Chương Ba: Kinh nghiệm của Giáo hội Nguyên thủy: Trung thành với Tin Mừng Gia đình (tiếp theo)
Bình luận của Origen về Ngoại lệ Mátthêu
Bản văn lời bình luận của Origen về ngoại lệ Mátthêu là điều quan trọng thứ hai, vì vị Hồng Y sử dụng nó để diễn đạt luận lý học khoan dung cần được chấp nhận. Ngài đề cập đến nó hai lần trong tập sách nhỏ của mình, lần thứ hai rõ ràng hơn, vì ngài khẳng định: “Luật lệ này đã được Origen chứng thực rõ ràng, người cho rằng nó không phải là vô lý (Chú giải về Mátthêu, 1 4:23). Và một số người khác cũng đề cập đến nó. Họ biện minh cho tuyên bố ‘không phải là vô lý’ với mục đích mục vụ là ‘ngăn chặn điều gì đó tồi tệ hơn’.” (31)
Chúng tôi thấy cần trích dẫn đầy đủ đoạn văn được đề cập:
Trái ngược với Kinh Thánh, một số nhà lãnh đạo Giáo hội đã cho phép tái hôn với một người phụ nữ có chồng vẫn còn sống. Họ đã làm như vậy bất chấp những gì đã được viết: “Người vợ gắn bó với chồng mình bao lâu chồng còn sống” (1 Cr 7:39) và “một người phụ nữ đã kết hôn… sẽ bị gọi là ngoại tình nếu… bà sống với một người đàn ông khác khi chồng bà còn sống” (Rô-ma 7:3) Tuy nhiên, họ không hành động hoàn toàn vô lý (ou mēn pántē alógōs). Có lẽ sự yếu đuối này [Symperiphora, sự khoan dung] được cho phép khi xét đến những điều ác lớn hơn, trái với luật nguyên thủy được ghi lại trong Kinh Thánh (32).
Thật đáng ngạc nhiên khi Kasper luôn cẩn thận tránh trích dẫn toàn bộ đoạn văn, trong đó Origen ba lần làm rõ rằng đây là một hành vi trái với Kinh Thánh, mà ông coi là thẩm quyền cao nhất.(33) Do đó, lời chứng của Origen về hành vi này, mà theo quan điểm của ông là bất hợp pháp, hoàn toàn không thể được coi là đồng tình với sự khoan dung nói trên. Thật vậy, xét toàn bộ đoạn văn này đặc biệt sáng tỏ. Cách hành động của họ được xem xét với một số hiểu biết: “họ không hành động hoàn toàn vô lý (ou mēn pántē alógōs). Tuy nhiên, điều này khác với việc nói rằng những gì họ làm “không phải là vô lý”. Thay vào đó, Origen thực sự chỉ đơn giản thừa nhận sự hiện hữu của một số lý do (nó không hoàn toàn phi lý), xuất phát từ luận lý học của con người, mà phải được lồng ghép vào một luận lý học cao hơn xuất phát từ Kinh Thánh. Theo hướng này, bản thân “những điều ác lớn hơn” có thể được hiểu là ám chỉ những vi phạm tồi tệ hơn khiến chúng có vẻ ít phi lý hơn,(34) và không nhất thiết là những điều ác sẽ xảy ra nếu chúng không được dung thứ. Do đó, từ đoạn văn này, một điều gì đó hoàn toàn khác với những gì được Kasper đề xuất như một nguyên tắc trong bài diễn văn của ngài, và tất nhiên điều này khiến cách trích dẫn của ngài trở nên không thể chấp nhận được. Tương tự, việc ngài lạc đề về việc tránh “những điều ác lớn hơn” tỏ ra không đủ nếu không xem xét đến điều ác thực sự xảy ra.
Thực ra, Đức Hồng Y sử dụng nó như một bản tóm tắt lý do cho mọi sự khoan dung mục vụ khi ngài nói: “Vì mối quan tâm mục vụ ‘để ngăn chặn điều gì đó tồi tệ hơn, những giáo phụ này đã sẵn sàng dung thứ cho một điều mà tự thân nó là không thể chấp nhận được’.”(35) Do đó, Đức Hồng Y dễ dàng biến điều này thành một đề xuất cho đời sống Giáo hội đương thời, dựa trên một cách tiếp cận duy hiệu quả (consequentialist):
Con đường đang bàn sẽ không phải là một giải pháp chung. Nó không phải là một con đường rộng mở cho đại đa số quần chúng, mà là một con đường hẹp cho một bộ phận nhỏ hơn, thực sự, những người đã ly hôn và tái hôn, những người thực sự quan tâm đến các bí tích. Chẳng phải chính ở đây cần phải ngăn chặn điều gì đó tồi tệ hơn sao? Bởi vì khi con cái trong gia đình của những người ly hôn và tái hôn không bao giờ thấy cha mẹ mình tham dự các bí tích, thì thông thường chúng cũng sẽ không tìm được đường đến nơi xưng tội và rước lễ. Vậy thì chúng ta có chấp nhận hậu quả là chúng ta cũng sẽ mất đi thế hệ tiếp theo, và có lẽ cả thế hệ sau đó nữa không? Chẳng phải tập quán được gìn giữ tốt của chúng ta sẽ trở nên phản tác dụng sao? (36)
Bất cứ sự khoan dung nào của người có thẩm quyền đối với một điều xấu đều bắt nguồn từ nỗi sợ hãi về những hậu quả tồi tệ hơn, nhưng trong trường hợp của Giáo hội, không thể phủ nhận sự bất công mà điều này ngụ ý - tức là, thực tại tội lỗi - và không thể trì hoãn hậu quả của nó.
Quy luật Thánh Basiliô
Giờ đây, chúng ta hãy chuyển sang Quy luật Thánh Basiliô, một trong những bản văn hiện đang được tranh luận nhiều nhất, vì chắc chắn nó nói trực tiếp về sự khoan dung đối với một cá nhân đã ly hôn và tái hôn. Thật vậy, đây chính là bản văn được các nhà giáo luật Chính thống giáo sử dụng để biện minh cho thực hành của họ, (37)
Đoạn văn này viết như sau: “Lời buộc tội ở đây liên quan đến người phụ nữ đã ly dị chồng—theo lý do khiến cô ấy ly dị chồng. [Người phụ nữ] đã ly dị là một người ngoại tình nếu cô ấy đến với một người đàn ông khác. Nhưng người đàn ông bị bỏ rơi thì phải được tha thứ, và người phụ nữ sống với người như vậy thì không bị lên án.” (38)
Chắc chắn đây là một đoạn văn khó hiểu; nó nói về việc bào chữa chứ không phải lên án, nhưng không dễ để hiểu chính xác tình huống mà nó đề cập đến. Về người phụ nữ không bị lên án, mọi thứ dường như chỉ ra rằng điều này liên quan đến một người phụ nữ không biết về tình trạng trước đây của chồng mình, như trường hợp này đã được chứng minh sau này. (39)
Do đó, nó khác với lời bào chữa liên quan đến người đàn ông, mặc dù không nói rõ cụ thể điều gì được bào chữa, liệu tác giả có ý nói đến tội ly thân cho phép ăn năn, hay tội tái hôn sau đó vốn được coi là có thể hiểu được- mặc dù không được mô tả là hợp pháp - hay vấn đề về sự thiếu hiểu biết liên quan đến việc không biết gì về người vợ trước, thậm chí không biết liệu cô ấy còn sống hay không. Đoạn văn khiến người đọc khá bối rối, bởi vì khi nói về một hình thức khoan dung, nó không làm rõ các điều khoản cũng như giới hạn trong đó nó diễn ra. Bối cảnh là một tập hợp các “quy tắc” rất đa dạng, đề cập đến những trường hợp cụ thể và khó đánh giá. Điều này hoàn toàn khác với một chuẩn mực đã được thiết lập nhằm mục đích coi một người đã ly hôn và tái hôn như có một tư thế được chấp nhận bên trong Giáo hội.
Dù sao, lời khuyên đặc thù này phải được hiểu trong bối cảnh của sự bác bỏ rõ ràng đối với bất cứ hình thức ly hôn nào, mà vị giáo phụ Cappadocia đã diễn đạt một cách vô điều kiện và với ý thức lên án rõ ràng trong một tác phẩm khác: Một người đàn ông đã ly dị vợ mình thì không được phép kết hôn với người khác, và người phụ nữ đã bị chồng ruồng bỏ cũng không được phép tái hôn với người khác. (41)
Tuy nhiên, sự khoan dung không liên quan đến việc phán quyết rằng cuộc hôn nhân là hợp pháp, mà đúng hơn là quyết định không áp đặt một hình phạt nào. (42) Thực tế, việc sám hối thích hợp là lý do tại sao Giám mục Iconium yêu cầu Thánh Basiliô ban cho những “quy tắc” hay luật lệ này, về mặt văn phong, chúng giống một bức thư hơn là một bản văn pháp lý. (43)
Việc đề cập đến Thánh Gregory thành Nazianzen
Trong trường hợp đề cập đến Thánh Gregory Nazianzen, chúng ta đang xem xét một ghi chú bên lề, một nhận xét được đưa ra thoáng qua, thực ra chỉ nói về cách các Giáo phụ đã giải thích điều gọi là ngoại lệ theo Tin mừng Mátthêu hay ngoại lệ “vì lý do không khiết tịnh” (Mt 5:3). (44) Nó không được hiểu là lý do để ly hôn và để có thể tái hôn, mà là một mệnh lệnh phải ly thân vì người vợ phóng đãng (tuy nhiên, điều này không bao gồm việc cho phép tái hôn). Chúng ta hãy xem xét chính xác lời của Thánh Gregory: “Luật pháp cho phép ly dị vì mọi lý do; nhưng Chúa Kitô không cho phép ly dị vì mọi lý do; nhưng Người chỉ cho phép ly thân với gái điếm; và trong mọi điều khác, Người truyền lệnh phải kiên nhẫn.”(45) Do đó, ngài nói về việc ly thân, nhưng không bao giờ nói về bất cứ việc cho phép một cuộc hôn nhân thứ hai nào. Lập luận từ sự im lặng cho phép này, trong trường hợp này, là khó hiểu, vì chúng ta thấy ngay trước đó, ngài nói: “Nhưng nếu Chúa Kitô là Một, là Đầu duy nhất của Hội Thánh, thì cũng phải có một xương một thịt, và phải từ chối cuộc hôn nhân thứ hai; và nếu nó cản trở cuộc hôn nhân thứ hai, thì còn nói gì đến cuộc hôn nhân thứ ba? Thứ nhất là luật pháp, thứ hai là sự khoan dung, thứ ba là sự vi phạm, và bất cứ điều gì vượt quá điều này đều là dơ bẩn (swinish).” (46)
Chúng ta có thể nghĩ rằng sự từ chối này, được trình bày theo những đường lối chung, cuối cùng sẽ cho phép bằng cách “khoan dung” khả năng tái hôn cho một người góa bụa do người phối ngẫu qua đời, nhưng phải nói gì về những cuộc hôn nhân trực tiếp trái ngược với Kinh Thánh? Điều này thậm chí còn đúng hơn nếu chúng ta nhớ lại rằng Giám mục Cappadocia tuyên bố rằng “ly hôn... hoàn toàn trái với luật pháp của chúng tôi, mặc dù luật pháp La Mã có thể quyết định khác.” (47)
Ngoại lệ khả hữu của Thánh Augustinô
Tham chiếu giáo phụ cuối cùng mà chúng ta tìm thấy trong bài diễn văn trích dẫn Thánh Augustinô, không ai khác chính là vị Giáo phụ, người được cho là đã đưa ra khái niệm coi mối liên kết hôn nhân như là bất khả phân ly. Nếu tác giả này, bất chấp quan điểm cứng ngắc của ngài, đã thừa nhận một số ngoại lệ, tại sao bây giờ lại không làm như vậy?
Chúng ta hãy xem xét lời của vị Tiến sĩ Giáo hội này:
“Trong những lời lẽ thần linh thực tế, cũng có một sự không chắc chắn tương tự về việc liệu một người như vậy, người chắc chắn được phép ly dị người phụ nữ ngoại tình, vẫn bị coi là kẻ ngoại tình nếu anh ta tái hôn, đặc biệt là khi lỗi lầm trong trường hợp đó, theo quan điểm của tôi, là một lỗi lầm nhẹ [venial].” (48)
Bản văn này được trích dẫn vì nó mô tả ly hôn là “[lỗi] nhẹ”, mặc dù thuật ngữ của Thánh Augustinô về các tội “nhẹ” rất phức tạp và ít nhất sẽ hàm ý một số nghi ngờ, xét đến lập trường cứng rắn của ngài chống lại việc chấp nhận bất cứ cuộc hôn nhân nào sau khi ly hôn.
Cách giải thích sẽ thay đổi khi chúng ta xem xét bối cảnh của điều kiện này, tức là trường hợp chấp nhận một người dự tòng đã ly dị được rửa tội, (49) nói cách khác, một người đã kết hôn hai lần trước khi rửa tội. Quan điểm của Thánh Augustinô, vốn chấp nhận ứng viên với những điều kiện nhất định để bảo đảm người đó không phải chịu lỗi về việc ly hôn, do đó giả định một sự hiểu biết đặc biệt tinh vi về sự khác biệt giữa ly hôn nơi những người dự tòng và hôn nhân giữa những người đã chịu phép rửa tội, điều này hoàn toàn không phổ biến vào thời đó.(50)
Một lần nữa, những gì xuất hiện từ việc phân tích bản văn hoàn toàn khác với những gì Đức Hồng Y muốn chúng ta giả định trong bài phát biểu của ngài.
Kết luận
Việc đề cập đến các Giáo phụ có hai tầm quan trọng, và từ góc nhìn hai mặt này, chúng ta nên trình bày kết luận cho lời giải thích nhanh chóng của chúng ta.
Về thái độ của Giáo hội nguyên thủy đối với vấn đề ly hôn trong một xã hội mà mức độ của hiện tượng này rất giống với xã hội chúng ta, chúng ta thấy rằng cách đối diện với nó chứa đựng một giá trị pháp lý trong Giáo hội, được phát biểu chính vào thời điểm sự phát triển định chế của Giáo hội đang bắt đầu. Các can thiệp luôn có xu hướng đánh giá tình hình một cách khách quan, phân biệt giữa các trường hợp và đưa ra những hướng dẫn khách quan theo nghĩa cũng mang tính quy phạm.
Cùng với quan điểm này, con đường mà việc chăm sóc mục vụ cần theo đuổi đã được xác định; dựa trên những lập luận thực sự cơ bản, con đường này hướng đến một sự đồng thuận thực tế tập trung vào những lập luận có khả năng làm nền tảng cho hoạt động mục vụ có nguyên tắc.
Trên thực tế, nếu chúng ta xem xét tất cả các lời chứng về vấn đề này, thật đáng ngạc nhiên khi thấy rất ít tài liệu nhắc đến bất cứ hình thức khoan dung nào. Các trường hợp cho phép sự khoan dung tối đa đều liên quan đến những tình huống rất cụ thể, đặc thù và phù hợp với một cách tiếp cận sám hối rất nghiêm khắc, bao gồm, như một điều kiện thông thường, là kiêng quan hệ tình dục. Trong bối cảnh môi trường dễ xảy ra ly hôn, lập trường khoan dung thực sự hiếm hoi này là một bài học quan trọng về cách thức vấn đề này được xem xét - không phải như một vấn đề thứ yếu, mà là một điều rất quan trọng liên quan đến Tin Mừng và do đó phải được bảo vệ mạnh mẽ vì áp lực to lớn mà các Kitô hữu phải chịu đựng. Bằng chứng về lập trường cụ thể của họ trong việc bảo vệ tính bất khả phân ly, trái ngược với các phong tục xã hội thời bấy giờ, là sự nhận thức về giá trị tiên tri của hôn nhân Kitô giáo đã thay đổi xã hội thời bấy giờ.
______________________________________________________
Ghi chú
1. Tin Mừng Gia Đình, Lời Giới Thiệu, tr.2
2. Xem Tomás Rincón El Matrimonio: Mysterio y signo [Hôn phối: Mầu nhiệm và dấu chỉ] (Pamplona: EUNSAP 1971)
3. Bài thảo luận của Henri, "Divorce et remarriage dans l'Église: Quelques réflections de methodologie historique" (Ly hôn và tái hôn trong Giáo hội: Những suy tư về phương pháp luận lịch sử), trong Nouvelle Revue Théologique 98 (1976): 891-917, là một ví dụ điển hình về sự rõ ràng và nghiên cứu lịch sử nghiêm ngặt theo hướng này.
4. Xem Thánh Anphôngsô đệ Liguori, Theoligia Moralis I, Cuốn I, c.2, số 22 (Rome:Typographia Vaticana, 1905) tr. 11 “numquam esse licitum cum conscientia practica dubia operari” (không bao giờ hợp pháp khi hành động với một lương tâm thự tế trong tình trạng hoài nghi)
5.Xem Theologia Moralis I, cuốn I, c.3 số 55 tr.25: “Nam ad licite operandum sola non sufficit probabilitas; sed requiritur moralis certitudo de honestitate actionis (vì để hành động một cách hợp pháp, cái nhiên mà thôi không đủ mà đúng hơn phải có sự chắc chắn tinh thần về tính đoan chính của hành động].
6. Walter Kasper, Thần học về Hôn nhân Ki-tô giáo, David Smith dịch (New York: Seabury Press, 1980) tr. 54.
7. Tin mừng Gia Đình tr. 31; nhấn mạnh.
8.Ibid
9. Ibid. tr. 37-38
10. Ibid. tr. 38
11. Hãy nghĩ đến công trình đồ sộ của Hugh of Saint Victor trong De Sacramentis Christianae fidei [Về bí tích của đức tin Ki-tô giáo] (Munster: Monasterii Westfalorum, 2008)
(12). Để có một nghiên cứu có tính quyết định và được ghi chép đầy đủ, hãy xem Luigi Bresan Il divorzio nell Chiese Orientali [ly dị trong giáo hội đông phương] (Bologna: EDB 1976)97
(13) Xem Tin Mừng Gia Đình, tr. 38: “Tuy nhiên, kể từ thế kỷ thứ sáu, theo luật lệ của đế quốc Byzantine, họ đã vượt ra ngoài lập trường khoan dung, khoan hồng và kiên nhẫn của mục vụ và họ thừa nhận - bên cạnh các điều khoản liên quan đến ngoại tình - các căn cứ bổ sung cho việc ly hôn, dựa trên cái chết về mặt đạo đức chứ không chỉ là cái chết về mặt thể xác của mối quan hệ hôn nhân”. Mặc dù cách trình bày đầu tiên có vẻ có tính phê phán, nhưng việc đề cập đến phép loại suy về “cái chết về mặt đạo đức” của một cuộc hôn nhân, mà như chúng ta đã thấy được lấy từ Pavel Evdokimov, dường như không có sự hạn chế, trong khi nó cần được giải thích, vì đây là một phép loại suy không phù hợp (xem Pavel Evdokimov, Le Sacrement de l'action: Le mystère conjugal à la lumière de la tradition orthodoxe [Bí tích hành động: Mầu nhiệm phu phụ dưới ánh sáng truyền thống chính thống] ( Paris Edition de l'Epi, 1962). Khía cạnh này đã được làm rõ trong phần trả lời của Basilio Petra, người, về phần mình, chấp nhận lập trường này; xem Angel Rodriguez Luño, “L'estinzione del matrimonio a causa della morte: Obiezioni alla tesi di B. Petra [Sự chấm dứt hôn nhân do cái chết: Những phản đối đối với luận án của B. Petra]” trong Rivista di Teologia Morale [Tạp chí Thần học Đạo đức]130 (2001): 237- 48. Petra trả lời trong Basilio Petri, “Risposta a Rodriguez -Luno” trong Rivista di Teologia Morale 140 (2001) 249-58.
14. Muốn biết quan điểm lịch sử của khoa học thần học này, xem Gifler Pelland, “Le dossier patristique relatif au divorce: Revue de quelques travaux récents [Hồ sơ Giáo phụ về ly hôn: Đánh giá một số tác phẩm gần đây] (2)”, trong Science et Esprit 25 (1973) 99-119
15. Tin mừng Gia đình, tr.31. Kasper lại nhắc tới điều luật này trong bài trình bầy thêm (excursus) thứ hai trong cuốn sách nhỏ của ngài (tr. 37) mặc dù một cách có sắc thái hơn, chỉ như một khả thể, minh giải rằng điều luật này chống lại chủ nghĩa nghiêm ngặt và không ủng hộ thực hành đang bàn. “Chính chống lại hậu cảnh của thực hành này mà điều 8 của Công đồng Nixêa (325), một điều nhằm chống lại chủ trương nghiêm ngặt của phái Novatianô, [có lẽ nên] được hiểu”. ( Bản tiếng Anh đọc là “must surely” [chắc chắn phải]; trong khi bản tiếng Ý là "va force" [có lẽ nó đang diễn ra].
16. Giovanni Cerati, Divorzio, nuove nozze e penitenza nella chiesa primitiva [Ly dị, Hôn nhân Mới và Sám hối trong Giáo hội Nguyên thủy] (Bologna: EDB, 1977). Được trích dẫn trong bài bàn thêm 2 của Tin mừng Gia đình, tr.36; sự kiện ít nhất trong ấn bản tiếng Ý cuốn sách nhỏ của ngài, Kasper trích dẫn cả ba ấn bản cuốn sách của Cereti (ấn bản thứ hai, 1988, ấn bản thứ ba, 2013) cho thấy tầm quan trọng gán cho cuốn sách này. Cereti trước đây từng giới thiệu chủ đề một cách chung chung trong Giovanni Cereti, Matrimonio e indissolubilita: nuove prospettive [Hôn phối và tính bất khả tiêu: quan điểm mới] (Bologna: EDB, 1971)
17. Xem Cereti, Divorzio, nuove nozze e penitenza, các tr.371-79
18. Xem cuộc tranh luận tiếp theo về bản văn có phê phán do P. Nautin thực hiện, “Divorce et remarriage chez saint Épiphane [Ly dị và tái hôn theo thánh Épiphane]” trong Vigilae Christianae 37 (1983): 157-73; Henri Crouzel, “Encore sur divorce et remarriage selon Épiphane [nói thêm về ly dị và tái hôn theo Épiphane]” trong Vigilae Christianae 38 (1984): 271-80.
19. Công đồng Nixêa thứ nhất, điều 8, được trích dẫn trong Tin mừng Gia đình, bàn thêm 2, tr.40, số 20.
20. Heinrich Denzinger-Peter Hunermann, Enchiridion Symbolorum: Compendium of Creeds, Definitions and Declarations on Matters of Faith and Morals [Tuyển tập Tín liệu: Tuyển tập các Điều tin, Các Định nghĩa và Tuyên bố về các Vấn đề Đức tin và Luân lý] (San Francisco: Ignatius Press, 2012), tr.52, số 127, thêm nhấn mạnh.
21. Tức là, điều đã nói rõ trong Henri Crouzel, “Les diganoi visés par le Concile de Nicée dans son canon 8” [các diganoi được Công đồng Nixêa nhắm trong điều luật 8] trong Augustianum 18 (1978): 541-45.
22. So sánh Cereti, Divorzio, nuove nozze e penitenza nella chiesa primitiva, tr.300
23. Ibid. tr. 325
24. Xem đặc biệt tuyên bố của Socrates trong Historia ecclesiastica 5.22 (PG 67:641; NPNF-2 2:132b-133a): "Người Novantianô ở Phrygia không chấp nhận những người đã kết hôn hai lần; nhưng những người ở Constantinople không công khai thừa nhận cũng không bác bỏ chúng, trong khi ở các vùng phía Tây, chúng được đón nhận công khai" (trích dẫn trong ibid. tr. 311).
25. Dịch từ tiếng Latinh: Thánh Augustine, Về các lạc giáo 38 (NBA, XII/1:90-91): "Cathari, qui seipsos isto nomine quasi propter munditiam super bissime atque odiosissime nominant, secundas nuptias non admittunt, paenitentiam denegant, Novatum sectantes hereticum, unde etiam Novatiani appellantur ".
26.Thánh Augustinô, Về Thiện ích của Bậc Góa bụa 4.6 (NPNF-1 3:443a). “Non damnat unas nuptias tuas, sic nec viduatis tua cujusquam secundas. Hinc enim maxime Cataphrygarum ac Novatianorum haereses tumuerunt, quas buccis sonantibus, non sapientibus etiam Tertullianus inflavit”
27. “Mala sunt enim adulterium vel fornacatio” (ibid.)
28. Cereti, Divorzio, nuove nozze e penitenza, tr. 318.
29. Xem Gilles Pelland, “La pratica della Chiesa antica relativa ai fideli divorziati risposati” trong Bộ Giáo lý Đức tin, Sulla Pastorale dei divorziati risposati (Thành phố Vatican, Libreria Editrice Vaticana, 1998), 99-131. Tác giả minh nhiên thảo luận cuốn sách của Cereti ở các tr.115-21. Trong một ít đoạn tiếp theo, các trích đoạn sẽ dựa vào bản dịch của Pelland, vì chúng chặt chẽ hơn các lối dịch thông thường.
30. Để bảo vệ quan điểm của mình, Đức Hồng Y Kasper cũng trích dẫn một bài viết của Joseph Ratzinger, tuy nhiên, bài viết này không đề cập đến Công đồng Nixêa; hơn nữa, bản thân tác giả đã rõ ràng tách mình khỏi lập trường mà ngài đã đưa ra trong bài viết này (xem Joseph Ratzinger, “Giáo hội, Giáo hoàng và Tin mừng”, trong The Tablet 245 [ngày 26 tháng 10 năm 1991), trang 14–15). Kasper có thể muốn đề cập đến điều này.
31. Tin mừng Gia đình, bàn thêm 2, trang 37. Tài liệu tham khảo khác nằm trong bản văn bài phát biểu của ngài, trang 31: “Origen báo cáo về phong tục này và mô tả nó là ‘không vô lý'"
32. Xem Pelland, “Pratica della Chiesa”, các trang 106-7; thêm nhấn mạnh. Bản văn gốc tìm thấy nơi PG 13:1245-46.
33. Xem Henri Crouzel, L’Église Primitive face au divorce (Paris: Beauchesne, 1971), tr. 83: “Three times he underscores the fact that they acted in this way contrary to Scripture: despite the moderate tone, the rebuke is clear, since for him Scripture is the highest norm”.
34. Điều này được ngụ ý bởi Crouzel trong Đã dẫn, các tr. 83-84: “They allowed this liaison or this weakness, or employed this indulgence, so as to avoid greater evils. These are therfore attenuating circumstances which do not eliminate his basic disapproval”.
35. Tin mừng Gia đình, tr.31
36. Ibid., các tra 32-33.
37. So sánh Henri Crouzel, “Encore sur divorce et remarriage selon Épiphane [nói thêm về ly dị và tái hôn theo Épiphane]” trong Vigilae Christianae 38 (1984): 279; Pavel Evdokimov, Sacramento dell’amore Il mistero conjugale alla luce della tradizione ortodossa [Bí tích hành động: Mầu nhiệm phu phụ dưới ánh sáng truyền thống chính thống] (Sotto il Monte, Bergamo:Servitium Editrice, 1999) tr. 251.
38.Thánh Basiliô, Thư 188, 9 (FOC, 28:20); so sánh Pelland, “La pratica della Chiesa” tr, 113. Ngyên bản trong PG 32:677-80.
39. Thánh Basiliô, Thư 199, 46 (PG 32:738-39) trong đó, bản dịch Latinh đọc là “Quae viro ad ipsum tempus ab uxore derelicto insciens nupsit, ac deide dimissa est, quod prior ad ipsum reversa sit, fornicata quidem est, sed imprudens.” (Người đàn bà, vô tình cưới người đàn ông bị vợ bỏ vào lúc ấy, và sau đó bị rẫy bỏ, vì người vợ cũ trở về với ông ta, đã phạm tội gian dâm, nhưng vô ý [NPNF-2 8:239b]. Người ta không thể hiểu tại sao Đức Hồng Y, trong Tin Mừng Gia đình cũng trích dẫn Thánh Basiliô, Thư 199, 18 (PG 32:719-20), thư này viết: “Quemadmodum igitur eumqui cum aliena est muliere, adulterum nominamus, non prius admittentes ad communionem, quam a peccato cessaverit” (chúng tôi gọi người đàn ông sống với vợ của một người đà ông khác là kẻ ngoại tình, và không tiếp nhận nhận vào hiệp lễ cho tới khi ông ta ngưng phạm tội của mình [NPNF-2 8:237a}, một đoạn văn rõ ràng trái ngược với chủ trương của ngài, hơn là phần khác trong lá thư mà ngài thường nhắc đến: “điều luật” 35 (PG 32:727-28) (NPNF-2 8:239a).
40. Tất cả các khả thể này, liên quan tới “các quy luật” khác, đã được F. Cayré xem xét cẩn thận, “Ly dị ở thế kỷ thứ 4 trong luật dân sự và các quy luật của Thánh Basil” trong Éthos d’Orient 19 (1920): 295-321.
41: Thánh Basiliô, Moralia, reg. 73, 2; so sánh Pelland, “Pratica della Chiesa” tr. 115. Nguyên bản có thể thấy trong PG 31:851-52.
42. Sau đây là một bản tóm tắt của điều có thể diễn dịch từ việc phân tích bản văn của Pelland, “Pratica della Chiesa”, các tr. 114-15 (nhấn mạnh trong nguyên bản): Theo phương diện khách quan, người đàn bà trong điều luật 46 gian dâm bằng tham gia cuộc hôn nhân với một người đàn ông đã có vợ, nhưng theo phương diện chủ quan , chúng ta không thể qui lỗi cho cô ta, vì cô ta không biết điều ấy. Người đan bà trong điều luật 9, về phần cô ta, không phải là không biết, và do đó, chúng ta càng có thể nói tới tội khách quan. Giống như thế, người đàn bà trong điều luật 46 sẽ có thể lấy người đàn ông khác sau “một thời gian chờ đợi”, vì cuộc kết hợp đầu của cô không phải là một cuộc hôn nhân. Điều này cũng đúng đối với người đàn bà trong điều luật 9, vì cả cô này nữa cũng đã lấy một người chồng đã bị bỏ. Tại sao chúng ta không giả thiết rằng có một cuộc hôn nhân trong trường hợp này (điều luật 9) nhưng không có cuộc hôn nhân nào trường hợp kia (điều luật 46)?
Nói tóm lại, điều không rõ là điều luật 9 cho phép cuộc hôn nhân thứ hai của một người đàn ông bị vợ bỏ. Đọc cẩn thận bản văn chỉ gợi ý rằng việc này chứng thực một việc khoan dung nào đó đối với anh ta: anh ta sẽ không phải chịu đền tội như thể không có các nhân tố giam khinh.
43. So sánh Pelland, “Pratica della Chiesa”, tr.113: “Mục đích chuyên biệt của các văn kiện này, như Thánh Basiliô ghi nhận trong thư 27, là xác định các hình phạt do các sai phạm nào đó”.
44. So sánh Henri Crouzel, “Bản văn Giáo phụ của Máttthêu V.32 và XIX.9” New Testament Studies 19 (1972-1973): 98-119.
45. Thánh Gregory thành Nazianzen, Oration 37.8 (NPNF-2 7:340 b).
46. Ibid. NPNF-2 7:340 a-b.
47. Thánh Gregory thành Nazianzen, Thư 144 (NPNF-2 7:480b), được trích dẫn trong Pelland, “Pratica della Chiesa”, tr.117.
48. Thánh Augustinô, Về Đức tin và Việc làm 19.34 (ACW 48). Nguyên bản: (CSEL 41/5:81): “et in ipsis divinis sententiis ita obscurum est utrum etiste, cui quidem sine dubio adulteram licet dimittere, adulter tamen habeatur si alteram duxerit, ut, quan tim existimo, venialiter ibi quisque fallatur.”
49. Ngay sau đó, ngài nói: “Vì lý do này, những người, vốn là các tội nhân một cách tỏ tường bởi việc không khiết tịnh tuyệt đối phải bị loại trừ khỏi phép rửa” (ibid.). Nguyên bản trong CSEL 41/5:81: “quamobrem quae manifesta sunt impudicitiae crimina, omni modo a Bappppptismo prohibenda sunt.”
50. Đây là lối giải thích được các bình luận gia đưa ra; xem J. Pegon, “Các ghi chú bổ túc” trong Các Tác phẩm của Thánh Augustinô, loạt đầu tiên, VIII: Đức tin Kitô Giáo, “Thư viện Augustinô” (Bar le Duc: Desclée de Brouwer, 1982) tr. 508. “Điểm duy nhất trong đó ngài biểu lộ một tính độc đáo nào đó, xem ra, trong chiều hướng khoan dung, là giải pháp ngài đưa ra cho các trường hợp của một nàng thiếp (concubine) đã tan vỡ và của người chồng đã rẫy vợ sau khi nàng bị kết tội ngoại tình, nhưng sau đó không tái hôn...Tính rộng rãi trong tâm trí đó, vốn không hề thông dụng vào thời ấy, cho thấy không những linh hồn nhân từ của ngài, mà trên hết, một sự đáng trông cậy hiếm hoi về tín lý”.