
Auguste Meyrat, trong bản tin ngày 4 tháng 2 năm 2026 của tờ The Catholic Thing, hỏi: Chủ nghĩa duy nữ là gì? Trước đây, đây là một câu hỏi dễ trả lời. Khi chủ nghĩa duy nữ đơn giản có nghĩa là quyền và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ, hầu hết mọi người đều cảm thấy thoải mái khi tự nhận mình là người theo chủ nghĩa này. Xét cho cùng, ai có thể phản đối việc phụ nữ có quyền bầu cử và sở hữu tài sản?
Tuy nhiên, ngay cả khi những người theo chủ nghĩa duy nữ đã phá vỡ hết rào cản này đến rào cản khác, mục tiêu của họ ngày càng trở nên mơ hồ. Tệ hơn nữa, sự trỗi dậy của chủ nghĩa chuyển giới đã làm suy yếu những tuyên bố cốt lõi của chủ nghĩa duy nữ bằng cách đặt câu hỏi về thực tại khách quan của nữ tính.
Có lẽ những lợi ích được ca ngợi của phong trào đã bị thổi phồng quá mức, và lịch sử cũng như các nguyên tắc cơ bản của nó cần được xem xét kỹ lưỡng hơn. Có lẽ những người hiện đang ủng hộ phong trào này nên xem xét lại chính những gì họ đã chấp nhận.
Một người có thể dẫn dắt sự xem xét lại này là Tiến sĩ Carrie Gress, một cộng tác viên thường xuyên của The Catholic Thing, trong cuốn sách mới của bà, "Something Wicked: Why Feminism Can’t Be Fused With Christianity" (Điều gì đó xấu xa: Tại sao chủ nghĩa duy nữ không thể hòa nhập với Ki-tô giáo). Thay vì là một điều tốt đẹp thuần túy đã trao quyền và giải phóng phụ nữ mà không có bất cứ sự đánh đổi nào, Gress đã vạch trần chính nguồn gốc của phong trào duy nữ, khiến nó không tương thích với Tin Mừng của Ki-tô giáo. Khi bà bác bỏ nhiều huyền thoại về chủ nghĩa duy nữ, bà đã mở ra những câu hỏi cần thiết về một chủ nghĩa duy nữ Ki-tô giáo đích thực sẽ như thế nào đối với con người ngày nay.
Gress bắt đầu lập luận của mình với người sáng lập chủ nghĩa duy nữ hiện đại, Mary Wollstonecraft, người đã áp dụng lý tưởng Khai sáng về tự do và bình đẳng trong cuốn sách nhỏ nổi tiếng của bà, "A Vindication of the Rights of Woman" (Sự biện minh cho quyền của phụ nữ). Phù hợp với chủ nghĩa duy lý độc thần của mình, Wollstonecraft tin rằng “các linh mục, mục sư, hoặc bất cứ loại quyền lực nam giới nào – thậm chí cả Chúa Giê-su – đều là trở ngại cho tiềm năng của phụ nữ và đời sống thiêng liêng. Thay vào đó, lý trí… là con đường dẫn phụ nữ đến với Chúa.” Như vậy, ngay từ đầu, mục tiêu chính của phong trào duy nữ là giải phóng và trao quyền, và trở ngại chính là Kitô giáo.
Mặc dù vậy, Wollstonecraft và những nhà duy nữ cùng chí hướng khác thường liên kết với các nhà cải cách xã hội Kitô giáo như Hannah More, chống lại những tệ nạn của chế độ nô lệ, bóc lột trẻ em và nạn nghiện rượu tràn lan. Tuy nhiên, những nhà duy nữ thế tục cuối cùng đã thống trị phong trào, tái khẳng định quan điểm thù địch đối với Kitô giáo. Nhiều người trong số họ, bao gồm cả những nữ anh hùng người Mỹ như Susan B. Anthony và Elizabeth Cady Stanton, thậm chí còn tham gia vào chủ nghĩa tâm linh và huyền bí.
Điều này, đến lượt nó, đã đặt nền tảng cho những nhà duy nữ sau này đánh đồng chủ nghĩa duy nữ đích thực với sự bác bỏ hoàn toàn các ranh giới và vai trò giới tính. Những nhân vật lỗi lạc như Simone de Beauvoir, Virginia Woolf, Margaret Sanger và Betty Friedan đều kết luận rằng giới tính là một cấu trúc xã hội được tạo ra và củng cố bởi các thể chế tở phụ. Do đó, nhiệm vụ của họ là phá bỏ những thể chế này, tước bỏ quyền lực của đàn ông và trở thành những vị thần của chính mình. Quyền tự chủ, “thần tượng mới” của phong trào duy nữ, đòi hỏi không gì khác hơn thế.
Do đó, một phong trào từng gắn liền với sự tiết chế, quyền bầu cử và bảo vệ gia đình đã thoái hóa thành một phong trào chuyên về sự phóng túng, thù ghét đàn ông và phù thủy. Bất cứ khi nào điều này nhất thiết y dẫn đến sự khốn khổ và bóc lột hơn nữa đối với phụ nữ nói chung, những người theo chủ nghĩa duy nữ sẽ phản xạ đổ lỗi cho chủ nghĩa phân biệt giới tính có hệ thống và đòi hỏi nhiều đặc quyền hơn nữa cho phụ nữ để khắc phục vấn đề.
Ngoài việc dẫn dắt rất nhiều phụ nữ đi lạc hướng bằng những lời hứa hão huyền và những lập luận thiếu mạch lạc, Gress cho thấy chủ nghĩa duy nữ hiện đại đã che khuất hoàn toàn những thực tế sâu sắc hơn về nữ tính. Thay vì thỏa hiệp với hệ tư tưởng này, Gress đề xuất định hình lại vấn đề bằng ngôn ngữ phi ý thức hệ:
Những từ như phụ nữ, nhân học, nam và nữ, lợi ích chung, tính bổ sung, bình đẳng về phẩm giá, tính bổ trợ và liên đời, và thậm chí cả chế độ tổ phụ có thể được sử dụng một cách chính xác. Điều này cũng sẽ có lợi thế là buộc chúng ta phải tìm ra những cách thức mới để mô tả những thực tế phức tạp vượt ra ngoài những câu nói ngắn gọn.
Nói cách khác, phụ nữ nên ngừng cố gắng phủ nhận nữ tính của chính mình bằng cách nhắm mắt lại và cố gắng trở nên giống như đàn ông.
Gress đặt ý tưởng này trong bối cảnh Kitô giáo khi bà đối diện với những nỗ lực của các nhà duy nữ Kitô giáo đương thời nhằm gán ghép chủ nghĩa duy nữ hiện đại vào thần học Kitô giáo. Trong khi các nhà duy nữ Kitô giáo có thiện chí cố gắng "thánh hóa" chủ nghĩa duy nữ hiện đại bằng cách mô tả những phụ nữ như Mary Wollstonecraft như những tín đồ Kitô giáo sùng đạo, đồng thời miêu tả Thánh Gioan Phaolô II và Thánh Edith Stein là những nhà duy nữ tiến bộ, Gress đã giải thích đúng đắn rằng điều này hoàn toàn sai lầm.
Carrie Gress
Thay vì nghiên cứu phụ nữ trong “một môi trường khép kín, tách biệt khỏi gia đình, chồng và con cái”, một nền nhân học Công Giáo sâu sắc nhận ra rằng “đàn ông và phụ nữ là những sinh vật bổ sung cho nhau, phản ảnh hai cách sống ‘bình đẳng’ nhưng khác nhau trên thế giới” và rằng “bản chất và thiên tài của phụ nữ thực sự không thể được hiểu tách rời khỏi đàn ông”.
Gress kết luận lập luận của mình bằng cách khám phá những tác động rộng hơn của chủ nghĩa duy nữ hiện đại đối với văn hóa phương Tây. Trích dẫn Dựa trên công trình nghiên cứu của nhà thần kinh học và triết gia Ian McGilchrist, người chia não bộ thành hai bán cầu trái và phải, Gress giải thích cách chủ nghĩa duy nữ hiện đại, cùng với hầu hết các hệ tư tưởng hiện đại khác, quá chú trọng đến bán cầu não trái mà bỏ qua bán cầu não phải. Trên thực tế, điều này có nghĩa là tập trung vào những điều chung chung, chính sách và những khái niệm trừu tượng đơn giản hóa, bỏ qua những bí ẩn sâu sắc hơn của cuộc sống, cảm xúc, các mối quan hệ và thực tế phức tạp.
Do đó, những người theo chủ nghĩa duy nữ có thể khoe khoang nhiều chiến thắng pháp lý của họ trong khi đồng thời ngày càng trở nên chán nản về tình trạng của chính mình.
Gress đã thành công trong mục tiêu chính của mình là hoàn toàn bác bỏ chủ nghĩa duy nữ hiện đại như một hệ tư tưởng độc hại đe dọa cả Ki-tô giáo lẫn phụ nữ. Tuy nhiên, cuộc thảo luận của bà về chủ nghĩa duy nữ Ki-tô giáo đích thực vẫn chưa hoàn chỉnh. Điều này có lẽ là do một cuộc thảo luận như vậy sẽ cần nhiều chương hơn và đi sâu vào những khái niệm phức tạp hơn mà hầu hết người đọc sẽ khó theo dõi.
Tuy nhiên, việc Gress bắt đầu cuộc thảo luận này đã là quá đủ. Phụ nữ không chỉ là những bóng ma vô cảm trong hình hài phụ nữ, và họ cũng không chỉ là một nhóm thiểu số bị áp bức cần được trao thêm quyền và sự đại diện.
Họ là những con người toàn diện, lý trí và có khả năng thiết lập các mối quan hệ, với tâm hồn và thể xác độc đáo phù hợp với bản chất nữ tính siêu việt, vừa bổ sung vừa khác biệt so với nam giới. Đã đến lúc cần đón nhận chân lý này, dù sâu sắc và huyền bí đến đâu, nếu các tín đồ Ki-tô giáo hy vọng dẫn dắt phụ nữ và nam giới đi trên con đường mà Chúa đã tạo ra cho họ.