêm vào - hay nói đúng hơn là lồng vào - những mầu nhiệm Sự Sáng đã tạo cho kinh Mân Côi thành kinh nguyện cân xứng hơn.
Trong các mầu nhiệm Sự Sáng: Chúa chịu Phép Rửa, tiệc cưới Cana, rao giảng Nước Trời, Biến Hình, và lập Phép Thánh Thể ở nhà Tiệc Ly, Chúa Giêsu là trung tâm điểm. Trong khi các Phúc Âm trình bày về ngài phản ánh việc gặp gở với Chúa Phục Sinh, nhưng thực sự ngài còn là Giêsu người Nagiarét. Ngài là đấng “được sinh ra bởi người nữ, và sống dưới lề luật” (Gl 4:4), đấng “giống như anh chị em mình trong mọi sự” (Dt 2:17). Đây là sự thật cần được nhấn mạnh. Nó rất quan trọng để có được một Kitô học quân bình. Các mầu nhiệm Sự Sáng tỏ lộ Sự Sáng là sự sáng cho thế gian, là sự sống cho thế gian. Các mầu nhiệm này mạc khải Ngôi Lời nhập thể. Tự bản chất Kinh Mân Côi là một suy niệm về Con của Mẹ Maria, đấng là mạc khải và là sự hiện diện của Thiên Chúa.
MẦU NHIỆM
Chúng ta cũng cần quan tâm đến từ “mầu nhiệm” ở đây. Theo cách dùng chung chung, “mầu nhiệm” có nghĩa là những gì ẩn dấu chưa được nhận thức được. Trong sách giáo lý cũ, mầu nhiệm được định nghĩa là ‘chân lý đã được mạc khải nhưng chúng ta chưa hiểu thấu’. Trong cách dùng của KinhThánh - là cách chúng ta theo ở đây- mầu nhiệm (misterion) không còn có nghĩa huyền bí! Một “mầu nhiệm” là một chương trình hay mục đích mà Thiên Chúa ẩn dấu trong quá khứ nhưng nay đã được mạc khải (xem Rm 11:15-16). Thư gửi tín hửu Colossê nói về “mầu nhiệm” được Thiên Chúa giữ kín từ lâu nhưng nay đã “biểu lộ cho dân người” (Col 1:26). Điều nổi bật ở đây là ‘mầu nhiệm’ được đồng nhất hóa với con người Chúa Giêsu Kitô. Nói tóm lại, mầu nhiệm là điều được tỏ lộ. Các mầu nhiệm kinh Mân Côi mạc khải về Chúa Kitô cho chúng ta, đưa chúng ta đến việc thấu hiểu sâu xa hơn về ngài.
PHÉP RỬA
(MC1,9-11; Mt 3,13-17; Lc 3, 21-22; Gn 1,29-34)
Việc lãnh phép rửa của Gioan Tẩy Giả đã đánh dấu việc khởi đầu sứ vu ngắn ngủi nhưng sống động của Chúa Giêsu Nagiarét. Lúc đầu ngài là môn đệ của Gioan, nhưng sau đó ngài thi hành sứ vụ đặc biệt của ngài. Mục đích của ngài là canh tân Israel: đưa Israel về lại những gì mà Chúa muốn cho dân ngài. Trong khi lãnh phép rửa, Chúa Giêsu được long trọng tuyên bố là Con Thiên Chúa, người lãnh đạo Dân Chúa trong thời sau hết, là Chúa của dân người.
Khởi đầu sách Tin Mừng của mình - “Khởi đầu Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (Mc 1,1) - thánh Marcô đã cho người đọc biết về căn tính của Chúa Giêsu. Trong trình thuật phép rửa tiếng nói từ trời (tiếng của Thiên Chúa) tuyên bố: “Con là con yêu dấu của Cha” (1, 11). Khi Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai của mình, Thiên Chúa đã xác định về địa vị và ơn gọi của ngài. Cũng vậy, trong trình thuật biến hình Thiên Chúa Cha cũng tuyên bố cho ba môn đệ hiện diện: “Đây là con yêu dấu của ta, hãy nghe lời người” (9:7). Trong phép rửa và biến hình, Thiên Chúa Cha góp phần chính trong diễn tiến. Trong hai trình thuật Ngài không chỉ tuyên bố Chúa Giêsu là “Con”, nhưng tuyên bố này còn là sự xác nhận. Tuyên bố trong phép rửa xác nhận đầu đề của Tin mừng, tuyên bố trong trình thuật biến hình xác nhận sự thật mà Phêrô tuyên tín Chúa Giêsu là đấng Messia (8,29) - vượt quá những hiểu lầm của Phêrô (cc 32-33). Sau cùng, trong giây phút tuyệt đỉnh của cái chết của Chúa Giêsu lại xuất hiện tước vị Con Thiên Chúa: “Thực người này là Con Thiên Chúa” (15,39).
Viên đội trưởng là người đầu tiên trong Tin Mừng Marcô thấu suốt được bí nhiệm về căn tính của Chúa Giêsu - vì ông là người đầu tiên nhìn nhận ý nghĩa của thánh giá.
Trong Tin Mừng nhất lãm, liền sau phép rửa là trình thuật về cám dổ. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, nhưng giống anh chị em mình trong mọi lãnh vực. Ngài bị thử thách, và ngài đã đưa ra những quyết định cho suốt cuộc đời. “Dù là Ngôi Con, ngài đã học biết vâng phục trong mọi việc ngài chịu đựng” (Dth 5,8). Ngài đã học biết phải trả giá thế nào khi thưa tiếng “xin vâng” với Thiên Chúa, và tiếng xin vâng này đã đưa ngài đến thập giá.
Thánh Phaolô đã tìm được nguồn linh hứng và an ủi nơi Chúa Giêsu: “Cuộc sống mà tôi đang sống trong thân xác này là sống bằng niềm tin vào Con Thiên Chúa, đấng yêu tôi và trao hiến mạng sống ngài cho tôi” (Gal 2,20). Chúa Con trung thành là nguồn nâng đỡ cho chúng ta trong cơn thử thách.
TIỆC CƯỚI Ở CANA
(Gn 2,1-12)
Trình thuật trong chương 2, 1-12 là trình thuật được cấu trúc cẩn thận theo phong cách của phúc âm thánh Gioan và giầu những biểu tượng của phúc âm này. Nhân vật đầu tiên trong câu chuyện này là Mẹ Chúa Giêsu, ngài bắt đầu hành động bằng một thỉnh cầu có tính cách ám chỉ: “Họ hết rượu rồi”. Nước “dành cho việc thanh tẩy theo tập tục Do Thái” được biến thành rượu, biểu trưng cho trật tự cũ đã nhường chổ cho cái mới. Theo thánh sử trình thuật này là biểu trưng cho một điều sẽ xảy diễn suốt sứ vụ của Chúa Giêsu: sự biểu lộ “vinh quang” của Chúa Giêsu. “Vinh quang” là từ ngữ của Phúc âm Gioan dùng chỉ về mạc khải. Mạc Khải, theo Gioan, là việc tự mạc khải của Chúa Giêsu - sự mạc khải viên mãn về Thiên Chúa Cha. Tất cả những cái khác đều bắt nguồn từ đây. Tiệc cưới Cana đánh dấu khoảnh khắc đầu tiên của doxa, ‘vinh quang’. Sự viên mãn của mạc khải là lúc Con Người được “đưa lên”. Ngài là Đấng Được Sai Đến đấng nói Ta Là với sự hiện diện và quyền năng của Thiên Chúa Cha. Ngài đã nói Lời đó trên thánh giá.
“Phúc cho bà vì bà đã tin” (Lc 1,45) - bà Elizabét đã xác đinh được nét đặc thù của Mẹ Maria trong Phúc âm: là người nữ của đức tin. Phúc âm theo thánh Gioan cũng đặc biệt xác nhận điều này. Trong tiệc cưới Cana, Mẹ đã tự mình làm ví dụ, và xin người khác làm, về việc hoàn toàn tín thác vào lời của Con Mẹ. Mẹ trở nên gương mẩu cho mọi tín hữu và là trạng sư cho Con Mẹ. Mẹ đã chỉ vể những điều vượt quá chính Mẹ. Trong cách của Mẹ, Mẹ đã chứng thực tuyên bố của Con Mẹ: ‘Ta là cây nho, chúng con là nhánh…Tách biệt khỏi ta các con không làm được gì’ (Gn 15,5). Va Mẹ tiếp tục khuyên chúng ta: “Hãy làm những gì ngài bảo” (2,5).
Vai trò của Mẹ đuợc tiếp tục xác định trong ‘giờ’ của Con Mẹ. Mẹ và Môn Đệ Yêu Dấu, theo thần học của phúc âm Gioan, là những người tin tuyệt vời nhất. Họ là hạt nhân của một gia đình mới của những người tin. Họ là chứng nhân của ‘giờ’: mạc khải dứt khoát của Thiên Chúa. Và Mẹ được trao phó: ‘đây là con Bà’(19,26). Vì trở nên Mẹ của Môn Đệ Yêu Dấu, Mẹ cũng là Mẹ của mọi Kitô hữu.
Để góp phần vào việc suy niệm cách sâu xa hơn các mầu nhiệm trong chuỗi Mân Côi trong tháng Mân Côi sắp tới, xin tạm dịch và gửi đến bạn đọc Vietcatholic bài viết của giáo sư thánh kinh nổi tiếng Wilfrid J. Harrington, O.P. (Spirituality, Vol. 9, n. 47, March/April 2003, pp. 80-85) về một số ý nghĩa kinh thánh của các mầu nhiệm Sự Sáng trong Kinh Mân Côi. KT
Toàn bộ Kinh Mân Côi là kinh nguyện phát xuất từ Kinh Thánh, là lời cầu nguyện của Tân Ước. Không những chỉ vì Kinh Lạy Cha và một phần của Kinh Kính Mừng là kinh nguyện phát xuất trực tiếp từ Phúc Âm, nhưng còn vì hầu hết các “mầu nhiệm” được suy niệm trong kinh Mân Côi cũng là những sự kiện trong Phúc Âm. Các mầu nhiệm Vui suy niệm về cuộc đời thơ ấu của Chúa Giêsu, trích từ hai chương đầu của Phúc Âm theo thánh Luca. Các mầu nhiệm Thương dựa trên trình thuật về cuộc khổ nạn của bốn Phúc Âm. Các mầu nhiệm Mừng suy niệm về các biến cố sau cùng trong Phúc Âm và việc mở ra kỷ nguyên mới của Chúa Thánh Thần và của Giáo Hội.
Tuy nhiên, Kinh Mân Côi vẫn còn thiếu sót, các mầu nhiệm Vui chỉ suy niệm đến việc Chúa Giêsu trong Đền thờ khi ngài lên mười hai tuổi. Các mầu nhiệm Thương bắt đầu với biến cố trong vườn Giếtsêmani. Không có “mầu nhiệm” nào suy niệm về các sứ vụ công khai của Chúa Giêsu! Hiển nhiên là không thể thực sự hiểu được cái chết của Chúa Giêsu nếu không đặt nó trong bối cảnh của cuộc sống ngài. Cái chết của ngài không đơn thuần - ngài bị giết chết. Ngài bị lên án chết chính vì chứng từ của ngài, vì những gì ngài sống, những gì ngài làm trong suốt sứ vụ của mình. “Các con bảo thầy là ai?” là một thách đố của Chúa Giêsu cho chúng ta trong Phúc âm theo thánh Marcô (Mc 8:29).
Câu trả lời không chỉ qua cái chết của Ngài mà thôi nhưng còn qua những gì đưa đến cái chết này. Việc Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thêm vào - hay nói đúng hơn là lồng vào - những mầu nhiệm Sự Sáng đã tạo cho kinh Mân Côi thành kinh nguyện cân xứng hơn.
Trong các mầu nhiệm Sự Sáng: Chúa chịu Phép Rửa, tiệc cưới Cana, rao giảng Nước Trời, Biến Hình, và lập Phép Thánh Thể ở nhà Tiệc Ly, Chúa Giêsu là trung tâm điểm. Trong khi các Phúc Âm trình bày về ngài phản ánh việc gặp gở với Chúa Phục Sinh, nhưng thực sự ngài còn là Giêsu người Nagiarét. Ngài là đấng “được sinh ra bởi người nữ, và sống dưới lề luật” (Gl 4:4), đấng “giống như anh chị em mình trong mọi sự” (Dt 2:17). Đây là sự thật cần được nhấn mạnh. Nó rất quan trọng để có được một Kitô học quân bình. Các mầu nhiệm Sự Sáng tỏ lộ Sự Sáng là sự sáng cho thế gian, là sự sống cho thế gian. Các mầu nhiệm này mạc khải Ngôi Lời nhập thể. Tự bản chất Kinh Mân Côi là một suy niệm về Con của Mẹ Maria, đấng là mạc khải và là sự hiện diện của Thiên Chúa.
MẦU NHIỆM
Chúng ta cũng cần quan tâm đến từ “mầu nhiệm” ở đây. Theo cách dùng chung chung, “mầu nhiệm” có nghĩa là những gì ẩn dấu chưa được nhận thức được. Trong sách giáo lý cũ, mầu nhiệm được định nghĩa là ‘chân lý đã được mạc khải nhưng chúng ta chưa hiểu thấu’. Trong cách dùng của KinhThánh - là cách chúng ta theo ở đây- mầu nhiệm (misterion) không còn có nghĩa huyền bí! Một “mầu nhiệm” là một chương trình hay mục đích mà Thiên Chúa ẩn dấu trong quá khứ nhưng nay đã được mạc khải (xem Rm 11:15-16). Thư gửi tín hửu Colossê nói về “mầu nhiệm” được Thiên Chúa giữ kín từ lâu nhưng nay đã “biểu lộ cho dân người” (Col 1:26). Điều nổi bật ở đây là ‘mầu nhiệm’ được đồng nhất hóa với con người Chúa Giêsu Kitô. Nói tóm lại, mầu nhiệm là điều được tỏ lộ. Các mầu nhiệm kinh Mân Côi mạc khải về Chúa Kitô cho chúng ta, đưa chúng ta đến việc thấu hiểu sâu xa hơn về ngài.
PHÉP RỬA
(MC1,9-11; Mt 3,13-17; Lc 3, 21-22; Gn 1,29-34)
Việc lãnh phép rửa của Gioan Tẩy Giả đã đánh dấu việc khởi đầu sứ vu ngắn ngủi nhưng sống động của Chúa Giêsu Nagiarét. Lúc đầu ngài là môn đệ của Gioan, nhưng sau đó ngài thi hành sứ vụ đặc biệt của ngài. Mục đích của ngài là canh tân Israel: đưa Israel về lại những gì mà Chúa muốn cho dân ngài. Trong khi lãnh phép rửa, Chúa Giêsu được long trọng tuyên bố là Con Thiên Chúa, người lãnh đạo Dân Chúa trong thời sau hết, là Chúa của dân người.
Khởi đầu sách Tin Mừng của mình - “Khởi đầu Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (Mc 1,1) - thánh Marcô đã cho người đọc biết về căn tính của Chúa Giêsu. Trong trình thuật phép rửa tiếng nói từ trời (tiếng của Thiên Chúa) tuyên bố: “Con là con yêu dấu của Cha” (1, 11). Khi Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai của mình, Thiên Chúa đã xác định về địa vị và ơn gọi của ngài. Cũng vậy, trong trình thuật biến hình Thiên Chúa Cha cũng tuyên bố cho ba môn đệ hiện diện: “Đây là con yêu dấu của ta, hãy nghe lời người” (9:7). Trong phép rửa và biến hình, Thiên Chúa Cha góp phần chính trong diễn tiến. Trong hai trình thuật Ngài không chỉ tuyên bố Chúa Giêsu là “Con”, nhưng tuyên bố này còn là sự xác nhận. Tuyên bố trong phép rửa xác nhận đầu đề của Tin mừng, tuyên bố trong trình thuật biến hình xác nhận sự thật mà Phêrô tuyên tín Chúa Giêsu là đấng Messia (8,29) - vượt quá những hiểu lầm của Phêrô (cc 32-33). Sau cùng, trong giây phút tuyệt đỉnh của cái chết của Chúa Giêsu lại xuất hiện tước vị Con Thiên Chúa: “Thực người này là Con Thiên Chúa” (15,39).
Viên đội trưởng là người đầu tiên trong Tin Mừng Marcô thấu suốt được bí nhiệm về căn tính của Chúa Giêsu - vì ông là người đầu tiên nhìn nhận ý nghĩa của thánh giá.
Trong Tin Mừng nhất lãm, liền sau phép rửa là trình thuật về cám dổ. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, nhưng giống anh chị em mình trong mọi lãnh vực. Ngài bị thử thách, và ngài đã đưa ra những quyết định cho suốt cuộc đời. “Dù là Ngôi Con, ngài đã học biết vâng phục trong mọi việc ngài chịu đựng” (Dth 5,8). Ngài đã học biết phải trả giá thế nào khi thưa tiếng “xin vâng” với Thiên Chúa, và tiếng xin vâng này đã đưa ngài đến thập giá.
Thánh Phaolô đã tìm được nguồn linh hứng và an ủi nơi Chúa Giêsu: “Cuộc sống mà tôi đang sống trong thân xác này là sống bằng niềm tin vào Con Thiên Chúa, đấng yêu tôi và trao hiến mạng sống ngài cho tôi” (Gal 2,20). Chúa Con trung thành là nguồn nâng đỡ cho chúng ta trong cơn thử thách.
TIỆC CƯỚI Ở CANA
(Gn 2,1-12)
Trình thuật trong chương 2, 1-12 là trình thuật được cấu trúc cẩn thận theo phong cách của phúc âm thánh Gioan và giầu những biểu tượng của phúc âm này. Nhân vật đầu tiên trong câu chuyện này là Mẹ Chúa Giêsu, ngài bắt đầu hành động bằng một thỉnh cầu có tính cách ám chỉ: “Họ hết rượu rồi”. Nước “dành cho việc thanh tẩy theo tập tục Do Thái” được biến thành rượu, biểu trưng cho trật tự cũ đã nhường chổ cho cái mới. Theo thánh sử trình thuật này là biểu trưng cho một điều sẽ xảy diễn suốt sứ vụ của Chúa Giêsu: sự biểu lộ “vinh quang” của Chúa Giêsu. “Vinh quang” là từ ngữ của Phúc âm Gioan dùng chỉ về mạc khải. Mạc Khải, theo Gioan, là việc tự mạc khải của Chúa Giêsu - sự mạc khải viên mãn về Thiên Chúa Cha. Tất cả những cái khác đều bắt nguồn từ đây. Tiệc cưới Cana đánh dấu khoảnh khắc đầu tiên của doxa, ‘vinh quang’. Sự viên mãn của mạc khải là lúc Con Người được “đưa lên”. Ngài là Đấng Được Sai Đến đấng nói Ta Là với sự hiện diện và quyền năng của Thiên Chúa Cha. Ngài đã nói Lời đó trên thánh giá.
“Phúc cho bà vì bà đã tin” (Lc 1,45) - bà Elizabét đã xác đinh được nét đặc thù của Mẹ Maria trong Phúc âm: là người nữ của đức tin. Phúc âm theo thánh Gioan cũng đặc biệt xác nhận điều này. Trong tiệc cưới Cana, Mẹ đã tự mình làm ví dụ, và xin người khác làm, về việc hoàn toàn tín thác vào lời của Con Mẹ. Mẹ trở nên gương mẩu cho mọi tín hữu và là trạng sư cho Con Mẹ. Mẹ đã chỉ vể những điều vượt quá chính Mẹ. Trong cách của Mẹ, Mẹ đã chứng thực tuyên bố của Con Mẹ: ‘Ta là cây nho, chúng con là nhánh…Tách biệt khỏi ta các con không làm được gì’ (Gn 15,5). Va Mẹ tiếp tục khuyên chúng ta: “Hãy làm những gì ngài bảo” (2,5).
Vai trò của Mẹ đuợc tiếp tục xác định trong ‘giờ’ của Con Mẹ. Mẹ và Môn Đệ Yêu Dấu, theo thần học của phúc âm Gioan, là những người tin tuyệt vời nhất. Họ là hạt nhân của một gia đình mới của những người tin. Họ là chứng nhân của ‘giờ’: mạc khải dứt khoát của Thiên Chúa. Và Mẹ được trao phó: ‘đây là con Bà’(19,26). Vì trở nên Mẹ của Môn Đệ Yêu Dấu, Mẹ cũng là Mẹ của mọi Kitô hữu.