SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
Làm rõ sự thật và nguyên nhân

Nhà Xuất Bản Ignatius Press San Francisco

PHẦN II Nguồn gốc của Lạm dụng Tình dục bởi Giáo sĩ

Chương 11. Vai trò của sự bất đồng chính kiến trong Giáo hội
(tiếp theo)

Paul Shanley

Nếu có một trường hợp điển hình về một linh mục lạm dụng tình dục trẻ em lấy cảm hứng từ các văn bản bất đồng chính kiến, thì đó chính là Paul Shanley. Năm 1968, khi đang quan hệ tình dục với một trong những người đàn ông trẻ tuổi của mình, ông ta đã trở thành người ủng hộ mạnh mẽ đạo đức tình huống. “Mọi hành vi, mọi cái gọi là tội lỗi, ông ta nói, đều phải được xử lý riêng biệt và mới mẻ, trong khuôn khổ riêng của nó. Đó là công việc của linh mục, đo lường và cân nhắc, công việc của nhà triết học.” (31) Đó cũng là công việc của kẻ lạm dụng. Sự biện minh của Shanley cho hành vi săn mồi của mình chính là những gì Kosnik đã dạy trong cuốn Tình dục Con người. Cuốn sách của Kosnik không dạy Shanley điều đó. Việc Shanley nghĩ theo cách này không phải là lý do, mà ngược lại, nó đã xác nhận những suy nghĩ của ông ta, mang lại cho chúng sự khẳng định.

Tổng giám mục Boston, Hồng Y Medeiros, có thể đã có ý tốt khi bổ nhiệm Shanley làm “mục tử cho giới trẻ bị xa lánh trên đường phố” (Shanley và giới truyền thông thích dùng thuật ngữ “mục tử cho người đồng tính”), nhưng đó là một quyết định tồi. Ý tưởng của Shanley về việc phục vụ giới trẻ là hãm hiếp họ.

Theo David France, Shanley tin rằng thẩm quyền là “một điều ác cơ bản”. (32) Tại sao một người như vậy lại chú ý đến những gì giám mục của mình nói, hay những gì Giáo hội dạy? Shanley nói rằng chế độ một vợ một chồng đơn giản là không tự nhiên và phải bị bỏ qua. (33) Đúng như dự đoán, ông ta lên án giáo lý của Giáo hội về đồng tính luyến ái. “Tôi không nghĩ hoạt động tình dục giữa những người cùng giới là vấn đề lớn. Vấn đề là xã hội nói gì và làm gì về nó.” (34) Điều này giải thích cách ông ta hợp lý hóa hành vi quấy rối của mình.

Năm 1970, Shanley rất cởi mở về điều này, viết các bản tin về cuộc chiến của Giáo hội chống lại người đồng tính. Và Hồng Y Medeiros đã làm gì về điều đó? Năm 1973, sau khi nhận được nhiều lời phàn nàn về quan điểm dị giáo của Shanley, ngài đã viết thư cho ông ta nói rằng, “Tôi phải bày tỏ sự quan ngại sâu xa và không tán thành.” (35) Nhưng điều đó chẳng ích gì.

Cũng trong năm đó, Shanley đã đẩy mọi chuyện lên một tầm cao mới. Đây là những gì ông ta nói với một chàng trai trẻ trong một trong những buổi “trị liệu” của mình: “Tôi không quan tâm cha mẹ cậu đã nói gì với cậu. Tôi không quan tâm mục tử của cậu đã nói gì với cậu. Hãy quên tất cả những gì cậu đã học được, hoặc nghĩ là đúng. Đồng tính là tốt”. (36) Chàng trai bối rối và nói với Shanley rằng cậu chưa bao giờ quan hệ tình dục với một người đàn ông trước đây. Shanley khuyên cậu nên đến rạp chiếu phim khiêu dâm đồng tính, nhưng chàng trai nói rằng cậu không thể làm điều đó. Shanley sau đó mời cậu bé quan hệ tình dục với mình. (37)

Vẫn táo bạo như mọi khi, Shanley bắt đầu làm băng cassette về các bài giảng của mình về các nhân đức của đồng tính luyến ái. (38) Năm 1977, cùng năm tác phẩm của Kosnik được xuất bản, Shanley có thể đã học theo Kosnik khi ông nói rằng không có hoạt động tình dục nào gây tổn hại về mặt tâm lý, “ngay cả loạn luân hay thú dâm”. (39) Trong cùng bài phát biểu đó ở Rochester, New York, ông đã đưa ra bài phát biểu ủng hộ ấu dâm khét tiếng của mình, tuyên bố rằng người lớn không phải là kẻ dụ dỗ: “Đứa trẻ mới là kẻ dụ dỗ.”

Vậy ĐHY Medeiros đã làm gì khi một người phụ nữ phàn nàn với ngài? Ngài đã chuyển lời phàn nàn đó cho Giám Mục Phụ Tá Thomas Daily. Và ngài đã làm gì? Ngài đã phớt lờ bà ta. “Quan điểm của Tổng Giáo phận Boston là mặc dù Cha Shanley được hưởng các quyền hạn của Tổng Giáo phận Boston, nhưng chỉ mình ông phải chịu trách nhiệm về bất cứ tuyên bố nào liên quan đến đồng tính luyến ái.” (40)

Năm 1989, Shanley công khai chỉ trích việc sửa đổi hai lời thề mới do Vatican ban hành: Lời Tuyên xưng Đức tin và Lời Thề Trung thành. Và Tổng Giáo phận Boston đã làm gì về điều đó? Họ miễn cho ông khỏi việc tuyên thệ. (41) Shanley nắm quyền, và ông biết điều đó. Giám mục Daily không phải là người duy nhất bỏ qua cho Shanley. Giám mục John McCormack, người đi nghỉ cùng Shanley, biết về những hành vi không chung thủy của Shanley nhưng theo như chúng ta biết, ngài đã không làm gì cả. Ngài cũng cho phép Shanley đi bất cứ nơi nào ông muốn, ngay cả khi điều đó có nghĩa là sao lãng nhiệm vụ của mình. (42) Người duy nhất dám chống lại Shanley là tổng giám mục John O’Connor của New York. Vào giữa những năm 1990, khi Shanley, người đang giữ chức giám đốc tạm quyền của Leo House, một nhà khách ở New York, tìm cách trở thành giám đốc, O’Connor đã nói với tổng giám mục Boston, Hồng Y Law, rằng ông sẽ không chấp nhận ông ta. (43)

Mặc dù Shanley đã làm ô nhục bản thân và Giáo Hội Công Giáo nhiều lần, vẫn có những người bào chữa cho ông ta, đổ lỗi cho những giáo lý của Giáo hội về tình dục là nguyên nhân dẫn đến các vụ cưỡng hiếp hàng loạt của ông ta. Brian McNaught là một nhà hoạt động đồng tính luyến ái đã bị đuổi khỏi chức linh mục vào năm 1974; ông được tờ New York Times biết đến với biệt danh “cha đỡ đầu của việc đào tạo đa dạng đồng tính”. Ngay cả sau khi bị đuổi, ông vẫn gây ảnh hưởng trong số các linh mục đồng tính. Năm 2015, ông đứng về phía Shanley, nói rằng Giáo hội phải chịu trách nhiệm biến con người của mình thành “những kẻ quấy rối, lệch lạc và những cá nhân bị kìm nén, non nớt, ngu dốt và không có chức năng tình dục”.

McNaught đổ lỗi cho “gia đình Công Giáo Ireland bị kìm nén về tình dục” và mười sáu năm học ở trường Công Giáo là nguyên nhân dẫn đến tình trạng của mình. Ông mô tả tình trạng đó là “bị tổn thương”. (44) Rõ ràng, ông chưa bao giờ đặt câu hỏi tại sao hầu hết thanh niên Công Giáo không bao giờ trở nên giống ông hoặc Shanley, kể cả những người (như tôi) được nuôi dưỡng trong các gia đình Công Giáo gốc Ireland và theo học các trường Công Giáo. Nhưng việc không chịu trách nhiệm về hành vi của mình khó có thể là điều bất thường đối với những người như Shanley và McNaught.

Rembert Weakland

Không có giám mục nào chứng minh mối liên hệ giữa sự bất đồng chính kiến và hành vi đồng tính luyến ái tốt hơn tổng giám mục Milwaukee Rembert Weakland. Ngài tiếp quản tổng giáo phận vào năm 1977, và bốn năm sau, ngài tham dự một cuộc họp của Lực lượng Đặc nhiệm Đồng tính Quốc gia. (45) Tổ chức này đang tiến hành một chiến dịch “giáo dục công cộng” về quyền của người đồng tính để huy động các nhà lãnh đạo tôn giáo và thế tục cổ vũ chương trình nghị sự của nó.

Vào những năm 1980, dưới sự hướng dẫn của Đ.C. Weakland, tổng giáo phận đã bắt đầu một loạt các khóa học về giáo dục giới tính. Những nội dung được giảng dạy mang tính khiêu dâm nhiều hơn là khoa học. Trẻ em được dạy rằng “không có đúng và sai” về vấn đề tình dục, còn người lớn được xem những bộ phim có cảnh đàn ông và phụ nữ khỏa thân tham gia vào các hành vi tình dục khác nhau. Về vấn đề sau, khi một giáo dân phàn nàn với Đ.C. Weakland, hỏi ngài có nghĩ rằng một bộ phim như vậy tương đương với một dịp phạm tội hay không, ngài trả lời là không. Ngài không trả lời khi người phụ nữ hỏi, “Vậy tại sao chúng ta lại cầu nguyện trong Kinh Lạy Cha ‘và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ’?” Ngoài ra, Đ.C. Weakland nhận được nhiều lời phàn nàn về một khóa học kéo dài bốn tuần có tên “Đồng tính luyến ái và Tác động của nó đến Gia đình”, khóa học này đưa ra “một bài trình bày thực tế, không phán xét về đồng tính luyến ái”. (46)

Đ.C. Weakland cho phép các nhóm đồng tính luyến ái cực đoan tổ chức các cuộc họp trong hội trường giáo xứ và cho phép Cha James L. Arimond, người viết bài cho một tạp chí đồng tính, thuyết giảng về đồng tính luyến ái tại Trung tâm Cousins của tổng giáo phận. Vị này dạy rằng giáo huấn của Giáo hội về đồng tính luyến ái là sai và đồng tính luyến ái thực chất là “hồng phúc thánh của Thiên Chúa”. Đ.C. Weakland chỉ trích chế độ độc thân, ủng hộ nữ linh mục và cho rằng người Công Giáo được phép ủng hộ phá thai. Khi được hỏi trên truyền hình về “quan điểm Công Giáo” của ngài, câu trả lời của ngài rất thẳng thắn: “Quan điểm Công Giáo của tôi? Đó chính là quan điểm của riêng tôi.” (47)

Đ.C. Weakland không những bảo vệ các linh mục ủng hộ đồng tính luyến ái; ngài còn trừng phạt những người tố cáo. Vào tháng 7 năm 1984, ba giáo viên không phải người Do Thái đã viết thư cho ngài về một linh mục phụ tá đang mời các cậu bé đến ở trong phòng ngủ của mình. Họ cũng phàn nàn về một linh mục khác “đã ký một văn bản công khai ủng hộ đồng tính luyến ái và đã rao giảng ủng hộ nó từ bục giảng”. Đ.C. Weakland tức giận, không phải với các linh mục lạc giáo, mà với những người tố cáo. Vào ngày 13 tháng 8 năm 1984, ngài đã cảnh báo họ, nói rằng “bất cứ tài liệu phỉ báng nào được tìm thấy trong thư của các bạn sẽ được các luật sư của chúng tôi xem xét kỹ lưỡng”. Ba giáo viên đã từ chức. Trong khi đó, linh mục phụ tá mà họ phàn nàn, Cha Dennis Pecore, đang quấy rối tình dục một cậu bé tuổi vị thành niên. Vào ngày 22 tháng 1 năm 1987, Pecore bị buộc tội tấn công tình dục cấp độ hai. (48) Nghiêm trọng hơn nữa là sự thụ động của Đ.C.Weakland trong việc xử lý một trong những linh mục phạm tội tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ, Cha Lawrence Murphy. Ông ta bị cáo buộc lạm dụng tình dục khoảng hai trăm cậu bé khiếm thính ở Wisconsin vào những năm 1950. Chính quyền dân sự không được yêu cầu điều tra những tội ác này cho đến giữa những năm 1970; sau một cuộc điều tra, họ đã bỏ vụ án. Đến năm 1996, khi Vatican lần đầu tiên biết đến vụ án Murphy. Họ ngay lập tức ra lệnh xét xử. Murphy chết trong phiên tòa năm 1998, nhưng nhiều câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ.

Đ.C. Weakland được thông báo về Murphy vào năm 1980. Tại sao ngài lại mất mười sáu năm để liên lạc với Vatican? Tại sao Đ.C. Weakland lại tìm cách đổ lỗi một cách bất công cho Hồng Y Ratzinger, nói rằng vị này đã cản trở những nỗ lực giúp đỡ các nạn nhân của Murphy? (49)

Tại sao Đ.C. Weakland không theo đuổi những vụ lạm dụng tình dục này? Tại sao ngài lại thường xuyên xé bỏ các báo cáo về lạm dụng tình dục của các linh mục? Ngài đã xé nát các báo cáo hàng tuần. Đây không phải là vấn đề gây tranh cãi: ngài đã thừa nhận việc này trong một lời khai năm 1993. (50) Tại sao Đ.C. Weakland lại tìm cách làm trệch hướng trách nhiệm khỏi các linh mục lạm dụng tình dục bằng cách đổ lỗi cho các nạn nhân? Ngài nói, “Chúng ta có thể dễ dàng tạo ra ấn tượng sai lầm rằng bất cứ thiếu niên nào có quan hệ tình dục với người lớn tuổi hơn đều làm như vậy mà không có bất cứ mức độ trách nhiệm bản thân nào. Đôi khi không phải tất cả các nạn nhân vị thành niên đều ngây thơ như vậy; một số có thể rất năng động và hung hăng về mặt tình dục và thường khá từng trải.” (51) Chắc chắn việc ngài bác bỏ đạo đức tình dục của Giáo hội đã đóng một vai trò trong những quyết định này, một lần nữa chứng minh mối liên hệ giữa sự bất đồng chính kiến và lạm dụng tình dục.

Sự bất đồng chính kiến của Weakland cũng có thể đã đóng một vai trò trong trường hợp bị cáo buộc lạm dụng tình dục của chính Ông ta. Paul Marcoux, người tình của Weakland, cho biết tổng giám mục đã tấn công tình dục anh ta nhiều lần. Weakland thừa nhận mối quan hệ đồng tính nhưng khẳng định đó là sự đồng thuận. Sau khi điều này được công khai vào năm 2002, Weakland đã nghỉ hưu. Ông thừa nhận đã trả cho Marcoux 450,000 đô la tiền bịt miệng vào năm 1998. Ngay sau khi nghỉ hưu, ông đã đưa ra lời xin lỗi mạnh mẽ tới những người tín hữu, mô tả hành vi của mình là "tội lỗi". Margaret O’Brien Steinfels, người đã ca ngợi Weakland trên các trang báo của Commonweal, đã buồn vì ông phải nghỉ hưu, nói rằng "cuộc gặp gỡ hai thập niên trước" của ông "có lẽ là một sự thiếu thận trọng, có lẽ là một tội trọng". (52) Bà không chắc chắn.

Hóa ra, Weakland đã dính líu đến nhiều hơn một cuộc gặp gỡ. Trong cuốn hồi ký xuất bản năm 2009, ông thừa nhận đã có một loạt các mối quan hệ đồng tính. (53) Ông cũng nói rằng khi Giáo hội dạy rằng khuynh hướng đồng tính luyến ái là “rối loạn bẩm sinh”, thì đó là việc cổ vũ ngôn ngữ “vô ích, thậm chí có hại”. (54)

Cha Richard McBrien, nữ tu duy nữ Joan Chittister và những người “tiến bộ” khác đã ca ngợi Weakland vì đã viết cuốn hồi ký của mình. (55) Trước khi phát hành, Weakland đã đưa ra hai tuyên bố gây sốc. Ông nói rằng ông không biết việc cưỡng hiếp trẻ em là phạm pháp và dù sao thì chúng cũng sẽ “vượt qua được”. Tuy nhiên, ông không phải trả giá gì cho điều này trong số những người theo ông một cách trung thành. Ông nói: “Tất cả chúng ta đều coi việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên là một điều xấu xa về mặt đạo đức, nhưng không hiểu được bản chất tội phạm của nó.” Ông nói thêm rằng ông “đã ngây thơ chấp nhận quan điểm phổ biến cho rằng không cần phải lo lắng về ảnh hưởng đối với những người trẻ tuổi: hoặc họ sẽ không nhớ hoặc họ sẽ ‘vượt qua được’”. (56) Nói rằng đây là “quan điểm phổ biến” thì hoàn toàn vô lý. Weakland, giống như Shanley, đã quá sa lầy vào sự bất đồng đến nỗi ông không thể nhìn thấy, hoặc thừa nhận, rằng hành vi của mình là lạm dụng.

Ghi chú

(1) N. R. Kleinfield, “Sự sa ngã rùng rợn của một linh mục hào nhoáng, trở thành nghi phạm ma túy”, New York Times, ngày 20 tháng 2 năm 2013, A1.
(2) Ibid.
(3) Neuhaus đã đưa ra nhận xét của mình trong chương trình Meet the Press của NBC ngày 28 tháng 4 năm 2002.
(Thiếu các ghi chú 4-7)
(8) Michael Rose, Tạm biệt những người đàn ông tốt (Washington, D.C.: Regnery, 2002), 9-10, 31-32, 40-41, 129-31.
(9) Ibid., 131.
(10) James Hitchcock, “Các giám mục bảo thủ, kết quả tự do”, Catholic World Report (tháng 5 năm 1995), đăng tại Ignatius Insight, http://www.ignatiusinsight.com/features2005/print2005/hitchcock_bishops_ may05.html.
(11) Cha Robert Altier, “Kẻ thù bên trong”, Catalyst (tháng 10) 2018), https://www.catholicleague.org/the-enemy-within/.
(12) Cha Patrick Klekas, “ ‘Đừng hỏi, đừng nói’ vẫn là quy tắc ở Chủng viện”, Tạp chí Crisis, ngày 31 tháng 7 năm 2019, http://www.crisismagazine.com/2019/dont-ask-dont-tell-is-still-the-rule-inseminary.
(13) Hồng Y Robert Sarah, Ngày đã qua (San Francisco: Ignatius Press, 2019), 134-35.
(14) Kenneth Whitehead, “Bất đồng chính kiến”, trong Bách khoa toàn thư về Tư tưởng xã hội Công Giáo, Khoa học xã hội và Chính sách xã hội, tập 1, do Michael Coulter, Stephen Krason, Richard Myers và Joseph Varacalli biên tập (Lanham, Md.: Scarecrow Press, 2007), 311.
(15) George Weigel, Lòng can đảm để là người Công Giáo: Khủng hoảng, Cải cách và Tương lai của Giáo hội (New York: Basic Books, 2002), 68-72.
(16) George Weigel, “Sự kết thúc của Kỷ nguyên Bernardin”, First Things (tháng 2 năm 2011), http://www.firstthings.com/article/2011/02/the-end-of-thebernardin-era.
(17) Ibid.
(18) Joseph A. Komonchak, “Giải thích Công đồng: Thái độ của người Công Giáo đối với Vatican II”, trong Mary Jo Weaver và R. Scott Appleby, eds., Đúng đắn: Người Công Giáo bảo thủ ở Mỹ (Bloomington, Ind.: Nhà xuất bản Đại học Indiana), 21.
(19) Jason Berry, Đừng dẫn chúng con vào cám dỗ (New York: Doubleday, 1992), 183.
(20) Rose, Tạm biệt, những người đàn ông tốt, 100.
(21) Anthony Kosnik và cộng sự, Tình dục con người: Những hướng đi mới trong tư tưởng Công Giáo Mỹ (New York: Paulist Press, 1977), 200.
(22) Ibid., 200, 202, 208.
(23) Ibid., 88.
(24) Ibid., 92, 95.
(25) Thánh Bộ Giáo lý Đức tin, Thư gửi Đức Tổng Giám Mục John R. Quinn, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Quốc gia tại Hoa Kỳ (ngày 13 tháng 7 năm 1979),
https://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/documents/rc_co n_cfaith_doc_19790713_mons-quinn_en.html.
(26) Cha Matthew Habiger, O.S.B., “Sự ngần ngại của các giáo sĩ Công Giáo khi nói về đạo đức tình dục Công Giáo”, Catholic News Agency, tháng 8 năm 2007, https://www.catholicnewsagency.com/resources/life-andfamily/sexuality-contraception/reluctance-among-clergy-to-speak-aboutthe-catholic-sexual-ethic.
(27) Xem Arthur Jones, “Các nhà thần học thấy và trải nghiệm mặt trái của triều đại Giáo hoàng Gioan Phaolô II”, National Catholic Reporter, ngày 2 tháng 4 năm 2005, http://www.nationalcatholicreporter.org/update/conclave/arthurjones.htm; Regina Schulte, “Về vấn đề tình dục, hệ thống phẩm trật đã chiếm đoạt toàn bộ chức vụ giảng dạy”, National Catholic Reporter, ngày 15 tháng 10 năm 2010, https://www.ncronline.org/news/parish/sexuality-hierarchy-has-usurpedentire-teaching-office.
(28) Robert L. Fastiggi, “Hội Thần học Công Giáo Hoa Kỳ”, trong Michael Coulter và cộng sự, Bách khoa toàn thư về Tư tưởng Xã hội Công Giáo, Khoa học Xã hội và Chính sách Xã hội, 1:156.
(29) James Hitchcock, “Sự thất bại của Công Giáo Tự do”, Catholic World Report, ngày 15 tháng 5 năm 2011, http://www.catholicworldreport.com/2011/05/15/the-failure-of-liberalcatholicism.
(30) Norimitsu Onishi, “Một nhà văn ấu dâm đang bị xét xử. “Giới tinh hoa Pháp cũng vậy”, New York Times, ngày 12 tháng 2 năm 2020, A1.
(31) David France, Kinh Lạy Cha: Cuộc sống bí mật của Giáo Hội Công Giáo (New York: Broadway Books, 2004), 48.
(32) Ibid., 5.
(33) Ibid., 76.
(34) Ibid., 93.
(35) Ibid.
(36) Ibid., 101.
(37) Ibid., 102.
(38) Ibid., 118.
(39) Matthew L. Lamb, “Thực hành sai lầm thần học”, National Review, ngày 3 tháng (10) năm 2002.
(40) France, Kinh Lạy Cha, 119-21.
(41) Podles, Sự phạm thánh, 129.
(42) Ibid., 166.
(43) Ban điều tra của tờ Boston Globe, Sự phản bội: Cuộc khủng hoảng trong Giáo Hội Công Giáo (Boston: Little, Brown, and Company, 2002), 71.
944) Brian McNaught, “Ai là người phải chịu trách nhiệm cho những người bị dị tật về giới tính?”, Between the Lines, ngày 11 tháng 2 năm 2015, https://pridesource.com/article/75279-2/.
(45) Enrique Rueda, Mạng lưới đồng tính luyến ái: Cuộc sống riêng tư và chính sách công (Old Greenwich, Conn.: Devin Adair, 1982), 248.
(46) Art Moore, “Người Công Giáo học về tình dục từ các môn đệ của Kinsey”, WorldNetDaily, ngày 12 tháng 6 năm 2002, https://www.wnd.com/2002/06/14206/.
(47) Margaret Joughin, “Hồ sơ Weakland”, Christian Order (tháng 8/tháng 9 và tháng 10 năm 1996).
(48) Berry, Đừng dẫn chúng con vào cám dỗ, 306.
(49) Cha Raymond J. de Souza, “ ‘Dấu hiệu của sự ăn năn của chúng ta’: Tên Weakland bị xóa khỏi tòa nhà nhà thờ Milwaukee”, National Catholic Register, ngày 2 tháng 4 năm 2019, https://www.ncregister.com/news/sign-of-ourrepentance-weakland-s-name-expunged-from-milwaukee-churchbuilding.
(50) Bruce Vielmetti, “Weakland đã xé nát các bản sao báo cáo về lạm dụng tình dục, theo tài liệu”, Milwaukee Journal Sentinel, ngày 3 tháng 12 năm 2009, http://archive.jsonline.com/news/milwaukee/78431087.html/.
(51) Michael D’Antonio, Tội trọng: Tình dục, tội ác và kỷ nguyên tai tiếng Công Giáo (New York: St. Martin’s Press, 2013), 122-23.
(52) Margaret O’Brien Steinfels, “Rembert Weakland”, Commonweal, ngày 14 tháng 6 năm 2002, 6.
(53) De Souza, “Dấu hiệu của sự ăn năn của chúng ta”.
(54) William L. Portier, “Restrung”, Commonweal, ngày 13 tháng 7 năm 2009, https://www.commonwealmagazine.org/restrung.
(55) Hitchcock, “Sự thất bại của Công Giáo tự do”.
(56) “Tổng Giám mục Weakland: Tôi không biết lạm dụng trẻ em bởi giáo sĩ là một tội ác”, Catholic Culture, ngày 19 tháng 5 năm 2009, https://www.catholicculture.org/news/headlines/index.cfm?storyid=2965&repos=4&subrepos=2&searchid=2077356.