
BÌNH LUẬN: Nếu đại kết muốn có sự toàn vẹn, nó phải được xây dựng không phải trên những cử chỉ che khuất thực tại, mà trên sự quy phục chung đối với chân lý mà Chúa Kitô hiện thân.
Gavin Ashenden (*), trong bản tin ngày 28 tháng 4 năm 2026 của National Catholic Regisster, bình luận rằng: Dù Giáo hội có lòng thương xót đến đâu đối với những người mắc chứng rối loạn nhận dạng giới tính, chúng ta từ lâu đã nhận ra rằng chúng ta không giúp ích gì cho mọi người nếu chúng ta củng cố ảo tưởng của họ — đặc biệt nếu ảo tưởng đó liên quan đến điều gì đó thực sự quan trọng.
Thực tại là con đường chắc chắn nhất dẫn đến sự tỉnh táo và một sự tái thiết thánh thiện. Nếu điều đó đúng trong lĩnh vực giới tính và bản sắc, thì nó cũng đúng trong các vấn đề đại kết và trong giáo hội học.
Đó là lý do tại sao rất nhiều người cảm thấy bất an nghiêm trọng về cách trong đó Đức Giáo Hoàng chào đón nữ tổng giám mục Tin Lành Anh giáo của Canterbury, Sarah Mullally.
Thông điệp Apostolicae Curae đã làm rõ lý do tại sao chức thánh của Anh giáo là vô hiệu và luôn luôn như vậy, đồng thời thừa nhận rằng đây thực chất là ý định ban đầu và có chủ đích của nghi thức phong chức Anh giáo và của giáo lý chính trị hóa của thế kỷ 16 và 17.
Việc những người Anh giáo sau đó đã thay đổi quan điểm và tìm kiếm một mức độ hợp pháp từ Giáo hội Mẹ mà họ đang ly khai không làm thay đổi lịch sử hay tư cách của họ.
Việc những khát vọng trong trí tưởng tượng giáo hội của họ có thể thay đổi bản chất của thực tại là vô ích đối với những người Anh giáo.
Hành trình của Sarah Mullally
Chúng ta sẽ quay lại vấn đề đó sau, nhưng trước tiên, có lẽ nên dành chút thời gian để tìm hiểu về tính cách của nữ tổng giám mục Anh giáo đầu tiên.
Sarah Mullally đã trải qua một hành trình. Đây không chỉ là hành trình từ một y tá trở thành một nữ giáo sĩ. Đó là hành trình từ sự rõ ràng, bảo thủ của phái Tin Lành đến chủ nghĩa tự do tiến bộ, hợp thời.
Về mặt thần học, người ta có thể nói rằng bà đã chuyển từ nền chính thống Kinh Thánh Thệ phản sang phạm trù tự nhiên thần thuyết trị liệu.
Trong một bài đánh giá gần đây về cuốn tiểu sử của Sarah Mullally do Andrew Atherstone viết, George Conger, một nhà bình luận nổi tiếng của Giáo hội Giám chức, đã chỉ ra hành trình này từ lòng trung thành bảo thủ đến xu hướng chính trị tiến bộ trong cuộc đời của Mullally.
Một sự kiện lịch sử là những người Tin Lành bảo thủ đã bị giới cầm quyền Anh giáo ở Anh xa lánh.
Họ bị coi là một sự xấu hổ về mặt thần học, văn hóa và chính trị đối với giới cầm quyền, và cánh cửa thăng tiến luôn đóng chặt trước mặt họ.
Để đạt được trách nhiệm lớn hơn hoặc được thăng chức, người ta phải cho phép thần học của mình phát triển hoặc biến đổi thành một chủ nghĩa bất khả tri tinh tế hơn về mặt chính trị với lương tâm xã hội — và có lẽ hơn cả lương tâm xã hội, một khuynh hướng chính trị xã hội chủ nghĩa.
George Conger chỉ ra rằng đây chính là con đường mà Sarah Mullally đã đi, dẫn đến việc bà được thăng tiến với tốc độ đáng kinh ngạc.
Bà bắt đầu là một tín hữu Tin Lành bảo thủ trung thành, một người ủng hộ và quảng bá cho Hội Liên hiệp Ki-tô giáo và văn hóa của nó.
Tôi cho rằng chúng ta có thể tranh luận về việc liệu bà có cố tình từ bỏ giáo lý chính thống của mình để thỏa mãn tham vọng thế tục hay không, nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta không biết câu trả lời cho điều đó. Đơn giản là câu chuyện cuộc đời bà đặt ra câu hỏi này.
Tuy nhiên, chúng ta biết rằng bà rất tham vọng trong lĩnh vực điều dưỡng, vươn lên đứng đầu bộ máy hành chính giám sát ngành điều dưỡng ở Anh, và vì vậy có lẽ không quá lời khi tự hỏi liệu khả năng tham vọng của bà có làm vẩn đục lòng trung thành Tin Lành của bà đến mức sẵn sàng bán rẻ niềm tin của mình để được thăng tiến nhanh chóng trong Giáo hội Anh giáo hay không.
Dù nguyên nhân là gì, thì chắc chắn đó là điều đã xảy ra.
Phá thai và đồng tính luyến ái
Trong hành trình đó, bà đã bước vào hai lĩnh vực đạo đức thần học gây tranh cãi, đặt bà ở cực điểm của chủ nghĩa dị giáo tiến bộ.
Bà ủng hộ phá thai như một sự lựa chọn đạo đức, điều này là một phần trong việc hợp thức hóa chương trình nghị sự duy nữ và bác bỏ tính thánh thiêng của sự sống trong tử cung như Giáo hội vẫn luôn dạy. Bà cũng ủng hộ việc chúc phúc cho hôn nhân đồng tính, trái ngược với những gì Giáo hội vẫn luôn dạy về hôn nhân, tình dục và bản sắc.
Giáo Hội Công Giáo nổi tiếng về sự rõ ràng trong cả vấn đề phá thai và bản chất của hôn nhân.
Và việc chào đón các giáo sĩ từ các giáo phái khác, những người hiện thân các quan điểm dị giáo, như thể sự rõ ràng đó không quan trọng, đã gây bất lợi cho chính Giáo hội.
Như Edward Pentin của tờ Register đã lưu ý, trong sự chào đón nồng nhiệt dành cho Mullally, các quan chức Vatican đã thể hiện sự lịch sự “vượt xa lòng hiếu khách ngoại giao và bao gồm những cử chỉ mang ý nghĩa giáo hội sâu sắc”. Những hoạt động này bao gồm buổi diện kiến riêng với Đức Giáo Hoàng Leo XIV và cơ hội, lần đầu tiên dành cho một tổng giám mục Canterbury đến thăm, để ban phước lành trong Nhà nguyện Clementine thuộc Vương cung thánh đường Thánh Phêrô – “Chính nơi đó,” Pentin giải thích, “là nơi Thánh Phêrô tử đạo và do đó là nơi mà sự kế thừa tông đồ được tập trung về mặt hình ảnh và tinh thần.”
Vì vậy, khi chào đón Sarah Mullally đến Vatican với sự nhiệt thành như vậy, hàng giáo phẩm Công Giáo đã cho thấy sự thiếu nhạy cảm của chính họ đối với phán xét của chính họ về tính hợp lệ của các chức sắc Anh giáo và đối với sự hỗn loạn về đạo đức mà Sarah Mullally đại diện.
Điều này không chỉ gây tổn hại cho các tín hữu Công Giáo và các nhà thần học Công Giáo, mà còn, nói một cách bản thân, cho những người trở lại từ Anh giáo, những người đã chọn trở thành Công Giáo, một phần để hàn gắn sự chia rẽ của Giáo hội trong việc theo đuổi đức tin của họ - và họ đã làm như vậy chính vì họ tin chắc về sự thiếu liêm chính của các chức sắc Anh giáo và mối nguy hiểm của sự dị giáo về đạo đức của nó.
Nói lên sự thật
Đồng thời, xét về tính liêm chính trị liệu, người ta luôn chấp nhận rằng việc khẳng định một người trong ảo tưởng tự gây hại của họ mà không có bất cứ nỗ lực can thiệp trị liệu nào là sự phản bội trách nhiệm đối với người bị ảo tưởng.
Có thể có nhiều chỗ để thảo luận và phân định về cách tốt nhất trong đó thực tại trở nên dễ tiếp cận với những người bị lầm lạc, nhưng chỉ chấp nhận sự lầm lạc mà không có bất cứ sự khiêu khích, bất cứ sự định phẩm, hay bất cứ sự khó chịu nào, thì không phải là lòng tốt hay tình yêu thương.
Và theo một nghĩa nào đó, điều đó có lẽ tóm tắt động lực của sự đón nhận hỗn loạn này. Nó không phải là việc đặt tình yêu đối lập với sự thật mà là cám dỗ muôn thuở của việc tỏ ra tử tế hơn là trung thực.
Nếu quan điểm chiến thuật của Giáo Hội Công Giáo cho rằng việc tỏ ra tử tế hiệu quả và trung thành hơn việc trung thực, thì lập luận đó có thể được đưa ra. Nhưng điều đó chưa bao giờ đúng trong quá khứ. Giáo Hội Công Giáo luôn ưu tiên nói lên sự thật và chấp nhận rằng phải trả giá để sửa chữa sự hỗn loạn, bất trung và nổi loạn.
Khi một người sám hối đến với bí tích hòa giải, điều kiện tiên quyết là họ phải sẵn sàng nhận ra sự thật về bản thân để tìm ra con đường tiến lên phía trước. Ở bình diện đại kết và định chế, dường như thật kỳ lạ khi một quy tắc áp dụng rõ ràng cho sự sám hối cá nhân lại bị đình chỉ hoặc thậm chí đảo ngược ở bình diện định chế hoặc tập thể.
Giáo hội Anh giáo trong các văn bản của mình vẫn bác bỏ Thánh lễ, vẫn bác bỏ thẩm quyền của Giám mục Roma, và vẫn bác bỏ luyện ngục và một số công đồng đại kết không được nêu tên.
Xét về lịch sử, nó chịu trách nhiệm cho sự phá hủy văn hóa Công Giáo ở Anh và việc nhà nước chiếm đoạt tất cả các nguồn lực thuộc về Giáo hội vào thời kỳ đỉnh cao của Giáo hội ở Anh.
Sẽ thật bất lịch sự nếu nhắc đến điều này trong mỗi chuyến thăm đại kết, nhưng vẫn thật khó chịu khi giả vờ rằng sự đối kháng mạnh mẽ đã sinh ra Giáo hội Anh không nên được thừa nhận, nếu không muốn nói là không nên ăn năn, dưới một hình thức đương thời nào đó. Một trong những nhiệm vụ đại kết chắc chắn là tìm cách giải thoát chúng ta khỏi lịch sử, khỏi những sai lầm ý thức hệ bị chính trị hóa, khỏi sự đối kháng sai lầm giữa các cộng đồng giáo hội khác nhau, nhưng đức tin của chúng ta rất rõ ràng về cách thức đạt được điều đó.
Chúa Giê-su nói rằng Người là chân lý, và bằng cách trung thành với Người và chân lý, chúng ta khám phá ra rằng chân lý sẽ giải phóng chúng ta.
Cách thức chuyến thăm của tổng giám mục Canterbury diễn ra không phản ánh đúng sự thật của tình hình, và do đó sẽ không có gì được thực hiện để giải thoát chúng ta khỏi gánh nặng ly giáo đen tối của một quá khứ chưa được giải quyết.
Con đường đến sự hiệp nhất
Đó có thể được coi là nhiệm vụ đầu tiên của tiến trình đại kết và thậm chí là trách nhiệm của Đức Thượng phụ phương Tây trong bóng tối của một di sản lịch sử đau thương, bạo lực và hỗn loạn.
Nếu đại kết muốn có bất kỳ tính liêm chính nào, nó không thể được xây dựng trên những cử chỉ che khuất thực tại hoặc làm giảm nhẹ mâu thuẫn, mà chỉ trên sự phục tùng chung đối với chân lý mà chính Chúa Kitô hiện thân. Bất cứ điều gì khác đều có nguy cơ trở thành một vở kịch của tình cảm hơn là một công việc hòa giải.
Con đường dẫn đến sự thống nhất không nằm ở việc cẩn thận tránh né khó khăn, mà nằm ở lòng can đảm để gọi tên nó, để ăn năn về nó, và để cho sự thật làm đúng nhiệm vụ của nó là giải phóng chúng ta.
Cho đến khi điều đó xảy ra, những cuộc gặp gỡ như vậy, dù có thiện chí đến đâu, cũng sẽ vẫn lơ lửng giữa vẻ bề ngoài và thực tại, mang lại hình thức thống nhất mà không có thực chất, và để lại những vết thương sâu xa hơn của lịch sử chưa được chữa lành.
___________________________________________________________
(*) Gavin Ashenden là biên tập viên cộng tác tại The Catholic Herald, cựu linh mục của cố Nữ hoàng Anh, và cựu Giám mục Anh giáo. Hiện là một giáo dân Công Giáo và nhà biện hộ, ông thường xuyên bình luận cho GB News, BBC, và là người đứng sau New English Catholic trên Substack.