1. Hezbollah ra đời như thế nào?

Năm 1982, Hezbollah được các giáo sĩ Hồi giáo thành lập và được Iran tài trợ chủ yếu để chống lại cuộc xâm lược Li Băng của Israel. Các cuộc xâm lược của Israel năm 1982 và 1978 đã tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo ở Li Băng; nhiều thị trấn ở phía nam đã bị phá hủy và một số lượng lớn người Shiite đã phải rời bỏ nhà cửa của họ. Ngoài ra, người Shiite từ lâu đã không được đại diện đầy đủ trong nền chính trị Li Băng. Cả hai yếu tố này đều gây ra sự phẫn nộ trong cộng đồng người Shiite địa phương, khiến họ trở thành mảnh đất màu mỡ để tuyển dụng. Hezbollah được thành lập bởi các ủy ban Shiite địa phương, dưới sự lãnh đạo của Ruhollah Khomeini. Lực lượng của họ được huấn luyện và tổ chức bởi một nhóm gồm 1.500 Vệ binh Cách mạng Iran đến từ Iran với sự cho phép của chính phủ Syria, chính phủ này đã xâm lược vùng cao nguyên phía đông Li Băng, cho phép họ quá cảnh đến một căn cứ ở thung lũng Bekaa.

Ý thức hệ của Hezbollah được tóm tắt là chủ nghĩa cấp tiến Shiite; Hezbollah theo thần học Hồi giáo Shiite do nhà lãnh đạo Iran Ayatollah Ruhollah Khomeini phát triển. Hezbollah phần lớn được thành lập với sự hỗ trợ của những người theo Khomeini vào đầu những năm 1980 để truyền bá cách mạng Hồi giáo và theo một phiên bản riêng biệt của ý thức hệ Hồi giáo Shiite do Khomeini phát triển, người lãnh đạo “Cách mạng Hồi giáo” ở Iran. Mặc dù Hezbollah ban đầu có mục tiêu biến Li Băng thành một nước cộng hòa Hồi giáo Faqihi chính thức, nhưng mục tiêu này đã bị từ bỏ để ủng hộ một đường lối tiệm tiến hơn.

Hezbollah tổ chức và duy trì một chương trình phát triển xã hội rộng lớn và điều hành các bệnh viện, dịch vụ tin tức, cơ sở giáo dục. Một trong những tổ chức được thành lập của họ, Chiến dịch tái thiết của Jihad Al Binna, chịu trách nhiệm cho nhiều dự án phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng ở Li Băng. Hezbollah kiểm soát Viện Martyr, nơi trả trợ cấp cho “gia đình của những chiến binh tử trận “ trong chiến đấu.

Nói cách khác, Hezbollah hoạt động như một nhà nước bên trong nhà nước Li Băng chính thức.

2. 10 điều cần biết về Kitô hữu ở Li Băng

Các cuộc không kích của Israel vào phía nam và phía đông đất nước một lần nữa thu hút sự chú ý đến nỗi thống khổ của “Vùng đất cây hương nam”.

Một lần nữa, sự chú ý của thế giới đang đổ dồn về Li Băng, một quốc gia đã phải chịu đựng quá nhiều trong những năm gần đây. Bắt đầu từ thứ Hai, các cuộc không kích của Israel nhắm vào lực lượng dân quân Hezbollah do Iran hậu thuẫn, giết chết hàng trăm người. Đỉnh cao của các cuộc không kích là việc giết chết lãnh tụ tối cao Hezbollah là ông Hassan Nasrallah. Trong ban lãnh đạo 9 người của Hezbollah, 7 người đã bị giết chỉ còn lại 2 người.

Các cuộc không kích đã khiến hàng ngàn người dân Li Băng phải rời bỏ quê hương và làm dấy lên nỗi lo sợ về sự leo thang lớn trong chiến dịch quân sự kéo dài một năm của Israel chống lại Hamas ở Gaza.

Các sự kiện này cũng – một lần nữa – tập trung vào sự hiện diện của một cộng đồng Kitô giáo coi Thánh Địa, bao gồm cả Li Băng, là quê hương. Ở đây, chúng tôi trình bày một số sự kiện ngắn gọn nhưng có liên quan về các Kitô hữu ở “Vùng đất của những cây hương nam”.

Dưới đây là 10 điều người Công Giáo nên biết về Li Băng

Thứ nhất: Người theo Kitô giáo chiếm một tỷ lệ đáng kể trong dân số Li Băng.

Síp có tỷ lệ Kitô hữu lớn nhất ở Trung Đông, nhưng Li Băng đứng thứ hai. Li Băng từng có 90% dân số theo Kitô Giáo. Tình hình đã suy thoái nhanh chóng. Theo ước tính năm 2020 được báo cáo trong CIA World Factbook, Kitô hữu chiếm 32,4% dân số cả nước, trong đó người Công Giáo Maronite là nhóm Kitô hữu lớn nhất, chiếm khoảng 21%. Ngoài ra còn có các nhóm nhỏ hơn, bao gồm Chính thống giáo Hy Lạp, Syriac và Coptic; Người Công Giáo Hy Lạp Latinh, Chaldean, Syriac, Coptic và Melkite; Người theo đạo Tin lành và các thành viên của Giáo hội Assyriô Đông phương.

Người Hồi giáo chiếm 67,8% dân số Li Băng, chia thành 31,9% Sunni, 31,2% Shiite và một số ít người Alawite và Ismaili. Người Druze chiếm 4,5% dân số. Có một số lượng rất nhỏ người Do Thái, Baha'i, Phật tử và Ấn Độ giáo.

Hezbollah là lực lượng dân quân Shiite.

Thứ hai: Dân số theo Kitô giáo đang giảm dần rất nhanh.

Nghèo đói và thất nghiệp đã gia tăng trong những năm gần đây. Các tranh chấp chính trị đã cản trở sự tiến bộ. Và đồng tiền của Li Băng đã rơi tự do. Nhiều chuyên gia có trình độ có thể tìm thấy một cuộc sống tốt đẹp hơn ở nước ngoài đã làm như vậy, và nhiều người trong số họ là Kitô hữu. Một vụ nổ lớn ở Cảng Beirut bốn năm trước đã ảnh hưởng không cân xứng đến các khu phố theo Kitô giáo.

Thứ ba, Li Băng là một phần của Thánh Địa.

Cây hương nam Li Băng được sử dụng trong đền thờ do Vua Solomon xây dựng ở Giêrusalem, và cung cấp một ẩn dụ trong các thánh vịnh và các đoạn văn thơ khác. Cựu Ước có rất nhiều các tham chiếu đến Li Băng.

Tác giả Cornelia B. Horn lưu ý rằng Li Băng không được nhắc đến tên trong Tân Ước, nhưng các Thánh Matthêu và Thánh Máccô chứng thực rằng Chúa Kitô đã đến thăm các khu vực ở cực bắc Palestine và xa hơn nữa.

Tyre và Sidon, được Chúa Kitô nhắc đến, vẫn là những thành phố của Li Băng cho đến ngày nay.

Đền thờ Đức Mẹ Maria của người Li Băng này là nơi Đức Mẹ đã đợi Chúa Giêsu khi Người đến thăm Tyre và Sidon

Thứ Tư, các Kitô hữu đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập đất nước Li Băng hiện đại, và Tổng thống nước này luôn là Kitô hữu.

Theo linh mục đại kết Ronald Roberson, viết trong cuốn The Eastern Christian Churches: A Brief Survey, khi Pháp trao trả độc lập hoàn toàn cho Li Băng vào năm 1943, họ đã cố gắng bảo đảm sự an toàn cho cộng đồng Maronite bằng cách vạch ra các ranh giới bảo đảm đa số Maronite vĩnh viễn và thiết lập một hiến pháp bảo đảm, trong số những điều khác, rằng tổng thống sẽ luôn là một Kitô hữu Maronite. Sự sắp xếp này đã bị đe dọa bởi cuộc nội chiến kéo dài 15 năm nổ ra vào năm 1975. Chẳng mấy chốc, các Kitô hữu không còn chiếm đa số trong nước nữa, vì hàng ngàn người Maronite đã rời khỏi đất nước để tạo dựng cuộc sống mới cho mình ở phương Tây, và sự tồn tại của Li Băng dường như không chắc chắn.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2017, tổng thống Li Băng lúc bấy giờ, Michel Aoun, đã nói với Aleteia:

“Li Băng là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa và nền văn minh khác nhau, và cấu trúc xã hội của nơi này bao gồm tất cả các tín ngưỡng Hồi giáo và Thiên chúa giáo chung sống hòa thuận, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và cân bằng chính trị, và đây là bằng chứng cho thấy nơi này đã là một mô hình tinh vi trong suốt thời kỳ chinh phục của người Hồi giáo cho đến ngày nay.”

Quốc hội cũng có hạn ngạch dành cho Kitô hữu và các tín hữu đạo Hồi. Hezbollah là một đảng chính trị và có 13 ghế trong Quốc hội Li Băng.

Thứ năm, Giáo hội Maronite luôn hiệp thông với Rôma.

Theo Cha Roberson, Giáo hội Maronite bắt nguồn từ cuối thế kỷ thứ 4, khi một tu viện được thành lập xung quanh nhân vật lôi cuốn là tu sĩ St. Maron. Đến thế kỷ thứ 8, các tu sĩ “di chuyển cùng nhóm tín hữu của họ đến vùng núi xa xôi của Li Băng, nơi họ tồn tại trong sự cô lập tương đối trong nhiều thế kỷ”.

Do các cuộc Thập tự chinh, người Maronite đã tiếp xúc với Giáo hội La tinh vào thế kỷ 12. Năm 1182, toàn bộ quốc gia Maronite chính thức xác nhận sự hợp nhất với Rôma.

“Người Maronite có truyền thống lâu đời rằng Giáo hội của họ không bao giờ thiếu sự hiệp thông với Tòa thánh,” Cha Roberson viết.

Phụng vụ Maronite có nguồn gốc từ Tây Syria, nhưng chịu ảnh hưởng của truyền thống Đông Syria và La tinh, Cha Roberson giải thích: “Phụng Vụ Thánh Thể về cơ bản là một biến thể của phụng vụ Syriac của Thánh James. Ban đầu được cử hành bằng tiếng Syriac, phụng vụ này phần lớn được cử hành bằng tiếng Ả Rập kể từ cuộc xâm lược của người Ả Rập. “

Thứ Sáu, một cuộc họp đại kết quan trọng đã diễn ra ở Li Băng.

Ủy ban quốc tế chung về đối thoại thần học giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo hội Chính thống đã ban hành một số tài liệu và tuyên bố kể từ khi thành lập vào năm 1980. Phiên họp toàn thể lần thứ 7 của ủy ban diễn ra tại Trường Thần học Balamand ở Li Băng vào tháng 6 năm 1993. Tuyên bố đưa ra từ cuộc họp đã bác bỏ hiện tượng “chủ nghĩa thống nhất” như một phương pháp cần tuân theo hoặc như một mô hình cho sự thống nhất mà Giáo Hội Công Giáo và Chính thống đang tìm kiếm.

Thứ Bẩy, các Đức Giáo Hoàng gần đây đã ca ngợi tầm quan trọng của Li Băng, là “Hơn cả một quốc gia”

Li Băng thường được coi là hình mẫu cho toàn bộ Trung Đông, một phần không nhỏ là do sự ổn định tương đối của các mối quan hệ liên tôn trong nước.

“Li Băng không chỉ là một quốc gia: đó là thông điệp về tự do và là ví dụ về chủ nghĩa đa nguyên cho cả phương Đông lẫn phương Tây”, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phát biểu vào năm 1989, gần cuối cuộc nội chiến kéo dài 15 năm ở Li Băng.

Năm 2020, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã công bố Ngày cầu nguyện và ăn chay toàn thế giới cho Li Băng, tập hợp xung quanh ngài tất cả các nhà lãnh đạo Kitô giáo trong khu vực để cùng cầu nguyện.

Trong buổi tiếp kiến chung ngày 2 tháng 9 tại Vatican năm đó, Đức Giáo Hoàng đã gọi một linh mục người Li Băng cầm lá cờ của đất nước mình đến đứng cạnh ngài. Cầm lá cờ như một biểu tượng cho sự gần gũi của Giáo hội với đất nước đang đau khổ, ngài bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với đức tin của người dân vào Chúa và khả năng biến đất nước của họ thành “nơi khoan dung, tôn trọng và cùng tồn tại độc đáo trong khu vực đó”.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhắc lại lời khẳng định của Đức Gioan Phaolô II rằng Li Băng là một “thông điệp” và có sứ mệnh đặc biệt và quan trọng ở Trung Đông. Trong Ngày cầu nguyện, ngài nói: “Đây là một quốc gia nhỏ bé nhưng vĩ đại, nhưng hơn thế nữa, đây là một thông điệp chung về hòa bình và tình huynh đệ phát sinh từ Trung Đông”.

Thứ Tám, Li Băng là quê hương của một người chữa bệnh vĩ đại được cả thế giới yêu mến.

Thánh Charbel Makhlouf, người sống tại Tu viện St. Maron ở Annaya, đã chứng minh nhiều lần rằng ngài là một người cầu bầu mạnh mẽ cho những người tìm kiếm sự chữa lành. Không lâu sau khi ngài qua đời vào đêm Giáng Sinh năm 1898, người ta đã nhìn thấy một luồng sáng phát ra từ ngôi mộ của ngài. Sau đó, thi thể của ngài được khai quật và phát hiện là không bị phân hủy. Thi thể ngài vẫn như vậy cho đến nay. Những người hành hương bắt đầu đổ xô đến ngôi mộ của Charbel và có những báo cáo về các ca chữa lành, nhưng rõ ràng là ngài đã chữa lành cho những người ở xa như Phoenix, Arizona.

Thứ Chín, Li Băng đã tiếp nhận nhiều người tị nạn.

Đất nước này đã tiếp nhận người tị nạn từ nhiều cuộc xung đột và điểm nóng khác nhau trong khu vực. Người tị nạn Syria đã đến Li Băng trong giai đoạn 2011-2015 và đã có tới 1,5 triệu người ở đất nước này. Nhiều người tị nạn đang sống ở các khu vực theo Kitô giáo của Li Băng. Đất nước này cũng đã tiếp nhận người tị nạn Palestine trong một thời gian dài.

Thứ Mười, Có một lễ phong chân phước quan trọng đã diễn ra ở Li Băng vào mùa hè này.

Người Công Giáo tại Li Băng đã vui mừng vào ngày 2 tháng 8 vừa qua, khi Giáo hội chính thức tuyên bố bậc đáng kính Estephan El Douaihy, một Thượng Phụ thế kỷ 17 của Giáo hội Maronite, là chân phước, trong một nghi lễ ban đêm có vẻ như không phải ở thế giới này, đặc biệt là khi xem xét đến những căng thẳng trong nước.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã công nhận một phép lạ nhờ lời chuyển cầu của bậc đáng kính Estephan El Douaihy vào ngày 14 tháng 3, mở đường cho việc tuyên chân phước cho ngài.

Đức Thượng phụ El Douaihy sống từ năm 1630 đến năm 1704 và có ảnh hưởng lớn đến lịch sử và sự phát triển của Giáo hội Maronite.


Source:Aleteia

3. Đức Thánh Cha gặp gỡ 17 nạn nhân bị lạm dụng tại Bruxelles

Chiều thứ Sáu, ngày 27 tháng Chín, sau khi từ Đại học Leuven trở về Tòa Sứ thần Tòa Thánh ở thủ đô Bruxelles, Đức Thánh Cha Phanxicô dành hai tiếng đồng hồ để gặp gỡ và lắng nghe 17 nạn nhân bị giáo sĩ lạm dụng tính dục.

Cuộc gặp gỡ này đã được Hội đồng Giám mục Bỉ loan báo trong những ngày trước đó, nhưng không chính thức xác định. Trong diễn văn hôm 27 tháng Chín trước chính phủ và các tầng lớp xã hội của Bỉ, Đức Thánh Cha cũng đã lên án những vụ lạm dụng ấy.

Phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết trong cuộc gặp gỡ, các nạn nhân đã kể với Đức Thánh Cha những đau khổ của họ và họ mong đợi Giáo hội dấn thân chống lại những vụ lạm dụng.

Đức Thánh Cha đã lắng nghe và bày tỏ sự gần gũi với đau khổ của họ, cũng như cám ơn vì sự can đảm của họ. Đức Thánh Cha nói lên tâm tình tủi hổ vì những gì họ đã chịu khi còn nhỏ vì các linh mục đã được ủy thác chăm sóc họ. Ngài ghi nhận những thỉnh cầu của họ để có thể cứu xét.

Sau cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha, một vài nạn nhân đã họp với giới báo chí, trong số này có ông Jean Marc Turine, tác giả một cuốn sách, trong đó ông kể lại mình đã bị bốn linh mục lạm dụng từ năm 13 tuổi, và sau đó tại trường thánh Micae ở Bruxelles. Ông kể: tình trạng bị lạm dụng đã đưa đẩy ông rơi vào nạn nghiện rượu. Ông nói: “Tôi không được bình an, nhưng tôi đã thấy một người rất tử tế, thông minh và đó là điều tôi chờ đợi nơi ngài.

Ông đã nói với Đức Giáo Hoàng như một người lắng nghe và đã thấy ngài là một người cảm thương, một người đồng cảm”.

Còn bà Anne Sophie thì cho biết đã có ấn tượng mành vì thấy Đức Giáo Hoàng xúc động, trong khi lắng nghe điều bà kể lại. Sau cùng, chính Đức Thánh Cha xin lỗi chúng tôi. Ngài đã nói một điều rất quan trọng, đó là những tội ác này không thể rơi vào thời hiệu. Và các linh mục là những người trách nhiệm khi lạm dụng xảy ra, nhưng nếu giám mục biết mà không làm gì thì cả giám mục cũng phải chịu trách nhiệm”.