Những mái vòm của Đài quan sát Vatican và Nhà thờ Thánh Thomas xứ Villanova của Bernini vươn cao trên Cung điện Tông đồ, nơi ở mùa hè truyền thống của Giáo hoàng, ở Castel Gandolfo, Ý. (ảnh: AMB / Shutterstock)


Giám mục Earl Fernandes, trong bản tin The Catholic Thing ngày 10 tháng 3 năm 2026, bình luận: Nếu những người Công Giáo trẻ tin rằng khoa học và đức tin mâu thuẫn, Giáo hội phải cho họ thấy tại sao hai điều này có thể đi cùng nhau.

Khi đối diện với thách thức giới trẻ rời bỏ đức tin Công Giáo, chúng ta có thể bị cám dỗ nghĩ rằng vấn đề chỉ đơn thuần là vấn đề “tôn giáo” — một vấn đề được giải quyết bằng cách cải thiện trải nghiệm phụng vụ của họ hoặc bằng cách cung cấp các khóa tĩnh tâm tốt hơn.

Trên thực tế, một yếu tố quan trọng là cách Giáo hội được nhìn nhận trong sự tương tác với nền văn hóa rộng lớn hơn — bao gồm cả thế giới khoa học.

Trong một thời gian dài, cả các phương tiện truyền thông Công Giáo và thế tục đều đưa tin về sự gia tăng của những người được gọi là “không theo tôn giáo”, những người đã từ bỏ Công Giáo hoặc tôn giáo có tổ chức. Một lý do được cho là dẫn đến sự từ bỏ này là nhận thức rằng đức tin và lý trí không tương thích. Giới trẻ phải vật lộn để dung hòa sự mặc khải trong Kinh Thánh, bao gồm cả các câu chuyện sáng tạo trong Sách Sáng Thế, với các ngành khoa học tự nhiên. Phương pháp của khoa học và thần học dường như khác biệt đến mức một số người cho rằng lý do chính khiến họ rời bỏ việc thực hành đức tin là vì đức tin không có gì để đóng góp cho thế giới lý trí, đặc biệt là trong một xã hội ngày càng theo chủ nghĩa kỹ trị.

Hệ tư tưởng của chủ nghĩa duy khoa học, cho rằng chỉ những phát hiện của khoa học tự nhiên mới được coi là chân lý, đã làm trầm trọng thêm xung đột giữa đức tin và khoa học. Và khi hai bên đối đầu nhau, và nhiều người trẻ không muốn bị coi là “phi khoa học”, họ chọn phòng thí nghiệm và rời bỏ giáo xứ.

Nhưng như Đức Giáo Hoàng Leo XIV gần đây đã nhắc nhở chúng ta, sự phân đôi này là sai lầm.

Trong bài phát biểu trước các chủng sinh Tây Ban Nha ngày 28 tháng 2, Đức Thánh Cha đã trích dẫn G.K. Chesterton, người đã viết: “Hãy loại bỏ điều siêu nhiên, và những gì còn lại là điều phi tự nhiên.”

Nói cách khác, nếu điều siêu nhiên bị loại bỏ khỏi phương trình, thì chúng ta cũng bị loại bỏ khỏi phương trình. Chân lý về con người – mục đích, giá trị, vận mệnh của chúng ta – không thể được tìm thấy dưới kính hiển vi. Chân lý thiếu đức tin không chỉ bị hạn chế mà còn bị bóp méo.

Nhưng Đức Giáo Hoàng Leo cũng không đề xuất thay thế sự hạn hẹp của chủ nghĩa duy khoa học bằng một loại chủ nghĩa tín ngưỡng coi đức tin như một sự thay thế cho khoa học. Như ngài đã nói: “Có một cái nhìn siêu nhiên không có nghĩa là trốn tránh thực tại mà là học cách nhận ra hành động của Chúa trong thực tại cụ thể của mỗi ngày; một tầm nhìn không thể được ứng biến hay ủy thác mà phải được học hỏi và thực hành trong cuộc sống thường nhật.”

Thay vì đối lập tôn giáo và khoa học, tầm nhìn của Đức Giáo Hoàng Leo đề xuất đưa hai lĩnh vực này vào sự hợp tác hữu hiệu. Và đó chính là những gì đã diễn ra tại một hội nghị gần đây tại Đại học Notre Dame, nơi quy tụ một số giám mục anh em của tôi cùng với một số nhà khoa học Công Giáo hàng đầu thế giới.

Được đồng tài trợ bởi Ủy ban Giáo lý của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ và Viện McGrath về Đời sống Giáo hội của Đại học Notre Dame, và phối hợp với Hội các nhà khoa học Công Giáo, hội nghị diễn ra từ ngày 23 đến 25 tháng 2 tập trung vào chủ đề “Mối quan hệ giữa Khoa học và Đức tin như một vấn đề mục vụ trong thời đại rời bỏ thống thuộc”. Hội nghị đã tạo cơ hội cho các giám mục, nhà giáo dục và nhà khoa học củng cố mối liên kết hiệp thông và sự hợp tác của họ vì sứ mệnh của Giáo hội.

Ở nhiều khía cạnh, chính các diễn giả đã là những minh chứng cho sự hài hòa có thể có giữa đức tin và lý trí. Ví dụ, tu sĩ Dòng Tên Guy Consolmagno, giám đốc hưu trí của Đài Thiên văn Vatican, là hiện thân của lời răn dạy của Thánh Ignatius Loyola “tìm kiếm Thiên Chúa trong mọi sự”. Stephen Barr, chủ tịch Hội các nhà khoa học Công Giáo và là một nhà vật lý học hàng đầu thế giới, đã cống hiến cả cuộc đời mình để làm sâu sắc thêm sự hợp tác này. Và lời chào mừng khai mạc từ Cha Bob Dowd thuộc Dòng Thánh Giá, hiệu trưởng Đại học Notre Dame, đã nhấn mạnh cam kết của trường đại học đối với cả các nguyên tắc bảo vệ sự sống và sự hợp tác với các giám mục, làm chứng cho thực tế rằng đức tin và sự tìm tòi đều có chỗ đứng trong Giáo hội.

Nhưng nhiều bài phát biểu cũng trực tiếp đề cập đến sự mâu thuẫn được cho là giữa tôn giáo và khoa học, và chỉ ra những cách thức mà Giáo hội có thể tiến lên một cách xây dựng.

Laura Upenieks, một nhà xã hội học của Đại học Baylor, đã nghiên cứu thái độ của giới trẻ đối với đức tin và khoa học. Nghiên cứu của bà cho thấy người Mỹ chia đều về việc liệu khoa học và tôn giáo có mâu thuẫn với nhau hay không, với những người sùng đạo hơn thì thấy ít mâu thuẫn hơn giữa hai lĩnh vực này. Trên thực tế, giới trẻ Công Giáo khẳng định thẩm quyền của khoa học.

Tuy nhiên, dường như vẫn còn sự suy giảm chung về lòng tin vào các nhà lãnh đạo và thể chế tôn giáo nói chung. Không phải là giới trẻ thiếu đức tin hay họ không tin tưởng khoa học; mà là giới trẻ có những câu hỏi thực sự về cả đức tin và khoa học và sẽ không chấp nhận mọi thứ một cách đơn giản chỉ dựa trên uy quyền. Một cách giải quyết hời hợt các câu hỏi nảy sinh sẽ không đủ.

Bài thuyết trình của Karin Öberg đã cung cấp một ví dụ về sự tham gia sâu sắc này. Nhà hóa học thiên văn học của Harvard đã cố gắng dung hòa các nghiên cứu khoa học về nguồn gốc của vũ trụ với câu chuyện sáng tạo trong truyền thống Do Thái-Kitô giáo. Öberg giải thích làm thế nào vũ trụ giả định một nguyên nhân trước khoảnh khắc giãn nở đầu tiên của nó, và chứng minh vũ trụ được sắp xếp một cách tuyệt đẹp hướng tới sự sống. Trật tự, vẻ đẹp và sự sáng tạo của vũ trụ không chỉ ra một lực lượng sáng tạo mà còn chỉ ra một tâm trí sáng tạo và một tình yêu sáng tạo.

Giống như những người thuyết trình khác, Öberg thẳng thắn thừa nhận rằng khoa học không có tất cả các câu trả lời. Tuy nhiên, bà cũng chứng minh việc nhân loại, một cách sâu sắc hơn phần còn lại của tạo thế, thể hiện lòng tốt của Thiên Chúa ra sao.

Tương tự, nhà sinh vật học Daniel Kuebler của Đại học Franciscan đã khám phá chủ đề gây tranh cãi về thuyết tiến hóa, đặt câu hỏi liệu lý thuyết này có loại trừ bất cứ ý nghĩa sâu sắc nào về cuộc sống hay không. Trong khi một số người cho rằng thuyết tiến hóa dựa trên các sự kiện ngẫu nhiên, do đó ngụ ý rằng vũ trụ không có thiết kế, mục đích hay Đấng Tạo Hóa, Kuebler đã đưa ra một lý thuyết thay thế — và thỏa đáng hơn — rằng vũ trụ được sắp xếp ở cấp độ cơ bản nhất, đặt thuyết tiến hóa trong một khuôn khổ rộng lớn hơn ảnh hưởng đến kết quả của nó.

Cuối cùng, Christopher Baglow và Heather Foucault-Camm, cả hai đều thuộc Sáng kiến Khoa học & Tôn giáo của McGrath, đã suy gẫm về nhận xét của George Bernanos rằng thời hiện đại tạo ra “ngày càng nhiều người quen từ thời thơ ấu chỉ mong muốn những gì máy móc có thể cung cấp”. Họ nhấn mạnh rằng trong thời đại kỹ thuật của chúng ta, chúng ta cần sự khôn ngoan, chứ không chỉ là trí thông minh có được thông qua dữ kiện quan sát được. Người Công Giáo phải là tiếng nói mạnh mẽ chống lại việc giản lược con người và tạo vật thành các điểm dữ kiện.

Suy tư về sự tham gia nghiêm túc của người Công Giáo với khoa học được trình bày tại hội nghị này, những bài học rộng hơn nào có thể được rút ra?

Nếu Giáo hội muốn giữ chân giới trẻ trong việc thực hành đức tin, thì Giáo hội cần phải xây dựng hoặc tái thiết uy tín của mình trong lĩnh vực giáo dục thông qua sự tổng hợp đích thực giữa đức tin, truyền thống và khoa học. Giáo hội cần tạo ra những không gian liên ngành cho phép giới trẻ đặt câu hỏi và được đồng hành trong quá trình tìm tòi.

Hơn nữa, các thừa tác viên mục vụ của Giáo hội cần được đào tạo sâu rộng hơn để có thể nói chuyện với trình độ hiểu biết khoa học, nhưng không mang tính phòng thủ. Cuối cùng, giáo sĩ và giáo dân Công Giáo cần phải làm chứng công khai cho vẻ đẹp của đức tin đồng thời khẳng định toàn bộ thực tại, nói chuyện với giọng điệu dạy dỗ, làm vui lòng và thuyết phục.

Thách thức nằm ở phương pháp sư phạm. Vai trò của Giáo hội không chỉ đơn thuần là cung cấp những câu trả lời đã được định trước cho các câu hỏi; thay vào đó, Giáo hội phải tái tham gia vào sứ mệnh giáo dục của mình. Với Truyền thống của mình, và với các nhà khoa học Công Giáo đóng vai trò như men trong thế giới, Giáo hội có vị trí độc đáo để giúp giới trẻ nhận thức thực tại và đọc hiểu nó dưới ánh sáng của đức tin; để rèn luyện trí óc đặt ra những câu hỏi đúng đắn; và đồng hành cùng giới trẻ khi họ khám phá ra chân lý, điều khơi gợi sự kính sợ và kinh ngạc nơi những người tiếp xúc với nó.

Bằng cách này, sự hợp tác lẫn nhau giữa các giáo sĩ, nhà giáo dục và nhà khoa học có thể là một công cụ tuyệt vời để đồng hành cùng giới trẻ trong những câu hỏi của họ về đức tin và khoa học, không chỉ giúp giảm tỷ lệ bỏ đạo của người Công Giáo, mà còn là một công cụ để truyền giáo. Không phải các giám mục và nhà giáo dục phải là chuyên gia trong các ngành khoa học tự nhiên; có những nhà khoa học Công Giáo thực sự là chuyên gia trong lĩnh vực của họ, những người có thể giúp chỉ ra sự liên quan của đức tin với khoa học và cách đức tin có thể soi sáng khoa học.

Giám mục Công Giáo, nhà khoa học Công Giáo và nhà giáo dục Công Giáo phải giúp giới trẻ khám phá mầu nhiệm tạo thế, một điều giúp họ gặp gỡ Đấng Tạo Hóa, Đấng tự tỏ mình trong thiên nhiên, trong lịch sử và qua Con Yêu Dấu của Người. Đây là điều mà nhiều người trong chúng ta đã rút ra được từ hội nghị Notre Dame, cùng với sự cấp bách phải cải cách cách thức Giáo hội tương tác với khoa học, giáo dục và giới trẻ vì mục đích truyền giáo.

Cha Luigi Giussani, người sáng lập tổ chức Hiệp thông và Giải phóng, từng nói: “Hiện thực chưa bao giờ phản bội tôi.” Chính lòng trung thành với sự quan phòng của Chúa, trong mọi khía cạnh, phải là kim chỉ nam cho sự tương tác của Giáo hội với khoa học trong tương lai. Bằng cách này, chúng ta có thể mang đến cho giới trẻ niềm tin rằng việc là người Công Giáo không trái ngược với chân lý, mà là một con đường đặc ân để theo đuổi chân lý.