LƯỢC SỬ Giáo Hội Công Giáo



DẪN NHẬP

Giáo Hội Công Giáo là định chế lâu đời nhất ở thế giới phương Tây. Lịch sử của Giáo hội có thể bắt nguồn từ gần hai nghìn năm trước. Giáo hội khởi đầu ở Giê-ru-sa-lem như một nhóm nhỏ các môn đệ cùng chia sẻ niềm tin vào sự phục sinh của Chúa Giê-su, vị lãnh đạo bị đóng đinh của họ, và nhanh chóng lan rộng đến vô số thành phố của Đế quốc Rô-ma. Sự phản đối kiên quyết của Giáo hội đối với văn hóa, đạo đức và tôn giáo Rô-ma đã khơi dậy sự phẫn nộ tàn bạo của nhà nước, và nhiều thành viên của Giáo hội đã thiệt mạng khi họ từ chối tuân theo. Nhưng sức mạnh tinh thần của Giáo hội chỉ được khuếch đại bởi sự đàn áp, và sự phát triển của Giáo hội vẫn không ngừng. Cuối cùng, Giáo hội đã giành được chiến thắng quyết định trước chủ nghĩa ngoại giáo cũ khi thu hút được sự ủng hộ của chính Hoàng đế Cons-tan-ti-nô, người vào năm 312 đã gắn biểu tượng của Giáo hội—chữ viết lồng nhau [monogram] của Chúa Kitô—vào cờ hiệu của quân đội mình và ban cho Giáo hội quyền tự do tôn giáo hoàn toàn.

Từ đó trở đi, vận mệnh của Giáo hội gắn bó mật thiết với nhà nước, khi hết hoàng đế này đến hoàng đế khác ban tặng cho Giáo hội nhiều đặc ân và ưu ái. Khi Đế quốc Tây Rô-ma sụp đổ trước sự tấn công của các bộ lạc man rợ, nó vẫn là thế lực duy nhất không bị phá vỡ hoàn toàn; và dưới sự lãnh đạo của những vị Giáo hoàng lỗi lạc như Grê-go-ri-ô Cả (mất năm 604), nó đã truyền bá Ki-tô giáo cho các bộ lạc man rợ và đặt nền móng cho một nền văn minh Ki-tô giáo hoàn toàn mới ở phương Tây: Thế giới Ki-tô giáo (Christendom).

Trong gần một nghìn năm, Giáo Hội Công Giáo đã chi phối toàn bộ đời sống của thế giới Ki-tô giáo và thổi hồn vào luật pháp, định chế, phong tục, văn học, nghệ thuật và kiến trúc của nó bằng đức tin vào Chúa Giê-su Ki-tô, Thiên Chúa và con người. Các Giáo hoàng dần dần thiết lập quyền lực tối cao của mình trên toàn bộ Ki-tô giáo phương Tây. Những vị quân chủ giáo hoàng quyền lực này—được cô đọng một cách xuất sắc nhất qua Đức In-nô-cen-tê III (mất năm 1216)—kiểm soát một bộ máy giáo hội rộng lớn, điều chỉnh tỉ mỉ hành vi đạo đức và xã hội của con người thời trung cổ—cả vua chúa, hoàng tử, nông dân và thị dân. Khi thời hiện đại bắt đầu với thời kỳ Phục hưng vào thế kỷ XIV và XV, sự thống nhất của Kitô giáo dưới sự cai trị của Giáo hoàng đã bị suy yếu nghiêm trọng bởi nhiều thế lực—xã hội, kinh tế, tôn giáo và văn hóa—không còn nằm trong khuôn khổ chế độ thần quyền của Giáo hoàng nữa. Khi Luther giáng đòn chí mạng nhất—việc ông phủ nhận thẩm quyền tuyệt đối của Giáo hoàng—phần lớn cấu trúc phức tạp đó đã sụp đổ. Tuy nhiên, Giáo hội Rô-ma đã tự cứu mình bằng một cuộc cải cách triệt để tại Trent (1545–1563), và với số lượng tín hữu và ảnh hưởng giảm sút đáng kể nhưng với nguồn năng lực tinh thần được hồi sinh—thể hiện rõ nhất ở Dòng Tên mới thành lập—Giáo hội bắt đầu nhiệm vụ mới là khôi phục lại các lãnh thổ đã mất và bảo vệ đức tin của các tín hữu, những người giờ đây phải đối diện với tinh thần nghi ngờ triệt để do sự trỗi dậy của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa phóng khoáng gây ra.

Trong bốn thế kỷ tiếp theo, Giáo hội được tổ chức lại tại Trent đã kiên quyết chống lại hầu hết các xu hướng của văn hóa thế tục hiện đại. Bị lung lay bởi hết cuộc khủng hoảng này đến cuộc khủng hoảng khác—đáng chú ý nhất là Cách mạng Pháp bắt đầu năm 1789—Giáo hội vẫn giữ vững được hàng ngũ và đức tin không hề thay đổi. Sau Cách mạng, giáo hội trải qua một sự phục hưng tinh thần mạnh mẽ, thể hiện qua việc nhiều thành viên thuộc giới trí thức ưu tú của châu Âu trở lại đạo, qua việc thành lập nhiều dòng tu mới, qua một phong trào truyền giáo năng động lan rộng khắp mọi nơi trên thế giới, và qua sự phát triển của một đạo đức xã hội đưa ra những giải pháp nhất quán cho các vấn đề đạo đức do Cách mạng kỹ nghệ đặt ra.

Tuy nhiên, thái độ của Giáo hội đối với thế giới hiện đại bên ngoài Giáo hội vẫn ngoan cố tiêu cực và lên án. Thái độ này được thể hiện rõ nét nhất dưới triều đại của Đức Giáo Hoàng Pi-ô IX (1846–78), với Bản Danh mục các Sai lầm đã lên án hệ tư tưởng của chủ nghĩa phóng khoáng thế tục hiện đại. Khi những người Công Giáo tự do và những người theo thuyết duy hiện đại cố gắng dung hòa đức tin truyền thống với yêu cầu của văn hóa hiện đại, họ đã bị đàn áp dứt khoát. Và Giáo hội bước vào thế kỷ của chúng ta với số lượng thành viên không ngừng tăng lên (gần một phần năm dân số thế giới), được kỷ luật chặt chẽ dưới sự kiểm soát tập trung cao độ của Rome. Các Giáo hoàng của thế kỷ XX đã nâng cao uy tín của Giáo hội bằng khả năng lãnh đạo tài tình trong thời đại tiến bộ kỹ thuật và hỗn loạn tinh thần.

Với sự xuất hiện của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (mất năm 1963), một bước ngoặt đã đạt được trong mối quan hệ của Giáo hội với thế giới hiện đại. Với sự táo bạo đáng kinh ngạc, Đức Gioan đã kiên quyết từ bỏ bốn thế kỷ tranh luận vô bổ và kêu gọi đối thoại với tất cả những người thiện chí. Công đồng Vatican II (1962–1965) đã đón nhận tầm nhìn lạc quan của ngài về một Giáo hội đổi mới, tìm kiếm sự hiệp nhất lớn hơn với tất cả mọi người. Công đồng đã tiến hành một cuộc tự kiểm điểm sâu xa đối với Giáo hội và thực hiện những thay đổi sâu rộng, làm biến đổi Giáo hội một cách triệt để trong nhiều khía cạnh của đời sống và tín lý.

Sự đột ngột và phạm vi của những thay đổi đã gây sốc sâu xa cho các thành viên uể oải của Giáo hội và làm suy yếu tinh thần của họ. Điều đó đã đẩy toàn thể Giáo hội vào một thời kỳ hỗn loạn nội bộ dữ dội đến nỗi ít ai dám đưa ra bất cứ dự đoán chắc chắn nào về kết quả của tất cả. Tuy nhiên, lịch sử được thuật lại ở đây ít nhất cũng cung cấp góc nhìn cần thiết cho bất cứ phán xét nào mà chúng ta muốn đưa ra.

Tái bút: Tháng 12 năm 1978, cái chết của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI vào ngày 6 tháng 8 năm 1978, ở tuổi 80, đã châm ngòi cho một loạt sự kiện hấp dẫn khiến Rome trở thành tâm điểm chú ý của thế giới trong nhiều tuần. Đức Phaolô có thể sẽ đi vào lịch sử như một trong những vị giáo hoàng hiện đại vĩ đại, người đã khéo léo cân bằng giữa truyền thống và sự đổi mới trong việc dẫn dắt Giáo hội vượt qua một trong những thời kỳ chuyển đổi quan trọng nhất. Nhưng trong những năm cuối đời, ngài thường tỏ ra mệt mỏi và chán nản một cách đau đớn và thường xuyên than thở về những điều xấu xa đang lan tràn trong Giáo hội và thế giới. Mà những vị được nhắc đến như các papabili [có thể làm giáo hoàng] cũng không khơi gợi trí tưởng tượng hay hứa hẹn nhiều về mặt lãnh đạo sáng tạo cho một Giáo hội đang gặp khó khăn khi ngài qua đời. Nhưng khi mật nghị được tổ chức và Albino Luciani, người được bầu làm người kế nhiệm ngài, xuất hiện trên ban công nhà thờ Thánh Phêrô với nụ cười rạng rỡ, tiếng cười lớn và vẫy tay, đám đông khổng lồ bên dưới dường như cảm nhận được một cách theo bản năng rằng ngài chính là người mà Giáo hội cần và họ đã đáp lại bằng những tràng vỗ tay và sự nhiệt tình cuồng nhiệt.

Bản năng của họ đã được chứng minh là đúng đắn. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô chỉ trị vì trong ba mươi bốn ngày nhưng trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, ngài đã thành công trong việc hồi sinh hình ảnh Giáo hoàng. Là con trai của một người thợ làm thủy tinh phải di cư đến Thụy Sĩ để nuôi sống gia đình ở Belluno, Gioan Phaolô không xa lạ gì với gian khổ và nghèo đói. Điều này, cộng với nhiều năm làm công tác mục vụ, đã cho phép ngài nói chuyện với sự cảm thông và thấu hiểu chân thành về những mối quan tâm và vấn đề của người dân thường. Những bài giảng giản dị và trực tiếp của ngài, được điểm xuyết bằng những câu chuyện cười và hồi ức cá nhân, đã làm hài lòng những tín hữu đổ xô đến các buổi gặp gỡ của ngài, trong khi tình yêu thương của ngài dành cho mọi người rõ ràng là chân thành và không hề giả tạo; và khi ngài đi qua đám đông, ngài thường dừng lại để hôn những đứa trẻ và ôm cha mẹ chúng.

Với phong cách khiêm hạ thường thấy, ngài tự gọi mình là một “con chim hồng tước nghèo” và dù sở hữu tài năng trí tuệ thực sự, ngài không để lại bất cứ bài phát biểu hay thông điệp quan trọng nào. Ngay cả nếu ngài có được một triều đại lâu hơn, khó có khả năng ngài sẽ tạo ra bất cứ thay đổi lớn nào theo hướng mà hai vị tiền nhiệm của ngài đã vạch ra, những người mà ngài đã tôn vinh bằng cách chọn tên của họ. Ngài là người bảo thủ về thần học, một người kiên định bảo vệ các quan niệm truyền thống về đạo đức và giáo lý, và mặc dù rất cảm thông với sự nghiệp của người nghèo và người bị áp bức, ngài hoàn toàn không bị ấn tượng bởi các học thuyết thần học giải phóng đương thời.

Cái chết đột ngột của ngài vào ngày 28 tháng 9 đã chấm dứt mọi suy đoán về hướng đi của triều đại giáo hoàng của ngài và, khi các Hồng Y tập trung tại Rome cho một cuộc bầu cử giáo hoàng khác, người ta tự hỏi liệu họ có cơ hội tìm được một người tài giỏi như Albino Luciani hay không. Xét đến thành phần bảo thủ của hội đồng Hồng Y, ngài phải hoàn toàn theo truyền thống về giáo lý, được các Hồng Y có ý thức xã hội hơn ở các nước thuộc Thế giới thứ ba và Mỹ Latinh chấp nhận, và, xét đến áp lực to lớn của chức vụ, điều chắc chắn đã đẩy nhanh cái chết của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô, ngài cũng phải có sức khỏe tốt. Thêm vào đó, họ phải tìm một người có thể duy trì tinh thần lạc quan và hy vọng mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô đã khôi phục cho Giáo hội trong một thời gian ngắn đến khó tin.

Đó là một thách thức to lớn và như mọi người đều biết, các Hồng Y đã làm chấn động thế giới bằng sự lựa chọn đầy sáng tạo của họ. Họ không chỉ phá vỡ truyền thống hơn bốn thế kỷ rưỡi bằng cách bầu chọn một người không phải là người Ý, mà họ còn chọn một Hồng Y đến từ Ba Lan cộng sản, Karol Wojtyla, ở tuổi 58 - vị Giáo hoàng trẻ nhất trong hơn một thế kỷ.