Bình luận của Linh mục Raymond J. de Souza trên báo National Post

Quyết định được công bố ngày 20 tháng 10 tại Rome nhằm thiết lập cơ cấu cho các tín đồ Anh giáo trở lại theo Công giáo bằng hình thức đoàn thể, trong khi vẫn duy trì được nhiều truyền thống Anh giáo của họ, là một biến cố lịch sử. Và, thường thì trong Giáo hội Công giáo mỗi khi một sự việc có tính cách thực sự lịch sử xảy ra, người ta thấy đó lại là sự phục hồi những việc cũ xưa hàng nhiều thế kỷ.

Đức giáo hoàng Benedict sẽ cho phép những người tin vào những tín điều người Công giáo tin – nhiều người trong số này tự xưng là “tín đồ Anh giáo truyền thống” hoặc “người Công giáo-Anh giáo” – được trở thành tín hữu Công giáo hàng loạt, và những giáo xứ, những giáo phận sẽ được thành lập cho họ để những người đó vẫn duy trì được các truyền thống riêng của mình. Các giáo xứ và giáo phận thường có tính cách lãnh địa, có nghĩa là chúng ta thuộc quyền một giáo xứ hay một giáo phận nào là tùy vào khu vực chúng ta sinh sống.

Nhưng trong thực hành nơi Giáo hội lại có rất nhiều ngoại lệ: có các giám mục đã được chỉ định để chăm sóc cho quân nhân rải rác trong cả nước hay khắp thế giới; những giáo phận ngoài lãnh địa, gọi là "prelatures" (giám hạt), dành cho các nhóm người liên hệ tới những tập tục phụng vụ nào đó hay những quy lệ trong cuộc sống nào đó (chẳng hạn như tổ chức Nhà Chúa Opus Dei ); những dự liệu dành cho các nhóm chủng tộc – chẳng hạn từ lâu đã có một vị giám mục ở Toronto phụ trách chăm sóc cộng đồng người Hungary.

Đáng chú ý hơn cả, khoảng 400 năm trước, một sự đổ vỡ đã được hàn gắn với những người Công giáo Hy lạp miền đông đã tách rời khỏi Rome để đi theo Constantinople. Khi trở về vào năm 1595, họ được phép duy trì các truyền thống về phụng tự và các hình thức quản trị riêng, tuy khẳng định hiệp nhất hoàn toàn về đức tin và hiệp thông hoàn toàn với Rome. Còn dân chúng Canada rất quen thuộc với những người Công giáo Ukraine, sinh sống đông đảo đặc biệt tại vùng phía Tây Canada; họ là những người Công giáo hoàn toàn nhưng vẫn duy trì và thực hành nghi lễ phụng tự Đông phương. Quả vậy, trong Giáo hội Công giáo có tới gần hai chục nhóm theo “Nghi lễ Đông phương”, tất cả đều theo tập tục riêng rõ rệt, có cả những linh mục đã kết hôn (nhưng giám mục thì độc thân).

Trong những năm gần đây Tòa thánh Vatican đã nhận được hàng trăm thỉnh nguyện từ các giám mục và linh mục Anh giáo xin thiết lập những cơ cấu hội nhập, và Tông hiến (Apostolic Constitution, hoặc Hiến chế Tông toà) -- nói theo giáo luật thì là một văn kiện luật pháp của Đức giáo hoàng -- mới được loan báo hôm qua là lời phúc đáp cho những thỉnh cầu đó.

Tòa thánh tuyên bố: “Bằng hình thức này, Tông hiến tìm cách quân bình, một mặt mối quan tâm muốn duy trì di sản tinh thần và phụng vụ xứng đáng của Anh giáo, mặt khác là mối quan tâm rằng những nhóm này và hàng giáo phẩm của họ sẽ được hội nhập vào Giáo hội Công giáo.”

Di sản

Những người Công giáo ở các quốc gia nói tiếng Anh từ nhiều thế hệ đã thán phục di sản của Anh giáo, đặc biệt là nghi thức phụng vụ và thánh nhạc. Sẽ là một tin để rất vui khi di sản này chẳng bao lâu nữa sẽ làm phong phú thêm phụng tự Công giáo. Những phong phú trong phụng tự của người Công giáo Hy lạp được tháp lại vào cây nho Công giáo sau những chia cách xảy ra vào thế kỷ thứ 11 thế nào, thì bước khiêm tốn này, khi lần đầu tiên có sự tháp ghép lại vào cây nho từ phía những người Kitô giáo Tây phương bị chia cách từ thế kỷ 16, cũng rất giống như thế.

Tuy người Công giáo không thể tán thành sự chia rẽ trong Giáo hội do vua Henri VIII mang đến, đừng nói gì về những bách hại bạo tàn của ông ta, mà về điều tôn quý còn sót lại trong những phát triển kế tiếp của Anh giáo. Tín đồ Anh giáo nay bị chia rẽ về phương cách thích ứng truyền thống đó vào những hoàn cảnh ngày nay, và một thiểu số quyết định rằng phương cách độc nhất trước mặt là trở về hiệp thông hoàn toàn với Giáo hội Công giáo. Quyết định của Đức giáo hoàng Benedict là một quyết định quảng đại và cấp tiến, thích ứng tất cả những mới mẻ nào có thể thích nghi được trong phạm vi thực thi đức tin ngày trước.

Tổng giám mục Canterbury là Tiến sĩ Rowan Williams, hôm qua bình luận rằng đây không phải là một “hành động xâm lấn” của người Công giáo, nhưng trái lại là một dấu chỉ cho biết có bao nhiêu điều người Công giáo và người Anh giáo cùng chia sẻ chung với nhau. Thực tế là những gì liên kết chúng ta luôn luôn lúc nào cũng nhiều hơn những gì phân rẽ chúng ta, nhưng cũng còn là thực tế nữa, những gì khác biệt mới là đáng kể, và ở một thời diểm nào đó người ta phải quyết định vị trí của mình đang đứng. Nay Cộng đồng Anh giáo đã vật lộn với chính căn tính của mình trong một thời gian, và ít nhất một số thành phần của cộng đồng ấy đã quyết định rằng trở thành người Công giáo là thánh ý của Thiên Chúa đối với họ. Giáo hội Công giáo nên tôn trọng điều đó.

Cả các giám mục Công giáo lẫn Anh giáo hôm qua đều khôn khéo khi nói rằng sáng kiến mới của Đức giáo hoàng không làm giảm đi sự tìm kiếm hiệp nhất hoàn toàn giữa người Công giáo và toàn bộ người Anh giáo. Điều đó vẫn còn là một lời cầu nguyện mà hai phía cùng chia sẻ, nhưng sự khôn ngoan giản dị là tìm kiếm những giải pháp khả thi khác để cho có sự hiệp nhất hôm nay, khi mà trong thực tế hai cộng đồng đang rời xa nhau hơn, chứ không phải gần nhau hơn, về các vấn đề tín lý. Đức giáo hoàng Benedict trong buổi Thánh lễ nhậm chức giáo hoàng nói rằng sự hiệp nhất của Giáo hội là nhiệm vụ trước nhất của ngài. Ngài đã khôn khéo bước đi một bước đáng kể tiến về phía trước trong việc hoàn thành nhiệm vụ đó.

Bình luận của George Weigel

Ông George Weigel, một nhà bình luận người Công giáo nói rằng bản tuyên bố của Tòa thánh Vatican về một dự liệu mới dành cho những nhóm tín hữu Anh giáo muốn trở lại theo Công giáo, là sự “chấm dứt một thời đại” trong các mối liên hệ Anh giáo-Công giáo, cho thấy “hố sâu ngăn cách về thần học” rộng mở giữa quyền lãnh đạo Anh giáo và truyền thống Kitô giáo.

Viết trên tờ The Washington Post's trong mục “On Faith (Về Đức tin)”, ông Weigel tường thuật lại những mối liên lạc Anh giáo-Công giáo đã đạt tới một điểm cao như thế nào vào thời gian Công đồng Vatican II.

Tuy nhiên, vào những thập niên kế tiếp, một số các nhà lãnh đạo Anh giáo dường như đặt mình tách rời xa truyền thống tông đồ về chức linh mục và các nhiệm tích.

Ông thảo luận về việc trao đổi thư từ qua lại trong thập niên 1980 giữa Giáo hoàng Gioan Phaolô II, tổng giám mục Canterbury là Robert Runcie và Hồng y Johannes Willebrands, lúc đó đứng đầu Ủy ban Giáo hoàng về Thăng tiến Hiệp nhất Kitô giáo.

Khi được các giới chức Công giáo yêu cầu ông giải thích tại sao một số thành phần trong Cộng đồng Anh giáo đã quyết định truyền chức linh mục cho phụ nữ, ông Weigel nhắc lại câu Tổng giám mục Runcie trả lời vấn đề này bằng những từ ngữ “liên quan nhiều đến xã hội học, hơn là thần học.” Tổng giám mục Runcie lúc đó là giới chức cao cấp trong Giáo hội nước Anh, đã viện dẫn vai trò thay đổi của phụ nữ trong thương trường, văn hóa và chính trị như là một sự biện minh cho lối thực hành mới mẻ đó.

Khi sự trao đổi thư từ chấm dứt vào năm 1986, một “ngả rẽ” đã tới. Giới chức có thẩm quyền phía Công giáo tin tưởng rằng truyền thống tông đồ ngăn ngừa việc truyền chức linh mục cho phụ nữ, trong khi đó Tổng giám mục Runcie và những người theo Anh giáo có tâm tưởng tương tự như thế, theo quan điểm của Weigel, lại tin rằng “nhận thức của người thời hiện đại vào vai trò của phái tính đã thắng thế truyền thống tông đồ và đòi hỏi phải có một sự phát triển cả về tín lý lẫn thực hành.”

Ông giải thích: “Roma không thể chấp nhận điều đó như là một diễn tíến hợp pháp trong cách tự hiểu về Kitô giáo.” Theo ông, các nhà lãnh đạo Công giáo sợ rằng tiến độ mới của Anh giáo đó có thể tạo ra một sự xét lại giảng huấn của các vị đó về nhiều vấn đề khác, chẳng hạn như luân lý tính dục.

Ông Weigel viết trên mục “On Faith”: Bằng lời tuyên bố của Đức giáo hoàng Benedict về một dự liệu mới dành cho họ, người Anh giáo đã được cung ứng một “lối đi đến hiệp thông hoàn toàn” với Giáo hội Công giáo, lối đi này “tôn trọng đặc điểm trong các truyền thống tâm linh và phụng vụ của họ.”