Đức Ông Hans Feichtinger là người Đức, được thụ phong linh mục tại giáo phận Passau, miền Nam Bavaria, vào năm 1998. Sau khi nhận được bằng Tiến sĩ Thần học về Các Giáo Phụ từ Đại Học Giáo Hoàng Augustinianum ở Rôma, ngài phục vụ tại Bộ Giáo Lý Đức Tin.

Ngài cũng có bằng tiến sĩ triết học tại Khoa Triết học của Dòng Tên ở Munich.

Từ ngày 3 tháng Giêng năm 2017, ngài là Cha Sở cho giáo xứ Thánh Albertus Pfarrgemeinde của cộng đoàn Công Giáo Đức ở Ottawa, Canada.

Đức Ông Hans Feichtinger là cây bút thường xuyên của Crisis Magazine và First Things. Ngài vừa có bài viết nhan đề “SSPX, the German Church, and the Crisis of Unity”, nghĩa là “SSPX, Giáo hội Đức và Cuộc khủng hoảng hiệp nhất”.

Thông báo gần đây của Huynh Đoàn Thánh Piô X về kế hoạch tấn phong các giám mục mới vào tháng 7, ngay cả khi không có sự chấp thuận của Giáo hoàng, chắc chắn sẽ dẫn đến những so sánh với một nhóm khác tiếp tục đi ngược lại các chỉ thị của Vatican: đó là Giáo hội Đức.

Trong những năm gần đây, Vatican và Huynh Đoàn Thánh Piô X dường như hài lòng với tình trạng mà không ai có thể giải thích rõ ràng Huynh Đoàn này phù hợp với Giáo hội như thế nào – một ví dụ nổi bật về chủ nghĩa thực dụng của Rôma. Trong trường hợp của Giáo hội Đức, một chủ nghĩa thực dụng khác đã được áp dụng. Con đường Thượng hội đồng chính thức kết thúc vào năm 2023, nhưng có kế hoạch thể chế hóa di sản của nó trong một hội nghị thượng hội đồng quốc gia thường trực – một cơ quan thảo luận khác. Đức Giáo Hoàng Phanxicô chưa bao giờ hoàn toàn bị thuyết phục bởi tiến trình của Đức hay kết quả của nó, và vẫn còn phải xem Đức Giáo Hoàng Lêô XIV sẽ phản ứng như thế nào. Bản thân các giám mục Đức cũng chia rẽ về mục đích và thẩm quyền của cấu trúc mới. Những can thiệp nhẹ nhàng của Rôma cho đến nay đã tỏ ra không hiệu quả, nhất là vì “tính đồng nghị” đã mang những ý nghĩa rất khác nhau đối với những người khác nhau.

Từ góc độ pháp lý, sự khác biệt rất rõ rệt. Huynh Đoàn Thánh Piô X tồn tại trong một tình trạng giáo luật bấp bênh và mơ hồ, trong khi các giám mục Đức hoàn toàn hòa nhập vào khuôn khổ pháp lý và thể chế của Giáo hội. Tuy nhiên, cả hai đều thách thức quyền lực của Giáo hội theo những cách thức có vấn đề. Huynh Đoàn Thánh Piô X thách thức các văn kiện chính thức của Giáo hội, bắt đầu từ Công đồng Vatican II, trong khi các giám mục Đức phần lớn tự coi mình là những người bảo vệ và giải thích chính về di sản của Công đồng. Cũng như người Đức ngầm tuyên bố có nhiệm vụ hướng dẫn Giáo hội toàn cầu đến sự tiếp nhận sâu sắc hơn về Công đồng, Huynh Đoàn Thánh Piô X tuyên bố quyền chấp nhận có điều kiện giáo huấn và luật lệ của Giáo hội. Ở điểm này, hai phe không giao tiếp có ý nghĩa với nhau cũng như không thể hiện mối quan hệ lành mạnh với Đức Giáo Hoàng. Trong cả hai trường hợp, sự vâng phục dường như gượng ép, có chọn lọc hoặc bị lợi dụng.

Mặc dù có sự khác biệt lớn về quy mô và định hướng thần học, cả hai nhóm đều thể hiện những mô hình tư duy tương tự. Giống như nhiều phong trào trong thời đại chúng ta, dường như họ bị mắc kẹt trong “buồng vọng thuật toán” – “algorithm echo chamber”, tức là một môi trường thảo luận được tạo ra bởi việc chọn lọc nội dung theo khuynh hướng cá nhân, phù hợp với niềm tin và sở thích hiện có của họ. Quá trình này tạo ra các vòng lặp tự củng cố, thu hẹp quan điểm, thúc đẩy sự phân cực và lọc bỏ các quan điểm đối lập, thường dẫn đến sự gia tăng thông tin sai lệch và các xác tín sai lầm. Tuy có sự đa dạng bên trong nhưng thống nhất bởi những ranh giới ý thức hệ mạnh mẽ. Hình ảnh “vòng tròn hoàn hảo nhưng hẹp” của Chesterton hiện lên trong tâm trí. Cả hai phe đã xây dựng những vòng tròn như vậy trong nhiều thập niên. Phụng vụ đóng vai trò trung tâm trong những xung đột này, nhưng nó không phải là vấn đề duy nhất, hoặc thậm chí cũng không phải là vấn đề quyết định nhất.

Trái ngược với một số quan điểm, cả hai nhóm đều không đại diện cho những cách giải thích cực đoan, đối lập nhất về Công đồng Vatican II. Huynh Đoàn Thánh Piô X không đồng nghĩa với chủ nghĩa sedevacantism là chủ nghĩa cho rằng Tòa Thánh đang trong tình trạng trống tòa, và các giám mục Đức cũng không hề theo chủ nghĩa hiện đại một cách rõ ràng. Tuy nhiên, trong cả hai nhóm, những người cố gắng vượt ra ngoài ranh giới tư tưởng thống trị đều gặp phải sự phản kháng. Bản sắc cứng rắn là có thật trong Giáo hội. Huynh Đoàn Thánh Piô X bảo vệ danh tiếng siêu chính thống của mình, trong khi các nhà lãnh đạo Giáo hội Đức nhạy cảm với sự lên án từ các nhà thần học hàn lâm và dư luận, cả hai đều có xu hướng nghiêng về phía độc tài.

Tuy nhiên, sự khác biệt trong kinh nghiệm giáo hội là rất đáng kể. Huynh Đoàn Thánh Piô X phần lớn đã rút lui khỏi đời sống giáo hội bình thường, trong khi các giám mục Đức phải đối mặt với toàn bộ sự phức tạp của thực tại giáo hội đương đại. Tuy nhiên, trong Con đường Thượng Hội đồng, những tiếng nói truyền thống thực sự hầu như vắng bóng. Ngay cả những quan điểm ôn hòa cũng thường rút lui, trong khi các đề xuất cải cách cấp tiến hơn lại được chú ý nhiều hơn. Hơn nữa, cả hai phía đều rất kháng cự việc xây dựng cầu nối. Chỉ cần đề cập đến tự do tôn giáo hoặc cải cách phụng vụ, chuông báo động của những người theo chủ nghĩa truyền thống sẽ vang lên; nếu đề xuất đánh giá lại Công đồng Vatican II hoặc việc thờ phượng hướng về phía Đông, các cơ quan hành chính giáo phận sẽ phản ứng với thái độ khinh miệt không che đậy.

Điều này đặt ra một câu hỏi cơ bản: Liệu có điều gì có thể phá vỡ những mô hình tự củng cố này không? Có phải là không hợp lý khi xem xét lại các biện pháp can thiệp theo giáo luật, bao gồm cả các hình phạt đã được quy định trong luật Giáo hội, thay vì dựa vào các cơ chế mơ hồ và kém hiệu quả, bởi vì Giáo hội phải thực thi giáo lý và luật lệ của mình một cách nhất quán, chứ không phải chọn lọc?

Hoặc, đây có thể là thời điểm cho sự bao dung mạnh mẽ và trung thực—một sự bao dung giúp cả hai phe tiếp xúc với toàn bộ hệ thống giáo hội, bao gồm cả lẫn nhau. Cuối cùng, cả Huynh Đoàn Thánh Piô X và Giáo hội Đức đều là biểu tượng của những căng thẳng chưa được giải quyết ảnh hưởng đến toàn thể Giáo hội. Sẽ là một sai lầm nếu coi Huynh Đoàn Thánh Piô X chỉ là một hiện tượng bên lề kỳ lạ, cũng như sẽ là sai lầm nếu đánh đồng Giáo hội Đức với những biểu hiện công khai lập dị nhất của nó.

Cho đến nay, phản ứng của Rôma chủ yếu là trì hoãn. Điều này dễ hiểu, vì những căng thẳng tương tự cũng tồn tại trong chính Giáo triều Rôma, nơi dường như ngày càng thiếu khả năng giải quyết chúng. Các chiến lược ngoại giao và kỹ thuật về “quản lý mục vụ” khó có thể thành công. Cuộc khủng hoảng hiện tại không thể được quản lý từ trên xuống, không phải vì quyền lực không còn quan trọng, mà vì hệ thống phẩm trật thiếu đi quyền lực tuyệt đối thường được ngầm gán cho nó. Kỳ vọng rằng nó nên sở hữu quyền lực như vậy tự nó là một di sản—một phần chưa được xem xét—của Công đồng Vatican I và II, nay đang tái xuất hiện dưới khẩu hiệu của tính đồng nghị được quản lý.

Vấn đề sâu xa hơn liên quan đến bản chất của sự hiệp nhất. Thông thường, sự hiệp nhất được hình dung như là “người khác trở nên giống mình hơn”—một cám dỗ hiển nhiên ở cả hai phía. Phương thức hoạt động của Giáo hội trong thời kỳ hậu hiện đại vẫn còn chưa rõ ràng. Một số chiến lược từng được xem là đầy hứa hẹn, bao gồm các khía cạnh của Công đồng Vatican II và sự đón nhận của nó, giờ đây dường như bị hạn chế hơn so với suy nghĩ trước đây. Đây không phải là lúc để tiếp tục một cách thiếu phê phán cũng không phải là lúc để phản động thu hẹp phạm vi hoạt động. Đây là lúc cần sự trung thực về những hạn chế của Công đồng và về những nỗ lực rộng lớn hơn của Giáo hội nhằm tương tác với một thế giới đang thay đổi.

Chúng ta không thể tạo ra những thay đổi mô hình đơn thuần để tùy ý sửa đổi các yếu tố Kinh Thánh và truyền thống. Giáo hội cũng không thể mãi sa đà vào những tranh chấp về phụng vụ, một sự sa đà vốn là một hình thức của chủ nghĩa giáo sĩ. Sự thống nhất về giáo lý đòi hỏi sự đa nguyên thần học đích thực, kể cả trong thần học hàn lâm Đức, vốn thường bị định hình bởi các hình thức tư duy tập thể trong các tổ chức. Đồng thời, quyền lực của hệ thống phẩm trật – dù là giáo hoàng, giám mục, công đồng hay thượng hội đồng – không phải là tuyệt đối. Việc đổi mới Giáo hội không chủ yếu là một dự án từ trên xuống dưới được mô phỏng theo việc hoạch định chính sách.

Đức tin vào Chúa Kitô là một truyền thống sống động: mạch lạc, hữu cơ và bất diệt. Một số yếu tố vẫn không thay đổi; những yếu tố khác phát triển chậm rãi và tự nhiên.

Con đường đáng tin cậy nhất để thoát khỏi những “vòng lặp” khép kín trong Giáo hội là sứ mệnh. Truyền giáo là mục đích chính yếu của Giáo hội và là chất xúc tác hiệu quả nhất cho sự đổi mới nội bộ. Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhận xét, Con đường Thượng Hội đồng Đức đã thất bại một phần vì nó đã tách rời khỏi nhiệm vụ cơ bản này. Giống như truyền giáo, cuộc cải cách Giáo hội đích thực—về phụng vụ hay bất kỳ lĩnh vực nào khác—không xuất phát từ sự kiểm soát tập trung mà từ sự gặp gỡ cá nhân, sự hoán cải dần dần và sự phát triển hữu cơ.

Không ai trong Giáo hội có thẩm quyền tùy ý định hình lại truyền thống thiêng liêng hoặc làm tê liệt nó. Thay vào đó, điều cần thiết là sự hoán cải và khiêm nhường. Chỉ có hai điều này mới có thể vượt qua những chia rẽ và mở ra một tương lai khả thi. Trong toàn Giáo hội—không chỉ ở Đức—việc xây dựng cầu nối không được coi là sự phản bội, cho dù đó là phản bội truyền thống hay sự tiến bộ được tường trình có.

Sự khiêm nhường như vậy cần được tất cả mọi người đón nhận: bởi những người né tránh quyền uy của giám mục và giáo hoàng, bởi những người coi thường giáo lý và truyền thống, và bởi những người phủ nhận giới hạn của chủ nghĩa giáo hoàng, công đồng hoặc thượng hội đồng. Với một vị giáo hoàng theo tinh thần Augustinô, vẫn có thể có cơ hội cho sự hoán cải chân chính—trở về với Chúa Kitô, Đấng trung gian khiêm nhường, vẫn như xưa, nay và mãi mãi.


Source:First Things