1. Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Köln: Việc định nghĩa tính đồng nghị là một ‘thách thức lớn’ đối với Giáo hội
Việc định nghĩa tính đồng nghị là một "thách thức lớn" đối với Giáo hội, Hồng Y Rainer Woelki của Köln cho biết, đồng thời kêu gọi sự bình đẳng giữa Thánh lễ Novus Ordo và Thánh lễ truyền thống.
Đức Hồng Y Woelki đã lãnh đạo Tổng giáo phận Köln quê hương của mình từ tháng 9 năm 2014, sau khi đã được phong Hồng Y vào tháng 2 năm 2012. Trong những năm gần đây, ngài là một trong số ít các vị giám mục người Đức bày tỏ sự hoài nghi về hướng đi của Con đường Thượng Hội đồng của Đức.
Trả lời phỏng vấn báo Die Tagespost nhân dịp sinh nhật lần thứ 70, Đức Hồng Y Woelki cho rằng việc hiểu rõ khái niệm về tính đồng nghị sẽ là một phần quan trọng trong tương lai và bản sắc của Giáo hội. Ngài nói: "Một thách thức lớn nằm ở việc định nghĩa cho Giáo hội toàn cầu về tính đồng nghị là gì."
Ngài đề cập đến việc Đức Giáo Hoàng Lêô XIV thúc đẩy tính đồng nghị như một ưu tiên cho Giáo hội, nhận xét rằng "tính đồng nghị là một mặt của đồng tiền, và mặt kia là việc truyền bá Tin Mừng."
Đức Hồng Y Woelki nói: "Tính đồng nghị là một công cụ để truyền bá Phúc Âm và thực hiện sứ mệnh," theo đánh giá của Đức Giáo Hoàng Lêô. Đó là "một con đường tâm linh tìm kiếm trong Chúa Thánh Thần và phân định các linh hồn."
Những người chỉ trích Thượng Hội Đồng về tính đồng nghị đã cảnh báo rằng sự kiện này và phong cách đi kèm đặt ra mối đe dọa đối với bản chất phẩm trật của Giáo hội, cả về vị thế bình đẳng dành cho cử tri giáo dân và giáo sĩ, cũng như phong cách đặt câu hỏi về mọi thứ, kể cả giáo lý chính thống của Giáo hội.
Được xem như là tiền thân của Thượng Hội Đồng toàn cầu về Tính đồng nghị, Con đường Đồng nghị của Đức nói riêng đã thu hút sự chú ý và chỉ trích đặc biệt từ các giám mục quốc tế và ngay tại Đức. Đức Hồng Y Woelki đã nhiều lần bình luận về những lo ngại của mình đối với Con đường Đồng nghị, gần đây nhất ngài tuyên bố rằng đối với ngài "Con đường Đồng nghị đã kết thúc". Phát biểu vào tháng Giêng, Đức Hồng Y Woelki nói rằng "từ một thời điểm nhất định trở đi, Con đường Đồng nghị ở Đức chủ yếu trở thành việc thực hiện một số lập trường chính trị của Giáo hội."
Ngài nhắc lại quan điểm này với tờ Die Tagespost: "Ở Đức, chúng tôi chủ yếu tập trung vào việc thực hiện một số hình thức tham gia và các hình thức đồng quyết định. Trong quá trình đó, chúng tôi đã bỏ qua thực tế rằng Giáo hội có cấu trúc phẩm trật và mang tính bí tích."
Ngài nói rằng tính đồng nghị luôn luôn và chỉ nên là "nhận ra điều Chúa muốn từ chúng ta".
Đức Hồng Y đã bác bỏ mọi ý kiến lo ngại rằng Đức đang tự tạo ra con đường giáo lý riêng biệt, là điều mà nhiều nhà phê bình khác của Giáo hội Chính thống Đức gọi là dị giáo hoặc ly giáo. Ngài nói: "Sẽ không có ‘con đường riêng của Đức’."
Đối với Đức Hồng Y Woelki, mối quan hệ giữa Hội đồng Giám mục Đức, gọi tắt là DBK và Tòa Thánh là một mối quan hệ tích cực, ngài hoan nghênh việc các đề xuất của DBK "đã được trình lên Đức Giáo Hoàng" và "giờ chúng ta đang chờ xem Đức Thánh Cha và các cộng sự của ngài sẽ đưa ra những điều chỉnh cần thiết như thế nào".
Tòa Thánh đã bắt đầu đáp lại một số đề xuất của DBK, đáng chú ý nhất là yêu cầu cho phép giáo dân giảng trong thánh lễ, là điều mà Vatican đã kiên quyết bác bỏ vào tháng Sáu. Trên thực tế, một số giáo phận ở Đức đã phớt lờ điều này, và việc thực thi phán quyết dường như là vấn đề then chốt để bảo đảm hiệu quả của nó. Mặc dù không đề cập đến điều này hay bất cứ điều gì cụ thể, Đức Hồng Y Woelki đã lưu ý đến sự phụ thuộc cần thiết mà DBK yêu cầu: "Nhiệm vụ của Giáo quyền vẫn là xác định đức tin và giáo lý của Giáo hội là gì và điều gì cấu thành nên tính tông đồ và tính phổ quát của Giáo hội." Tính đồng nghị trong Thánh lễ truyền thống không phải là chủ đề nổi bật duy nhất trong các cuộc thảo luận của Giáo Hội Công Giáo ngày nay. Thánh lễ truyền thống đang được đặt lên hàng đầu và là trọng tâm trong Giáo hội những tuần gần đây, do các lễ tấn phong giám mục do Huynh Đoàn Thánh Piô X thực hiện vào ngày 1 tháng 7. Khi được hỏi về nghi thức cũ, Đức Hồng Y Woelki đã hạ thấp đề xuất về việc đưa Thánh lễ truyền thống vào kế hoạch truyền giáo của mình một cách mật thiết hơn.
Ngài nói: "Thánh lễ truyền thống không đóng vai trò riêng biệt hay nổi bật đối với chúng tôi. Tôi tự coi mình là người gắn bó chặt chẽ với truyền thống và giáo huấn của Công đồng Vatican II. Cải cách phụng vụ là một trong những cải cách thiết yếu ở đó – chúng ta không nên quên điều đó."
Đức Hồng Y cũng tìm cách tránh bất kỳ sự đối lập nào về mặt phụng vụ, nói rằng "Tôi không muốn đặt cái này chống lại cái kia."
Trong đánh giá của mình, Đức Hồng Y Woelki nói "chúng ta cần một sự kết hợp lành mạnh giữa các truyền thống có thể cùng phát triển", là điều mà ngài cho rằng đã tồn tại trong Tổng giáo phận Köln của mình. Ngài ca ngợi Huynh Đoàn Thánh Phêrô, gọi tắt là FSSP, vì những đóng góp của họ tại Köln, coi đó "như một sự làm giàu thêm, bởi vì từ trước đến nay vẫn luôn có nhiều nghi thức khác nhau trong Giáo hội".
Ngài nhắc lại lời kêu gọi gần đây của Đức Giáo Hoàng về việc chấm dứt các hành vi lạm dụng phụng vụ, nhấn mạnh rằng "những hành vi này không thể dung thứ". Nhưng Đức Hồng Y cũng nói thêm rằng các hành vi lạm dụng phụng vụ "không chỉ giới hạn ở phụng vụ cải cách".
Ngài cũng khẳng định rằng Thánh lễ Novus Ordo có vị thế ngang bằng với Thánh lễ truyền thống, vì nó sở hữu "vẻ đẹp và sự trang nghiêm không hề thua kém so với Thánh lễ theo nghi thức Tridentine".
Lấy cảm hứng từ lời kêu gọi gần đây của Đức Giáo Hoàng Lêô về sự tôn kính và đúng mực trong phụng vụ, Đức Hồng Y Woelki kêu gọi nên tập trung ít hơn vào tuổi đời của nghi thức, và thay vào đó nên chú trọng hơn vào "ars celebrandi" (nghệ thuật cử hành).
"Nếu chúng ta kỳ vọng Thánh lễ Tridentinô sẽ cung cấp câu trả lời cho những câu hỏi về Giáo hội và đức tin, thì chúng ta đã đi sai hướng," ngài nói.
Những năm gần đây, Đức Hồng Y Woelki đã trở thành một nhân vật bị tấn công nhiều trong hàng ngũ giám mục Đức. Có nhiều yếu tố dẫn đến điều này, trong đó không nhỏ là việc ngài là Hồng Y duy nhất ở Đức bày tỏ sự phản đối mạnh mẽ đối với Tiến Trình Công Nghị.
Hai lần, đơn từ chức của Đức Hồng Y Woelki đã bị Tòa Thánh từ chối sau khi ngài đệ trình liên quan đến cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục. Ngài vẫn là một tiếng nói nổi bật trong hàng giám mục Đức, đồng thời là Hồng Y cử tri thêm mười năm nữa, mặc dù rất khó xảy ra cuộc bầu cử Giáo Hoàng trong thời gian đó.
Source:Catholic Herald
2. Chủ tịch Hội đồng Giám mục Vương Quốc Anh kêu gọi hành động toàn cầu để giải quyết vấn nạn thù hận tôn giáo.
Đức Cha Richard Moth, Tổng Giám Mục Westminster và Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Anh và xứ Wales, đã lên tiếng ủng hộ chiến dịch kêu gọi Liên Hiệp Quốc và các chính phủ trên toàn thế giới khẩn trương hành động để bảo đảm quyền của những người bị tấn công vì đức tin của họ. Trong thông điệp ủng hộ chiến dịch do tổ chức Trợ Giúp Các Giáo Hội Đau Khổ, gọi tắt là ACN tổ chức, Đức Tổng Giám Mục Moth kêu gọi các tín hữu Công Giáo và những người thiện chí ký vào bản kiến nghị thúc giục các nhà lãnh đạo thế giới bảo đảm quốc gia của họ thực hiện các yêu cầu về tự do tôn giáo được nêu trong Điều 18 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Theo báo cáo Tự do Tôn giáo trên Thế giới mới nhất, do ACN công bố, 5,4 tỷ người sống ở các quốc gia nơi sự áp bức và phân biệt đối xử được duy trì bởi các chính phủ hoặc các nhóm cực đoan. "Điều 18 thường bị bỏ qua", Đức Tổng Giám Mục Moth viết. "Đàn ông và phụ nữ bị bỏ tù, những người khác bị đuổi khỏi nhà, hoặc thậm chí bị giết, chỉ vì giữ vững niềm tin tôn giáo của họ một cách hòa bình." Ở một số quốc gia, phụ nữ và trẻ em gái bị bắt cóc, bị ép buộc từ bỏ đức tin và kết hôn với kẻ bắt cóc, trẻ em bị tước đoạt quyền được học về đức tin của mình. "Nhiều người - cả trẻ em và người lớn - là nạn nhân của sự thù hận tôn giáo. Họ phải chịu đựng sự ngược đãi và phân biệt đối xử trên đường phố, ở trường học và nơi làm việc." Trước sự gia tăng đáng báo động về các vi phạm tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng, Đức Tổng Giám Mục Moth nói: "Hôm nay tôi mời các bạn tham gia vào lời kêu gọi quan trọng này để hành động ủng hộ những người trên khắp thế giới bị áp bức vì đức tin của họ… Các cộng đồng đa dạng phong phú mà chúng ta có ở đây trong các Giáo phận Công Giáo của Anh và xứ Wales bao gồm rất nhiều người với câu chuyện riêng về sự bức hại và áp bức, đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã tìm kiếm một khởi đầu mới, nhận ra rằng việc vi phạm tự do tôn giáo trái với các giá trị của một xã hội công bằng." Chúng ta cần đứng lên bảo vệ anh chị em của chúng ta trong Chúa Kitô và đứng lên ủng hộ tất cả những ai chịu đau khổ vì niềm tin của mình, công nhận tự do tôn giáo là một quyền con người phổ quát. Chiến dịch Điều 18 của ACN được đưa ra sau khi Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nói: "Tự do tôn giáo không chỉ đơn thuần là một quyền pháp lý hay một đặc quyền được chính phủ ban cho chúng ta. Đó là một điều kiện nền tảng giúp cho sự hòa giải đích thực trở nên khả thi."
Source:CBCEW
3. Đức Thượng phụ Chanđê cho rằng việc người Kitô hữu Iraq di cư là một ‘thách thức nghiêm trọng’.
Theo Đức Tân Thượng phụ Chanđê, những thách thức lớn nhất mà Giáo hội phải đối mặt ở Iraq là sự mất niềm hy vọng trong giới trẻ và tình trạng người Kitô hữu di cư tìm kiếm hòa bình và ổn định ở những nơi khác.
Tình hình chính trị nội bộ ở Iraq nhìn chung "tốt", và có một số kỳ vọng tích cực rằng chính phủ có thể tạo ra những thay đổi tích cực trong việc xây dựng một "nhà nước mạnh mẽ dựa trên các thể chế vững chắc và chống tham nhũng, vốn là kẻ thù chính của quốc gia". Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của cuộc xung đột giữa Hoa Kỳ và Iran là không thể tránh khỏi.
Đó là nhận định của Đức Thượng phụ Phaolô Đệ Tam Nona, người được bầu làm Thượng phụ Chanđê của Baghdad vào tháng Tư năm nay. Sinh ra ở đồng bằng Nineveh, Đức Thượng phụ Phaolô Đệ Tam từng là Tổng Giám Mục Mosul từ năm 2009 đến năm 2015, trước khi trở thành Giám mục của Giáo phận Thánh Thomas Tông đồ Sydney thuộc người Chanđê. Mùa xuân năm nay, ngài được bầu làm người kế nhiệm Đức Hồng Y Raphael Sako làm Thượng phụ Baghdad, do đó một lần nữa trở về quê hương của mình.
Theo đánh giá của Đức Thượng phụ, Iraq vẫn còn một số hy vọng chính trị, nhưng ở cấp độ cơ bản hơn, ngài nhấn mạnh sự thiếu hy vọng lan rộng vào tương lai của đất nước, đặc biệt là trong giới trẻ. "Giới trẻ đã mất hy vọng vào tương lai, vào đất nước, vào quê hương, và theo một nghĩa nào đó, vào hầu hết mọi thứ," ngài nói với Vatican News.
Đức Thượng phụ nhận xét rằng đây là "thách thức nghiêm trọng nhất" mà Iraq phải đối mặt, bởi vì "nó khiến giới trẻ ngần ngại tham gia, xây dựng cuộc sống của chính mình và của người khác, hoặc đóng góp tích cực vào sự phát triển của xã hội."
Sự thiếu tin tưởng vào tương lai của đất nước được thể hiện rất rõ ràng qua việc người Kitô hữu di cư để tìm kiếm một cuộc sống ổn định hơn. Hậu quả là rất rõ rệt. Do số lượng người di cư khỏi Iraq, tỷ lệ kết hôn đã "giảm đáng kể", Đức Thượng phụ than thở. "Nhiều người trẻ không muốn lập gia đình ở đây vì họ có ý định rời khỏi đất nước."
Đối với những người chọn ở lại, sự bất ổn về tương lai và sự ổn định của quốc gia cũng đang tác động trực tiếp đến cuộc sống của họ. Đức Thượng phụ nhấn mạnh vấn đề rằng ngay cả những người Kitô hữu ở lại cũng "không cảm thấy thoải mái khi lập gia đình trong điều kiện đầy bất ổn".
"Việc thiếu hy vọng vào tương lai của đất nước — do tình trạng bất ổn ảnh hưởng đến toàn khu vực — khiến giới trẻ không còn mong muốn tham gia vào đời sống công cộng hay đóng góp cho nó… Thách thức lớn nhất mà chúng ta phải đối mặt là việc tất cả người Kitô hữu không trở về khu vực này: nhiều người đã di cư khỏi Iraq, trong khi những người khác chọn ở lại những khu vực ổn định hơn."
Đức Thượng Phụ Phaolô Đệ Tam cho rằng, việc không tạo ra động lực để thanh niên Iraq đầu tư vào đất nước không chỉ là vấn đề của riêng thế hệ đó mà còn là mối lo ngại cho toàn thể người dân Iraq, bởi vì nếu thiếu sự tham gia của giới trẻ, "tương lai sẽ ngày càng trở nên bấp bênh".
Đã 12 năm kể từ khi lực lượng Nhà nước Hồi giáo Iraq và Syria, gọi tắt là ISIS tấn công vùng đồng bằng Nineveh, vốn là vùng đất lịch sử của người Kitô giáo, tàn sát dã man và chiếm giữ thành phố Mosul để làm trụ sở chính trong khu vực. Vụ giết hại có chủ đích người Kitô giáo và người Yazidi cuối cùng đã được quốc tế công nhận là tội ác diệt chủng. Hàng trăm ngàn người đã phải bỏ chạy để cứu lấy mạng sống, và dân số Kitô giáo đã giảm mạnh từ khoảng 1,5 triệu người vào đầu những năm 2000 xuống còn từ 200.000 đến 300.000 người sau các cuộc tấn công năm 2014.
Kể từ đó, dân số Kitô giáo đã dần ổn định, và chuyến thăm Iraq của Đức Giáo Hoàng Phanxicô vào tháng 3 năm 2021 đã góp phần đưa tình cảnh của những người Kitô hữu bị bức hại trở thành tâm điểm chú ý.
Đức Thượng phụ Phaolô Đệ Tam là Tổng Giám Mục Mosul vào thời điểm các cuộc tấn công diễn ra, và khi phát biểu với tổ chức Trợ Giúp Các Giáo Hội Đau Khổ sau khi thành phố bị tạm chiếm, ngài đã than thở về tình trạng "bi thảm" của khu vực. "Năm 2003 vẫn còn 35.000 tín hữu sống ở Mosul. Ba ngàn người vẫn còn ở đó vào đầu năm 2014. Giờ đây có lẽ không còn một ai ở lại đây nữa, và đó là một bi kịch."
Ngài tuyên bố tuần này: "Hiện nay tình hình đã khác biệt rõ rệt. Không còn nghi ngờ gì nữa, có sự khác biệt rất lớn giữa những ngày đó và tình hình hiện tại. Không còn bầu không khí sợ hãi tột độ nữa." Ngài cho biết thêm, các khu vực có truyền thống Kitô giáo trong nước không còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi "các vấn đề an ninh của quá khứ".
Nhưng điều này không có nghĩa là cuộc sống dễ dàng đối với các tín hữu Kitô giáo Iraq. Đức Thượng phụ Phaolô Đệ Tam đã lưu ý rằng cuộc khủng hoảng nhân khẩu học là một vấn đề hiện hữu, cũng như "sự thiếu hụt các dịch vụ thiết yếu". Những tổn thất mà các cộng đồng Kitô giáo phải gánh chịu "không thể bù đắp được", và việc thực hành đức tin vẫn không phải là điều có thể xem nhẹ.
Đức Thượng phụ nhận xét: "Quyền tự do sống theo đức tin không chỉ giới hạn trong những gì diễn ra bên trong nhà thờ mà còn bao gồm khả năng hiện diện và tham gia tự do của các tín hữu Kitô giáo vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Những khía cạnh sau này không thể được bảo đảm trọn vẹn nếu không gặp phải những trở ngại về mặt thể chế và xã hội."
Ngài cũng lưu ý đến tác động của cuộc xung đột khu vực xung quanh, nói rằng "có những lo ngại rằng đất nước có thể bị cuốn vào cuộc xung đột hoặc trở thành chiến trường giữa các bên liên quan."
Đức Thượng phụ nhận xét rằng cuộc sống của các tín hữu Kitô giáo Iraq là một cuộc đấu tranh hàng ngày trên nhiều phương diện. Trước cuộc gặp gỡ với các giám mục Công Giáo trong khu vực – cuộc gặp đầu tiên kể từ năm 2021 – ngài kêu gọi Iraq cần "khôi phục niềm tin vào tương lai để mỗi tín hữu Kitô giáo có thể sống tự do, với sự chắc chắn về việc có thể xây dựng một cuộc sống ổn định và có một công việc mà họ không bị phân biệt đối xử hoặc can thiệp không đáng có".
Để thuyết phục người Kitô hữu trở về quê hương, chính phủ phải thực hiện lời hứa của mình. "Việc họ trở về phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự ổn định của tình hình chính trị và hy vọng rằng những sự kiện đau thương trong quá khứ sẽ không lặp lại", Đức Thượng phụ tuyên bố.
Source:Catholic Herald