Phụng Vụ - Mục Vụ
Sự Thật Toàn Vẹn
Lm Vũđình Tường
02:05 06/05/2026
Con người hầu như không ngừng đi tìm câu trả lời nhân loại đến từ đâu và sau khi chết sẽ đi đâu? Câu hỏi này bắt đầu từ thời cổ đại và tồn tại cho mọi thế hệ. Có nhiều câu trả lời và chúng chỉ hợp thời một thời gian trước khi lỗi thời, quên lãng, chìm vào quá khứ. Vì thế mới có tình trạng thế hệ này qua đi, thế hệ khác lại tiếp tục đi tìm câu trả lời mới cho tương lai.
Thế giới vật chất bao la chứa nhiều bí ẩn không thể khám phá hết. Bên cạnh đó còn có thế giới của cảm xúc, tâm lí và tâm linh. Tất cả đều nằm trong tim ta, vô hình, trừu tượng, thâm sâu, cao thẳm. Có những thực thể khoa học có câu trả lời rõ ràng; lại có những thực thể khoa học đang tìm câu trả lời. Niềm tin Kitô là một thực thể sống động thuộc về thế giới siêu nhiên. Siêu nhiên luôn huyền bí nấp sau thế giới cảm xúc. Để tìm hiểu về siêu nhiên cần vạch bức màn che phủ thế giới cảm xúc. Cần phân biệt con tim được nuôi bằng loại tình yêu nào, nó sẽ sống theo loại tình yêu đó. Con tim coi trọng vật chất, địa vị, danh vọng, ghen tị, ích kỉ, tham lam, hận thù bởi đó là nguồn nuôi sống nó. Nó nhận loại tình cảm nào sẽ cho đi loại tình cảm đó. Để vạch bức màn che đậy cảm xúc, trước hết phải nhận định, quyết tâm khai trừ loại tình cảm xấu từng nuôi dưỡng con tim. Bước tiếp theo là nuôi con tim bằng loại tình cảm, nguồn sống tốt lành.
Kitô hữu nhận nguồn sống từ Đức Kitô sẽ sống theo tinh thần Kitô. Đón nhận Đức Kitô Phục Sinh để sống tinh thần Phục Sinh. Niềm tin này xác quyết đi hết cuộc sống trần thế là bước vào cuộc sống siêu nhiên, vĩnh cửu. Đức Kitô cho biết cuộc sống siêu nhiên được Thánh Thần Chúa soi sáng, hướng dẫn. Cuộc sống này bắt đầu ngay tại trần thế bằng cách sống theo giới luật yêu thương: mến Chúa, yêu tha nhân. Sống yêu thương là sống theo hướng dẫn của Thánh Thần. Kitô hữu sống yêu thương, soi gương Đức Kitô; đó là yêu mến lời Ngài. Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người đó. Để nhớ được giáo huấn của Đức Kitô, Kitô hữu cần tìm hiểu, học hỏi về giáo huấn của Đức Kitô.
Thánh Thần sẽ dậy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em Gn 14:26
Tình yêu Chúa nối kết, gắn chặt với cuộc sống người môn đệ. Liên kết với Đức Kitô qua tình yêu và dùng chính nguồn tình yêu này liên kết ta với tha nhân. Như thế chính là thực hành giới luật yêu thương.
Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy Gn 14:1....Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy Gn 14:21
Thánh Thần sẽ khai sáng tâm trí Kitô hữu. Thánh Thần quyết định khi nào khai sáng, bằng cách nào, và bao nhiêu là việc làm của Thánh Thần. Thánh Thần luôn ở cùng Kitô hữu cho nên không có Kitô hữu mồ côi bởi luôn có Thánh Thần Chúa ở cùng. Đây là tình yêu cao vời của Đức Kitô và cũng là niềm an ủi của Kitô hữu.
Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi Gn 14:16.....Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em Gn 14:18
Đấng Bảo Trợ là thần khí sự thật sẽ hướng dẫn Kitô hữu sống tinh thần sự thật, đồng thời mặc khải sự thật về Thiên Chúa. Kitô hữu được nuôi dưỡng bằng sự thật nên phải sống thành thật, công bằng, bác ái, vị tha. Kitô hữu được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Đức Kitô để sống tin thần của Đức Kitô Phục Sinh. Sự thật đời sống trường sinh sẽ được Thánh Thần soi sáng, mặc khải theo chương trình của Ngài.
Cảm tạ Đức Kitô ban Đấng Bảo Trợ cho chúng con.
Thế giới vật chất bao la chứa nhiều bí ẩn không thể khám phá hết. Bên cạnh đó còn có thế giới của cảm xúc, tâm lí và tâm linh. Tất cả đều nằm trong tim ta, vô hình, trừu tượng, thâm sâu, cao thẳm. Có những thực thể khoa học có câu trả lời rõ ràng; lại có những thực thể khoa học đang tìm câu trả lời. Niềm tin Kitô là một thực thể sống động thuộc về thế giới siêu nhiên. Siêu nhiên luôn huyền bí nấp sau thế giới cảm xúc. Để tìm hiểu về siêu nhiên cần vạch bức màn che phủ thế giới cảm xúc. Cần phân biệt con tim được nuôi bằng loại tình yêu nào, nó sẽ sống theo loại tình yêu đó. Con tim coi trọng vật chất, địa vị, danh vọng, ghen tị, ích kỉ, tham lam, hận thù bởi đó là nguồn nuôi sống nó. Nó nhận loại tình cảm nào sẽ cho đi loại tình cảm đó. Để vạch bức màn che đậy cảm xúc, trước hết phải nhận định, quyết tâm khai trừ loại tình cảm xấu từng nuôi dưỡng con tim. Bước tiếp theo là nuôi con tim bằng loại tình cảm, nguồn sống tốt lành.
Kitô hữu nhận nguồn sống từ Đức Kitô sẽ sống theo tinh thần Kitô. Đón nhận Đức Kitô Phục Sinh để sống tinh thần Phục Sinh. Niềm tin này xác quyết đi hết cuộc sống trần thế là bước vào cuộc sống siêu nhiên, vĩnh cửu. Đức Kitô cho biết cuộc sống siêu nhiên được Thánh Thần Chúa soi sáng, hướng dẫn. Cuộc sống này bắt đầu ngay tại trần thế bằng cách sống theo giới luật yêu thương: mến Chúa, yêu tha nhân. Sống yêu thương là sống theo hướng dẫn của Thánh Thần. Kitô hữu sống yêu thương, soi gương Đức Kitô; đó là yêu mến lời Ngài. Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người đó. Để nhớ được giáo huấn của Đức Kitô, Kitô hữu cần tìm hiểu, học hỏi về giáo huấn của Đức Kitô.
Thánh Thần sẽ dậy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em Gn 14:26
Tình yêu Chúa nối kết, gắn chặt với cuộc sống người môn đệ. Liên kết với Đức Kitô qua tình yêu và dùng chính nguồn tình yêu này liên kết ta với tha nhân. Như thế chính là thực hành giới luật yêu thương.
Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy Gn 14:1....Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy Gn 14:21
Thánh Thần sẽ khai sáng tâm trí Kitô hữu. Thánh Thần quyết định khi nào khai sáng, bằng cách nào, và bao nhiêu là việc làm của Thánh Thần. Thánh Thần luôn ở cùng Kitô hữu cho nên không có Kitô hữu mồ côi bởi luôn có Thánh Thần Chúa ở cùng. Đây là tình yêu cao vời của Đức Kitô và cũng là niềm an ủi của Kitô hữu.
Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi Gn 14:16.....Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em Gn 14:18
Đấng Bảo Trợ là thần khí sự thật sẽ hướng dẫn Kitô hữu sống tinh thần sự thật, đồng thời mặc khải sự thật về Thiên Chúa. Kitô hữu được nuôi dưỡng bằng sự thật nên phải sống thành thật, công bằng, bác ái, vị tha. Kitô hữu được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Đức Kitô để sống tin thần của Đức Kitô Phục Sinh. Sự thật đời sống trường sinh sẽ được Thánh Thần soi sáng, mặc khải theo chương trình của Ngài.
Cảm tạ Đức Kitô ban Đấng Bảo Trợ cho chúng con.
Ngày 07/05: Mong cầu triển nở, ở lại nơi đâu?– Lm. Giuse Đaminh Nguyễn Ngọc Tân, CP
Giáo Hội Năm Châu
02:35 06/05/2026
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. 10 Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. 11 Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.”
Đó là Lời Chúa
Yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
15:40 06/05/2026
Yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy
SUY NIỆM CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH – NĂM A
(Ga 14, 15 – 21)
Trong khung cảnh trang nghiêm của Bữa Tiệc Ly (Ga 14,15-21), khi “giờ” đã đến, giờ Chúa Giê-su qua khỏi thế gian để về cùng Chúa Cha (x.Ga 13, 1), Người đã để lại cho các môn đệ lời tâm huyết, như di chúc thiêng liêng của một người sắp ra đi: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15).
Yêu Chúa là giữ Lời Chúa
Đây không phải là một mệnh lệnh khô cứng, nhưng là lời trăng trối đầy tình yêu. Chúa Giê-su mời gọi chứ không áp đặt. Người không đòi hỏi điều gì ngoài tình yêu, nhưng tình yêu ấy được diễn tả bằng hành động cụ thể, đó là “giữ các điều răn”. Vì thế, yêu mến Chúa không chỉ là cảm xúc đạo đức hay những lời kinh sốt sắng, mà là một chọn lựa sống động: sống theo lời Người dạy.
Chúa Giê-su còn đi xa hơn khi khẳng định: “Ai giữ các điều răn của Thầy, thì là người yêu mến Thầy; và ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha Thầy yêu mến” (x. Ga 14,21). Như thế, việc tuân giữ giới răn là dấu chỉ của một tương quan tình yêu. Yêu mến dẫn đến vâng phục, và vâng phục lại làm cho tình yêu được lớn lên và sinh hoa trái.
Những lời trên giúp chúng ta hiểu rằng điều Chúa Giê-su mong muốn nơi các môn đệ không phải là sự hoàn hảo theo kiểu luật lệ, nhưng là một con tim biết yêu. Như Thánh Au-gút-ti-nô từng nói: “Hãy yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”, vì khi yêu thật lòng, con người sẽ không thể làm điều trái với ý Chúa.
Yêu thương là thước đo
Chúa dạy nhiều điều, nhưng tất cả tóm về hai điều này là: kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Đây là trung tâm của Tin Mừng. Nếu như tình yêu đối với Thiên Chúa được thể hiện qua việc tôn thờ, tin tưởng và vâng phục; thì tình yêu đối với tha nhân được thể hiện qua lòng bác ái, thứ tha và phục vụ.
Nhưng tình yêu mà Chúa Giê-su mời gọi không dừng lại ở mức tự nhiên. Người đưa ra một chuẩn mực mới: yêu như chính Người đã yêu. Và Người đã yêu đến cùng, yêu đến hy sinh mạng sống: “Không ai có tình yêu lớn hơn người hy sinh mạng sống vì bạn hữu” (Ga 15,13).
Như vậy, thước đo của tình yêu Ki-tô giáo không còn là “yêu người như chính mình” theo nghĩa tự nhiên, mà là “yêu như Chúa yêu”. Đó là tình yêu vị tha, quảng đại, không tính toán, không giới hạn. Một tình yêu biết cho đi mà không đòi đáp trả, biết tha thứ ngay cả khi bị tổn thương.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy yêu thương không hề dễ dàng. Con người chúng ta vẫn mang trong mình những yếu đuối: ích kỷ, ghen tị, nóng giận, và chia rẽ. Ngay trong đời sống Hội Thánh, đôi khi những điều ấy vẫn len lỏi, làm tổn thương tình hiệp nhất. Đã có những người rời bỏ cộng đoàn không phải vì mất niềm tin vào Thiên Chúa, mà vì họ không cảm nhận được tình yêu nơi anh chị em mình.
Điều này nhắc nhở chúng ta rằng: dấu chỉ rõ ràng nhất của người Ki-tô hữu không phải là kiến thức hay hình thức đạo đức, mà là tình yêu. Như Thánh I-rê-nê đã nhấn mạnh, đời sống Ki-tô hữu là đời sống được biến đổi nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho tình yêu của Thiên Chúa trở nên hiện thực nơi con người.
Yêu trong Chúa Thánh Thần
Yêu thương là một “nghệ thuật” cần được học mỗi ngày. Không ai tự nhiên mà biết yêu như Chúa, nhưng mỗi người đều được mời gọi tập luyện. Học yêu là học tha thứ khi bị xúc phạm, kiên nhẫn khi gặp khó khăn, quảng đại khi phải cho đi. Tiên vàn học nơi Chúa Giê-su, Đấng hiền lành và khiêm nhường.
Chính vì biết con người yếu đuối, Chúa Giê-su đã hứa ban Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ, Thần Chân Lý đến ở cùng chúng ta luôn mãi. Thánh Thần không chỉ an ủi, mà còn dạy dỗ, hướng dẫn và ban sức mạnh để chúng ta sống điều Chúa truyền dạy. Như Công đồng Vaticanô II khẳng định: Thánh Thần là nguồn mạch hiệp nhất và là sức sống của Hội Thánh (Lumen Gentium, số 4).
Trong thế giới hôm nay, khi con người dễ khép kín, nghi ngờ và chia rẽ, lời mời gọi yêu thương của Chúa Giê-su lại càng mang tính thời sự. Người Ki-tô hữu được mời gọi trở thành dấu chỉ của tình yêu: nơi gia đình, giáo xứ, và xã hội. Một nụ cười, một lời tha thứ, một cử chỉ cảm thông đều có thể trở thành chứng tá sống động của Tin Mừng.
Có Thánh Thần hướng dẫn, lời Chúa soi sáng, và cộng đoàn nâng đỡ chúng ta không bị bỏ rơi Điều quan trọng là chúng ta có dám mở lòng để sống tình yêu ấy hay không.
Xin Đức Ma-ri-a, Đấng đã sống trọn vẹn tình yêu và sự vâng phục, cầu bầu cho chúng ta, để mỗi ngày chúng ta biết yêu thương, sống giới răn của Chúa với niềm vui vẻ.
Và xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta, để đời sống chúng ta trở thành chứng tá rằng: yêu thương chính là con đường dẫn đến Thiên Chúa. Amen.
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
SUY NIỆM CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH – NĂM A
(Ga 14, 15 – 21)
Trong khung cảnh trang nghiêm của Bữa Tiệc Ly (Ga 14,15-21), khi “giờ” đã đến, giờ Chúa Giê-su qua khỏi thế gian để về cùng Chúa Cha (x.Ga 13, 1), Người đã để lại cho các môn đệ lời tâm huyết, như di chúc thiêng liêng của một người sắp ra đi: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15).
Yêu Chúa là giữ Lời Chúa
Đây không phải là một mệnh lệnh khô cứng, nhưng là lời trăng trối đầy tình yêu. Chúa Giê-su mời gọi chứ không áp đặt. Người không đòi hỏi điều gì ngoài tình yêu, nhưng tình yêu ấy được diễn tả bằng hành động cụ thể, đó là “giữ các điều răn”. Vì thế, yêu mến Chúa không chỉ là cảm xúc đạo đức hay những lời kinh sốt sắng, mà là một chọn lựa sống động: sống theo lời Người dạy.
Chúa Giê-su còn đi xa hơn khi khẳng định: “Ai giữ các điều răn của Thầy, thì là người yêu mến Thầy; và ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha Thầy yêu mến” (x. Ga 14,21). Như thế, việc tuân giữ giới răn là dấu chỉ của một tương quan tình yêu. Yêu mến dẫn đến vâng phục, và vâng phục lại làm cho tình yêu được lớn lên và sinh hoa trái.
Những lời trên giúp chúng ta hiểu rằng điều Chúa Giê-su mong muốn nơi các môn đệ không phải là sự hoàn hảo theo kiểu luật lệ, nhưng là một con tim biết yêu. Như Thánh Au-gút-ti-nô từng nói: “Hãy yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”, vì khi yêu thật lòng, con người sẽ không thể làm điều trái với ý Chúa.
Yêu thương là thước đo
Chúa dạy nhiều điều, nhưng tất cả tóm về hai điều này là: kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Đây là trung tâm của Tin Mừng. Nếu như tình yêu đối với Thiên Chúa được thể hiện qua việc tôn thờ, tin tưởng và vâng phục; thì tình yêu đối với tha nhân được thể hiện qua lòng bác ái, thứ tha và phục vụ.
Nhưng tình yêu mà Chúa Giê-su mời gọi không dừng lại ở mức tự nhiên. Người đưa ra một chuẩn mực mới: yêu như chính Người đã yêu. Và Người đã yêu đến cùng, yêu đến hy sinh mạng sống: “Không ai có tình yêu lớn hơn người hy sinh mạng sống vì bạn hữu” (Ga 15,13).
Như vậy, thước đo của tình yêu Ki-tô giáo không còn là “yêu người như chính mình” theo nghĩa tự nhiên, mà là “yêu như Chúa yêu”. Đó là tình yêu vị tha, quảng đại, không tính toán, không giới hạn. Một tình yêu biết cho đi mà không đòi đáp trả, biết tha thứ ngay cả khi bị tổn thương.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy yêu thương không hề dễ dàng. Con người chúng ta vẫn mang trong mình những yếu đuối: ích kỷ, ghen tị, nóng giận, và chia rẽ. Ngay trong đời sống Hội Thánh, đôi khi những điều ấy vẫn len lỏi, làm tổn thương tình hiệp nhất. Đã có những người rời bỏ cộng đoàn không phải vì mất niềm tin vào Thiên Chúa, mà vì họ không cảm nhận được tình yêu nơi anh chị em mình.
Điều này nhắc nhở chúng ta rằng: dấu chỉ rõ ràng nhất của người Ki-tô hữu không phải là kiến thức hay hình thức đạo đức, mà là tình yêu. Như Thánh I-rê-nê đã nhấn mạnh, đời sống Ki-tô hữu là đời sống được biến đổi nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho tình yêu của Thiên Chúa trở nên hiện thực nơi con người.
Yêu trong Chúa Thánh Thần
Yêu thương là một “nghệ thuật” cần được học mỗi ngày. Không ai tự nhiên mà biết yêu như Chúa, nhưng mỗi người đều được mời gọi tập luyện. Học yêu là học tha thứ khi bị xúc phạm, kiên nhẫn khi gặp khó khăn, quảng đại khi phải cho đi. Tiên vàn học nơi Chúa Giê-su, Đấng hiền lành và khiêm nhường.
Chính vì biết con người yếu đuối, Chúa Giê-su đã hứa ban Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ, Thần Chân Lý đến ở cùng chúng ta luôn mãi. Thánh Thần không chỉ an ủi, mà còn dạy dỗ, hướng dẫn và ban sức mạnh để chúng ta sống điều Chúa truyền dạy. Như Công đồng Vaticanô II khẳng định: Thánh Thần là nguồn mạch hiệp nhất và là sức sống của Hội Thánh (Lumen Gentium, số 4).
Trong thế giới hôm nay, khi con người dễ khép kín, nghi ngờ và chia rẽ, lời mời gọi yêu thương của Chúa Giê-su lại càng mang tính thời sự. Người Ki-tô hữu được mời gọi trở thành dấu chỉ của tình yêu: nơi gia đình, giáo xứ, và xã hội. Một nụ cười, một lời tha thứ, một cử chỉ cảm thông đều có thể trở thành chứng tá sống động của Tin Mừng.
Có Thánh Thần hướng dẫn, lời Chúa soi sáng, và cộng đoàn nâng đỡ chúng ta không bị bỏ rơi Điều quan trọng là chúng ta có dám mở lòng để sống tình yêu ấy hay không.
Xin Đức Ma-ri-a, Đấng đã sống trọn vẹn tình yêu và sự vâng phục, cầu bầu cho chúng ta, để mỗi ngày chúng ta biết yêu thương, sống giới răn của Chúa với niềm vui vẻ.
Và xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta, để đời sống chúng ta trở thành chứng tá rằng: yêu thương chính là con đường dẫn đến Thiên Chúa. Amen.
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
KHÔNG CHỈ LÀ CHÚA KITÔ
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
15:41 06/05/2026
KHÔNG CHỈ LÀ CHÚA KITÔ
“Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy!”.
“Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội; chống đối Chúa Kitô, thì không chỉ chống đối Ngài, nhưng còn là Giáo Hội của Ngài!” - William Barclay.
Kính thưa Anh Chị em,
“Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội”. Vì thế, không thể tách rời Giáo Hội khỏi Chúa Kitô; ở lại trong Ngài cũng là ở lại trong Giáo Hội của Ngài - ‘không chỉ là chúa Kitô’.
Động từ “ở lại” không chỉ mang nghĩa luân lý; nó diễn tả một tương quan. Tình yêu không khởi đi từ nỗ lực, nhưng từ một thực tại có trước: “Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em”. Vì thế, “ở lại” là để mình được ở trong chuyển động tình yêu giữa Cha và Con; đức tin không còn là làm cho đúng điều phải, nhưng là để mình được ở trong đó. Ở đây, câu hỏi trở nên rất cụ thể: tôi có thật sự ở lại không, hay chỉ đang làm cho đúng?
Bên cạnh đó, “giữ các điều răn” không phải là một đòi buộc, nhưng là cách tình yêu trở thành cụ thể; nó là hình hài của tình yêu. “Ở lại” mà không “gìn giữ”, tình yêu dễ tan thành cảm xúc; còn “gìn giữ” mà không “ở lại” thì trở nên khô cứng. Có khi nào chúng ta chỉ còn “giữ” mà không còn ở lại? Vì một khi tình yêu đối với Chúa Kitô đã mang lấy hình hài cụ thể như thế, nó không còn dừng lại nơi cá vị, nhưng tự nó mở ra thành hiệp thông, thành một thân thể sống động - Giáo Hội; vì thế, ‘không chỉ là chúa Kitô’.
Tình yêu nơi Gioan không dừng ở cảm xúc hay bổn phận, nhưng là caritas - tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa và tự thông ban. Tình yêu ấy không chỉ là mẫu mực, nhưng là một chuyển động sống. Vì thế, ở lại trong tình yêu không phải là giữ lấy, nhưng là để mình được ở trong tình yêu ấy. “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một chọn lựa luân lý hay một ý niệm cao cả, nhưng là cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người!” - Joseph Ratzinger.
Cụ thể của tình yêu ấy không nằm ở cảm xúc, nhưng ở một quyết định mở ra: Công đồng Giêrusalem không đặt thêm gánh nặng, nhưng nhận ra Thiên Chúa đang hành động nơi mọi dân - bài đọc một. Vì thế, tình yêu trở thành sứ vụ: “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm”. Khi tình yêu là caritas, nó luôn mang chiều kích loan báo; lan ra thành lời chứng sống động giữa muôn dân - Thánh Vịnh đáp ca.
Anh Chị em,
Khuôn mẫu của tình yêu đó, quy tụ nơi Đức Giêsu Kitô, đạt tới tột đỉnh trên thập giá: không giữ lại, nhưng trao ban đến cùng - cho Cha và cho nhân loại. Ở lại trong Ngài là bước vào chính nhịp tự hiến ấy; và từ đó, người môn đệ không còn sống cho riêng mình, nhưng được cuốn vào một đời sống trao ban của một thân thể mầu nhiệm - Giáo Hội - ‘không chỉ là chúa Kitô’. “Ngài là đầu, chúng ta là chi thể; Ngài và chúng ta hợp lại thành một con người toàn thể!” - Augustinô.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin cho con biết ở lại trong tình thương của Ngài, để con dám trao như Chúa đã trao!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
“Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy!”.
“Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội; chống đối Chúa Kitô, thì không chỉ chống đối Ngài, nhưng còn là Giáo Hội của Ngài!” - William Barclay.
Kính thưa Anh Chị em,
“Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội”. Vì thế, không thể tách rời Giáo Hội khỏi Chúa Kitô; ở lại trong Ngài cũng là ở lại trong Giáo Hội của Ngài - ‘không chỉ là chúa Kitô’.
Động từ “ở lại” không chỉ mang nghĩa luân lý; nó diễn tả một tương quan. Tình yêu không khởi đi từ nỗ lực, nhưng từ một thực tại có trước: “Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em”. Vì thế, “ở lại” là để mình được ở trong chuyển động tình yêu giữa Cha và Con; đức tin không còn là làm cho đúng điều phải, nhưng là để mình được ở trong đó. Ở đây, câu hỏi trở nên rất cụ thể: tôi có thật sự ở lại không, hay chỉ đang làm cho đúng?
Bên cạnh đó, “giữ các điều răn” không phải là một đòi buộc, nhưng là cách tình yêu trở thành cụ thể; nó là hình hài của tình yêu. “Ở lại” mà không “gìn giữ”, tình yêu dễ tan thành cảm xúc; còn “gìn giữ” mà không “ở lại” thì trở nên khô cứng. Có khi nào chúng ta chỉ còn “giữ” mà không còn ở lại? Vì một khi tình yêu đối với Chúa Kitô đã mang lấy hình hài cụ thể như thế, nó không còn dừng lại nơi cá vị, nhưng tự nó mở ra thành hiệp thông, thành một thân thể sống động - Giáo Hội; vì thế, ‘không chỉ là chúa Kitô’.
Tình yêu nơi Gioan không dừng ở cảm xúc hay bổn phận, nhưng là caritas - tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa và tự thông ban. Tình yêu ấy không chỉ là mẫu mực, nhưng là một chuyển động sống. Vì thế, ở lại trong tình yêu không phải là giữ lấy, nhưng là để mình được ở trong tình yêu ấy. “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một chọn lựa luân lý hay một ý niệm cao cả, nhưng là cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người!” - Joseph Ratzinger.
Cụ thể của tình yêu ấy không nằm ở cảm xúc, nhưng ở một quyết định mở ra: Công đồng Giêrusalem không đặt thêm gánh nặng, nhưng nhận ra Thiên Chúa đang hành động nơi mọi dân - bài đọc một. Vì thế, tình yêu trở thành sứ vụ: “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm”. Khi tình yêu là caritas, nó luôn mang chiều kích loan báo; lan ra thành lời chứng sống động giữa muôn dân - Thánh Vịnh đáp ca.
Anh Chị em,
Khuôn mẫu của tình yêu đó, quy tụ nơi Đức Giêsu Kitô, đạt tới tột đỉnh trên thập giá: không giữ lại, nhưng trao ban đến cùng - cho Cha và cho nhân loại. Ở lại trong Ngài là bước vào chính nhịp tự hiến ấy; và từ đó, người môn đệ không còn sống cho riêng mình, nhưng được cuốn vào một đời sống trao ban của một thân thể mầu nhiệm - Giáo Hội - ‘không chỉ là chúa Kitô’. “Ngài là đầu, chúng ta là chi thể; Ngài và chúng ta hợp lại thành một con người toàn thể!” - Augustinô.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin cho con biết ở lại trong tình thương của Ngài, để con dám trao như Chúa đã trao!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Bài Giáo lý Hàng tuần của Đức Leo XIV: Giáo hội, lữ khách trong lịch sử hướng về quê hương trên trời
Vũ Văn An
14:33 06/05/2026

Theo tin Tòa Thánh, tại Quảng trường Thánh Phêrô, Thứ Tư, ngày 6 tháng 5 năm 2026, Đức Leo XIV đã có buổi yết kiến chung. Nhân dịp này ngài đã có bài giáo lý với chủ đề:
Giáo lý. Các Văn kiện của Công đồng Vatican II. II. Hiến chế Tín lý Lumen gentium. 8. Giáo hội, lữ khách trong lịch sử hướng về quê hương trên trời
Sau đây là nguyên văn Bài Giáo Lý của ngài, theo bản tiếng Anh của Tòa Thánh:
Anh chị em thân mến, chào buổi sáng và chào mừng anh chị em!
Hôm nay, khi chúng ta tập trung vào một phần của Chương VII trong Hiến chế về Giáo hội của Công đồng Vatican II, chúng ta hãy suy gẫm về một trong những đặc điểm xác định của nó: chiều kích cánh chung. Trên thực tế, Giáo hội hành trình qua lịch sử trần gian này luôn hướng về đích đến cuối cùng của mình, đó là quê hương trên trời. Đây là một chiều kích thiết yếu mà chúng ta thường bỏ qua hoặc xem nhẹ, bởi vì chúng ta quá tập trung vào những gì có thể nhìn thấy ngay lập tức và vào những động lực cụ thể hơn của đời sống cộng đồng Kitô giáo.
Giáo hội là dân Chúa hành trình qua lịch sử, với Nước Thiên Chúa là mục đích của mọi hành động của mình (xem LG, 9). Chúa Giêsu đã khởi xướng Giáo Hội chính bằng việc rao giảng Nước Trời, Nước của tình yêu thương, công lý và hòa bình (xem LG, 5). Vì vậy, chúng ta được mời gọi suy gẫm về chiều kích cộng đồng và vũ trụ của ơn cứu độ trong Chúa Kitô và hướng mắt về chân trời cuối cùng này, để đo lường và đánh giá mọi thứ từ viễn ảnh này.
Giáo Hội sống trong lịch sử để phục vụ cho Nước Thiên Chúa đến trong thế giới. Giáo Hội loan báo lời hứa này cho tất cả mọi người và luôn luôn; Giáo Hội nhận được lời hứa đó trong việc cử hành các Bí tích, đặc biệt là Thánh Thể; Giáo Hội thực hành luận lý học của nó và trải nghiệm nó trong các mối quan hệ yêu thương và phục vụ. Hơn nữa, Giáo Hội biết rằng Giáo Hội là nơi chốn và phương tiện để sự hiệp nhất với Chúa Kitô được hiện thực hóa “gần gũi hơn” (LG, 48), đồng thời nhận ra rằng ơn cứu độ có thể được Thiên Chúa ban trong Chúa Thánh Thần ngay cả ngoài ranh giới hữu hình của Giáo Hội.
Về vấn đề này, Hiến chế Lumen gentium đưa ra một tuyên bố quan trọng: Giáo Hội là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ” (LG, 48), nghĩa là dấu hiệu và công cụ của sự viên mãn về sự sống và hòa bình mà Thiên Chúa thúc đẩy. Điều này có nghĩa là Giáo hội không hoàn toàn đồng nhất với Nước Thiên Chúa, nhưng là hạt giống và khởi đầu của Nước Thiên Chúa, vì sự viên mãn của Nước Thiên Chúa sẽ chỉ được ban cho nhân loại và vũ trụ vào cuối thời kỳ. Vì vậy, những người tin vào Chúa Kitô bước đi trong lịch sử trần gian này, được đánh dấu bởi sự trưởng thành của điều thiện nhưng cũng bởi những bất công và đau khổ, mà không bị lừa dối hay tuyệt vọng; họ sống được hướng dẫn bởi lời hứa nhận được từ Đấng sẽ “làm mới mọi sự” (Khải Huyền 21:5). Do đó, Giáo hội nhận ra sứ mệnh của mình nằm giữa “đã có” của sự khởi đầu Nước Thiên Chúa trong Chúa Giêsu, và “chưa đến” của sự viên mãn đã được hứa và mong đợi. Là người bảo vệ niềm hy vọng soi sáng con đường, Giáo hội cũng được trao quyền với sứ mệnh lên tiếng rõ ràng để bác bỏ mọi thứ làm chết lặng sự sống và cản trở sự phát triển của nó, và để đứng về phía người nghèo, người bị bóc lột, nạn nhân của bạo lực và chiến tranh, và tất cả những người đau khổ về thể xác và tinh thần (xem Sách Tóm lược về Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 159).
Là dấu hiệu và bí tích của Nước Trời, Giáo Hội là dân Chúa lữ hành trên trần gian, dựa trên lời hứa cuối cùng, đọc và giải thích động lực của lịch sử qua Tin Mừng, tố cáo điều ác dưới mọi hình thức và loan báo bằng lời nói và việc làm ơn cứu độ mà Chúa Kitô muốn mang đến cho toàn thể nhân loại và Nước Trời của Người, một Nước Trời công chính, yêu thương và bình an. Vì vậy, Giáo Hội không tự xưng mình; ngược lại, mọi sự trong Giáo Hội phải hướng đến ơn cứu độ trong Chúa Kitô.
Từ quan điểm này, Giáo Hội được mời gọi khiêm nhường nhận ra sự yếu đuối và phù du của chính các định chế của mình, những định chế dù phục vụ Nước Trời, vẫn mang hình ảnh phù du của thế gian này (xem LG, 48). Không một định chế Giáo Hội nào có thể được coi là tuyệt đối; quả thật, vì chúng tồn tại trong lịch sử và thời gian, nên chúng được mời gọi hoán cải liên tục, đổi mới hình thức và cải cách cấu trúc, tái sinh liên tục các mối quan hệ, để chúng có thể thực sự hoàn thành sứ mệnh của mình.
Trong phạm vi Nước Thiên Chúa, chúng ta cũng cần hiểu mối quan hệ giữa các Kitô hữu đang thực hiện sứ mệnh của mình ngày nay và những người đã hoàn thành cuộc sống trần thế và đang ở trong trạng thái thanh tẩy hoặc hạnh phúc. Trên thực tế, Lumen gentium khẳng định rằng tất cả các Kitô hữu tạo thành một Giáo Hội duy nhất, rằng có sự hiệp thông và chia sẻ các ơn lành thiêng liêng được xây dựng trên sự kết hợp với Chúa Kitô của tất cả các tín hữu, một fraterna sollicitudo [quan tâm huynh đệ] giữa Giáo Hội trần gian và Giáo Hội trên trời: đó là sự hiệp thông các thánh được cảm nhận đặc biệt trong phụng vụ (xem LG, 49-51). Bằng cách cầu nguyện cho những người đã khuất và noi theo bước chân của những người đã sống như những môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta cũng được nâng đỡ trên hành trình của mình và củng cố việc thờ phượng Thiên Chúa: được đánh dấu bởi một Thánh Linh và hiệp nhất trong một phụng vụ duy nhất, để cùng với những người đã đi trước chúng ta trong đức tin, chúng ta ca ngợi và tôn vinh Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.
Chúng ta hãy biết ơn các Nghị phụ Công đồng vì đã nhắc nhở chúng ta về khía cạnh quan trọng và tốt đẹp nhất này của việc sống theo đạo Kitô, và nguyện chúng ta nỗ lực vun đắp điều đó trong cuộc sống của mình.
Đức Giáo Hoàng Leo kêu gọi sự thật sau những lời chỉ trích mới từ Trump
Vũ Văn An
17:21 06/05/2026

Kathleen N. Hattrup, trên bản tin ngày 05/05/26 của tạp chí Aleteia, choa hay: Đức Leo nói khi rời khỏi Castel Gandolfo rằng: “Nếu ai đó muốn chỉ trích tôi vì rao giảng Tin Mừng, hãy làm điều đó một cách trung thực”.
Mặc dù không được báo chí đưa tin rộng rãi, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đưa ra một bình luận khác về Đức Giáo Hoàng Leo hôm thứ Hai, trong một cuộc phỏng vấn trên chương trình Hugh Hewitt. Hewitt nói về Jimmy Lai, một nhà lãnh đạo Công Giáo ủng hộ dân chủ ở Hồng Kông, người đã bị Trung Quốc kết án 20 năm tù.
“Tôi muốn Đức Giáo Hoàng nói về Jimmy Lai, và tôi muốn ông đưa ông ấy về nước. Đó sẽ là một thỏa thuận tốt,” Hewitt nói với Trump.
Tổng thống đáp lại:
Vâng, Giáo hoàng lại thích nói về việc Iran có thể sở hữu vũ khí hạt nhân, và tôi không nghĩ điều đó tốt chút nào. Tôi nghĩ ngài đang gây nguy hiểm cho rất nhiều người Công Giáo và nhiều người khác. Nhưng tôi đoán nếu là do Giáo hoàng quyết định, thì ngài nghĩ việc Iran sở hữu vũ khí hạt nhân là hoàn toàn ổn.
Khi rời khỏi Castel Gandolfo vào ngày 5 tháng 5, Đức Giáo Hoàng Leo được hỏi về những bình luận mới nhất, những phát ngôn mới nhất của tổng thống về ngài.
Ngài trả lời bằng tiếng Ý, nói rằng "sứ mệnh của Giáo hội là rao giảng Tin Mừng, là rao giảng hòa bình."
"Nếu ai đó muốn chỉ trích tôi vì rao giảng Tin Mừng, hãy làm điều đó một cách trung thực," ngài nói.
Trên thực tế, Đức Giáo Hoàng Leo và những người tiền nhiệm của ngài đã lên tiếng mạnh mẽ về vũ khí hạt nhân. Ví dụ, vào tháng Sáu, khi nói về tình hình ở Iran và Israel, ngài nói: "Cam kết tạo ra một thế giới an toàn hơn, không có mối đe dọa hạt nhân, cần được theo đuổi thông qua sự gặp gỡ tôn trọng và đối thoại chân thành, để xây dựng một nền hòa bình lâu dài, dựa trên công lý, tình huynh đệ và lợi ích chung."
Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhiều lần nói về mối đe dọa hạt nhân.
Năm 2019, trong một cuộc họp báo trên máy bay sau chuyến thăm Nhật Bản, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói rằng ngay cả việc sở hữu vũ khí hạt nhân cũng là vô đạo đức:
Và ở đó [tại Hiroshima] tôi đã tái khẳng định rằng việc sử dụng vũ khí hạt nhân là vô đạo đức — điều này cũng phải được đưa vào Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo — và không chỉ việc sử dụng mà cả việc sở hữu chúng nữa, bởi vì một tai nạn [do] sở hữu, hoặc sự điên rồ của một nhà lãnh đạo chính phủ nào đó, sự điên rồ của một người nào đó có thể hủy diệt nhân loại. Chúng ta hãy suy nghĩ về câu nói của Einstein: "Chiến tranh thế giới thứ tư sẽ được chiến đấu bằng gậy và đá".
Cuộc gặp với Rubio
Tối nay, Đức Giáo Hoàng Leo đã nhắc lại thông điệp nhất quán này.
“Trong nhiều năm qua, Giáo hội đã lên tiếng phản đối mọi loại vũ khí hạt nhân, vì vậy không có gì phải nghi ngờ về điểm này,” Đức Giáo Hoàng nói.
Lưu ý rằng những lời đầu tiên của ngài với tư cách là Giáo hoàng vào ngày 8 tháng 5 – giờ đây chúng ta đã gần đến ngày kỷ niệm – là “bình an cho tất cả anh chị em,” ngài nói thêm, “Tôi chỉ hy vọng được lắng nghe vì giá trị của lời Chúa.”
Đức Giáo Hoàng dự kiến sẽ gặp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio vào ngày 7 tháng 5, và ngài nói rằng ngài hy vọng đó sẽ là “một cuộc đối thoại tốt đẹp,” để “hiểu nhau hơn.”
Vũ khí hạt nhân và chiến tranh chính nghĩa
Một phóng viên của EWTN sau đó đã hỏi Đức Giáo Hoàng về một câu trích dẫn từ sách Isaiah mà ngài đã sử dụng trong bài giảng Chúa nhật Lễ Lá: “Ngài không nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến, nhưng bác bỏ chúng, phán rằng: ‘Dù các ngươi cầu nguyện nhiều, ta cũng không nghe: tay các ngươi đầy máu’ (Is 1:15).”
Phóng viên hỏi liệu điều này có áp dụng cho tự vệ hay không.
Đức Thánh Cha giải thích rằng truyền thống của Giáo Hội luôn cho phép tự vệ. Nhưng ngài tiếp tục, "Ngày nay, việc nói về chiến tranh chính nghĩa là một vấn đề rất phức tạp. Bạn phải phân tích nó ở nhiều bình diện, nhưng kể từ khi bước vào thời đại hạt nhân, toàn bộ khái niệm về chiến tranh cần phải được đánh giá lại bằng những thuật ngữ của ngày nay."
"Tôi luôn tin rằng việc đối thoại tốt hơn nhiều so với việc tìm kiếm vũ khí và hỗ trợ ngành kỹ nghệ vũ khí," ngài nói thêm.
Nhiều người đi bộ thiệt mạng và hàng chục người bị thương khi xe lao vào đám đông ở Đức
Đặng Tự Do
17:38 06/05/2026
Trong một thông báo được đưa ra hôm Thứ Ba, 05 Tháng Năm, Đức Cha Heinrich Timmerevers của giáo phận Dresden-Meißen cho biết ngài bàng hoàng khi biết tin về vụ một tài xế lao thẳng xe vào đông ở trung tâm Leipzig, Đức, hôm Thứ Hai, 04 Tháng Năm.
“Tôi phó thác linh hồn của những người thiệt mạng cho Lòng Chúa Thương Xót, và khẩn cầu ơn chữa lành cho những người bị thương, ơn an ủi cho gia đình các nạn nhân, và ơn phù trợ cho những người tiếp cứu đầu tiên trong biến cố bi thảm này,” ngài nói.
Ít nhất hai người thiệt mạng và 25 người khác bị thương sau khi một chiếc xe lao vào đám đông ở trung tâm Leipzig, Đức, hôm thứ Hai, đài phát thanh Leipzig đưa tin. Các quan chức xác nhận với hãng thông tấn AP rằng ít nhất hai nạn nhân bị thương nặng và đang phải chiến đấu giành giật mạng sống với tử thần.
Vụ việc xảy ra trên đường Grimmaische Strasse, một tuyến đường dành cho người đi bộ chính dẫn vào khu mua sắm trung tâm của Leipzig, vào khoảng 5 giờ chiều giờ địa phương.
Theo hãng tin AP, các quan chức cho biết nghi phạm là một người đàn ông 33 tuổi, sinh ra ở Đức và hiện đang sinh sống tại khu vực Leipzig.
Phát ngôn nhân cảnh sát Susanne Lübcke cho biết tài xế đã dừng xe và vẫn ở trong xe khi bị bắt giữ.
Các công tố viên cho biết một nghi phạm đang bị điều tra vì nghi ngờ giết người và âm mưu giết người. Hiện chưa có thông tin nào về động cơ gây án.
Vụ việc xảy ra trong bối cảnh bạo lực chính trị đang trở thành tâm điểm chú ý trên toàn thế giới, bao gồm cả ở Mỹ, nơi các vụ đâm xe đã xảy ra ở nhiều thành phố trong những năm gần đây, trong đó có các vụ việc gây chú ý ở Charlottesville, Virginia, Minneapolis và New Orleans.
Trong những năm gần đây, Đức đã phải đối mặt với một số vụ đâm xe vào đám đông gây chấn động dư luận. Vào tháng 12 năm 2024, hai người thiệt mạng và 68 người khác bị thương khi một chiếc xe lao vào đám đông tại chợ Giáng Sinh ở Magdeburg. Thông thường, các nhà chức trách sẽ phản ứng hết sức thận trọng cho đến khi động cơ và hoàn cảnh của người lái xe được làm rõ.
Theo hãng tin AP, Armin Schuster, bộ trưởng nội vụ bang Saxony, cho biết các nhà điều tra tin rằng tài xế đã hành động một mình.
Thị trưởng Leipzig, Burkhard Jung, nói với AP rằng ba người bị thương nặng và đã được đưa đến bệnh viện sau vụ việc. Schuh nói thêm rằng 20 người khác cũng bị “ảnh hưởng” nhưng không cung cấp thêm chi tiết, theo AP đưa tin.
Ông Jung cho biết chưa rõ động cơ gây án, nhưng nói thêm rằng “hiện không còn nguy hiểm nữa…tình hình đã được kiểm soát. Cảnh sát đã bắt giữ nghi phạm.”
Theo hãng tin AP, cảnh sát trưởng René Demmler cho biết nghi phạm đã lái xe từ Augustusplatz, một quảng trường lớn, dọc theo đường Grimmaische Strasse vào khu mua sắm dành cho người đi bộ ở trung tâm thành phố.
Đài phát thanh Leipzig xác định chiếc xe là một chiếc SUV hiệu Volkswagen và cho biết nó đã được nhìn thấy chạy quá tốc độ qua khu vực dành cho người đi bộ trước khi xảy ra vụ tai nạn. Theo báo cáo của Reuters, các nhân chứng nói với đài phát thanh rằng một số thi thể đã được phủ bằng khăn. Hình ảnh từ hiện trường cho thấy một chiếc xe bị hư hỏng nặng phần đầu và một gương chiếu hậu bị vỡ.
Leipzig, nằm cách Berlin khoảng 240 km về phía tây nam, có dân số hơn 630.000 người, trở thành một trong những thành phố lớn nhất ở miền đông nước Đức.
Source:Newsweek
Giáo phận Rôma thông báo về cuộc gặp gỡ giữa Kitô giáo và Hồi giáo tại Thánh đường Hồi giáo lớn
Đặng Tự Do
17:39 06/05/2026
Tòa Giám mục Rôma đã thông báo rằng Thánh đường Hồi giáo lớn ở Rôma sẽ tổ chức một cuộc gặp gỡ liên tôn giáo mang tên “Cristiani e musulmani in dialogo alla Grande Moschea” vào thứ Năm, ngày 7 tháng 5 năm 2026, lúc 5 giờ chiều. Động thái này đã làm dấy lên cuộc tranh luận về cách ứng xử đúng mực trong các cuộc gặp gỡ liên tôn và đại kết.
Sự kiện này do Trung tâm Văn hóa Hồi giáo Ý (Centro Islamico Culturale d'Italia) và Giáo phận Rôma phối hợp tổ chức. Những người tham gia thuộc Giáo Hội Công Giáo bao gồm Giám Mục Phụ Tá Marco Valenti của Khu vực phía Bắc, Đức Cha Marco Gnavi, phụ trách Văn phòng Đại kết, đối thoại liên tôn và các tín ngưỡng mới, và Giáo sư Wasim Salman của PISAI (Viện Giáo hoàng về Nghiên cứu Ả Rập và Hồi giáo). Về phía Hồi giáo sẽ có sự tham gia của Tiến sĩ Abdellah Redouane, tổng thư ký Trung tâm Văn hóa Hồi giáo Ý, và Imam Nader Akkad, người sẽ hướng dẫn tham quan đền thờ Hồi giáo.
Trong cuộc gặp gỡ, Hội đồng Giám mục Ý và PISAI sẽ giới thiệu “Thẻ tìm hiểu về Hồi giáo” – những tờ thông tin về Hồi giáo do một ủy ban hỗn hợp Kitô giáo-Hồi giáo cùng biên soạn. Sự kiện này mở cửa miễn phí cho công chúng. Trong thông cáo báo chí chính thức ngày 30 tháng 4 năm 2026, Đức Cha Gnavi nhấn mạnh cam kết lâu dài của Giáo phận Roma đối với đối thoại, dẫn chứng tấm gương của Đức Thánh Cha Lêô XIV và đề cập đến thông điệp Fratelli Tutti của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Ngài nhắc lại chuyến thăm của Hồng Y Baldassare Reina đến cùng đền thờ Hồi giáo này vào ngày 10 Tháng Giêng năm 2025 và mô tả cuộc gặp sắp tới là cơ hội để mở rộng “không gian hòa bình” trong một thế giới đầy xung đột và bạo lực.
Phản ứng chỉ trích đã diễn ra nhanh chóng. Nhiều tiếng nói Công Giáo truyền thống đã đặt câu hỏi về sự khôn ngoan của việc tổ chức các sự kiện đối thoại cao cấp bên trong một đền thờ Hồi giáo lớn trong khi các Kitô hữu đang phải đối mặt với sự đàn áp trên khắp thế giới Hồi giáo.
Những nhà quan sát đáng chú ý đã chỉ ra sự bất đối xứng: Các nhà lãnh đạo Công Giáo thường xuyên thể hiện những cử chỉ huynh đệ bên trong các thể chế Hồi giáo, trong khi việc tiếp cận hoặc sự tương hỗ mang tính biểu tượng tương tự đối với việc thờ phượng của người Kitô giáo ở nhiều khu vực đa số theo đạo Hồi vẫn bị hạn chế hoặc không thể thực hiện được.
Source:Catholic Herald
Giáo Hội Công Giáo Mexico huy động lực lượng phản đối dự luật an tử
Đặng Tự Do
17:40 06/05/2026
Giáo Hội Công Giáo Mexico đang huy động sự phản đối đối với dự luật an tử đang được ủng hộ mạnh mẽ tại Thượng viện nước này, khi các nhà lập pháp, nhà hoạt động và lãnh đạo Giáo hội xung đột về vấn đề chăm sóc cuối đời sau cuộc tranh luận mới vào tháng 4 năm 2026.
Ít nhất 2.000 người biểu tình đã tập trung tại Thành phố Mexico vào ngày 25 tháng 4 cho cuộc Tuần hành vì Sự sống thường niên, nơi những người tham gia phản đối cả di sản của việc phi hình sự hóa phá thai ở thủ đô và viễn cảnh hợp pháp hóa an tử. Tổng giáo phận Thành phố Mexico đã kêu gọi các tín hữu Công Giáo tham dự, cảnh báo trong một bài xã luận rằng “phá thai, an tử và tự sát là những tai họa tấn công nhân loại dưới vỏ bọc là những lựa chọn hợp lý khi đối mặt với đau khổ”, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải có lòng thương xót đối với những người đang gặp khó khăn.
Nỗ lực lập pháp hiện tại tập trung vào dự luật do nhà hoạt động Samara Martínez đệ trình. Bà mắc nhiều bệnh nan y và đã trải qua hai ca ghép thận thất bại. Đề xuất của bà, thu hút sự ủng hộ của hơn 128.000 công dân và 2.000 chuyên gia chăm sóc sức khỏe, sẽ cho phép an tử trong điều kiện được quy định, yêu cầu sự chấp thuận từ cả thành viên gia đình và ủy ban đạo đức sinh học. Dự luật cũng quy định việc tiếp tục cung cấp chăm sóc giảm nhẹ song song với bất kỳ thủ tục được cho phép nào.
Sự ủng hộ đối với biện pháp này dường như đang ngày càng tăng trong giới lập pháp. Thượng Nghị Sĩ Emmanuel Reyes Carmona thuộc đảng cầm quyền Morena cho biết hầu hết các đồng nghiệp của ông đều ủng hộ dự luật, dẫn chứng nghiên cứu cho thấy có tới 70% người Mexico ủng hộ việc trợ tử về nguyên tắc.
Tuy nhiên, các đại diện của Giáo hội lại phản bác đánh giá đó và cho rằng truyền thống văn hóa và gia đình của Mexico vẫn kiên quyết phản đối việc này. Cha Alejandro Álvarez, thuộc Bộ Mục vụ Quốc gia về Sự sống, cho biết cấu trúc xã hội của đất nước bắt nguồn từ việc chăm sóc người già và người bệnh, và khẳng định rằng Giáo hội sẽ tiếp tục bảo vệ sự sống đồng thời thúc đẩy các giải pháp thay thế như chăm sóc giảm nhẹ.
Các nhà vận động chăm sóc sức khỏe Công Giáo cũng bày tỏ lo ngại về tình trạng chăm sóc cuối đời ở Mexico. Sơ Susana Lúa, một bác sĩ và chuyên gia chăm sóc giảm nhẹ ở Guadalajara, cho biết hiện chỉ có khoảng 1,5% những người cần được tiếp cận với các dịch vụ này. Bà lập luận rằng việc kiểm soát cơn đau và hỗ trợ không đầy đủ có thể khiến bệnh nhân cân nhắc đến việc an tử, đồng thời lưu ý rằng nhiều người ban đầu yêu cầu điều này đã thay đổi ý định sau khi được chăm sóc đúng cách.
Cuộc tranh luận diễn ra sau nỗ lực bất thành trong việc hợp pháp hóa an tử ở Mexico năm 2023 và theo xu hướng rộng hơn trong khu vực, với việc hợp pháp hóa tự sát có hỗ trợ ở Colombia năm 2022 và an tử được chấp thuận ở Ecuador năm 2024. Mặc dù chưa có cuộc bỏ phiếu nào được lên lịch, nhưng động lực lập pháp mới cho thấy vấn đề này sẽ vẫn là tâm điểm của các cuộc tranh luận chính trị và đạo đức trong những tháng tới.
Source:Catholic Herald
Các giám mục Anh giáo bội giáo đã tạo điều kiện cho việc ban hành Đạo luật phá thai
Đặng Tự Do
17:41 06/05/2026
Đầu năm nay, Thượng viện đã tranh luận về một sửa đổi đối với Dự luật Tội phạm và Cảnh sát, theo đó sẽ ngăn chặn việc hợp pháp hóa hoàn toàn việc phá thai tự nguyện. Đáng khen là, Tổng Giám Mục Canterbury đã phát biểu ủng hộ sửa đổi này, và bà cùng chín giám mục khác có mặt đã bỏ phiếu tán thành. Điều này thật tốt. Tuy nhiên, quá ít người nhớ rằng các vị giám mục tiền nhiệm của bà đã đóng vai trò lớn trong việc soạn thảo và thông qua Đạo luật Phá thai ngay từ đầu, và do đó đã góp phần tạo nên thực trạng kinh hoàng, đen tối hiện nay, nơi chúng ta giết chết một phần ba số trẻ em trong bụng mẹ. Một số sự thật từ hồ sơ công khai cho thấy cần được xem xét ở đây, và hy vọng rằng điều này có thể thúc đẩy – hoặc thậm chí là khiến – Nữ Tổng Giám Mục và các đồng nghiệp của bà có lập trường kiên quyết hơn về vấn đề này.
Chiến dịch vận động nghị viện cho việc hợp pháp hóa phá thai bắt đầu với hai dự luật được đệ trình tại Hạ viện vào năm 1961 và 1965, nhưng cả hai đều thất bại trước khi đến Thượng viện. Dự luật phá thai đầu tiên được trình lên các giám mục và các đồng nghiệp thế tục của họ là Dự luật Phá thai năm 1965 của Lord Silkin, đề xuất cho phép phá thai dựa trên các lý do như “nguy cơ nghiêm trọng” gây “tổn thương nghiêm trọng” đến sức khỏe tinh thần hoặc thể chất của người mẹ; nguy cơ dị tật; người mẹ không đủ khả năng nuôi con; hoặc nếu người mẹ mang thai khi chưa đủ 16 tuổi, hoặc do bị cưỡng hiếp.
Hai giám mục đã phát biểu trong lần đọc thứ hai của dự luật này. Đầu tiên, Giám mục Southwark, Mervyn Stockwood, đã “lên án” những nỗ lực nhằm phá hoại dự luật và ca ngợi nỗ lực của tác giả trong việc giải quyết vấn đề phá thai một cách “thông minh, phù hợp với một xã hội trưởng thành”. Sau đó, Giám mục Exeter, Robert Mortimer – từng là Giáo sư danh dự về Thần học Luân lý và Mục vụ tại Oxford – cũng phát biểu, lập luận rằng “Có thể nói rằng thai nhi, đứa trẻ chưa sinh, không phải là một thành viên của loài người theo nghĩa thông thường của những từ đó, nhưng nó có tiềm năng trở thành như vậy… Trong trường hợp có mối đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe thể chất hoặc sức khỏe tinh thần của đứa trẻ, chúng tôi cho rằng phá thai có thể là hợp pháp.” Nếu chúng ta nhớ rằng phần lớn trong số khoảng 250.000 ca phá thai hàng năm ở Anh hiện nay được thực hiện vì lý do “sức khỏe tâm thần”, chúng ta sẽ có lý do để nghi ngờ lập luận lộn xộn, mang hơi hướng triết học Thomistic này.
Kết thúc cuộc tranh luận lần đọc thứ hai, các giám mục đã bỏ phiếu với tỷ lệ ba phiếu thuận và không có phiếu chống để dự luật được chuyển sang giai đoạn ủy ban, cùng với sáu mươi bốn quý tộc thế tục không theo Công Giáo trong nhóm vận động “Nội dung”. Chỉ có tám Thượng Nghị Sĩ bỏ phiếu chống lại dự luật, bảy trong số đó là người Công Giáo. Một trong số đó là Nam tước Vaux thứ 9 của Harrowden, được biết đến nhiều hơn với tên gọi Linh mục Dom Gabriel Gilbey OSB của Tu viện Ampleforth. Trong suốt các cuộc tranh luận của Thượng viện về vấn đề phá thai, các bài phát biểu của ngài đã bảo đảm rằng Thượng viện được nghe ít nhất một tiếng nói chân chính của giới linh mục (“Dự luật mở ra viễn cảnh tàn sát hàng loạt trẻ sơ sinh… đừng thêm tiếng nói của các vị vào tiếng nói của kẻ cám dỗ nguyên thủy bằng cách nói với toàn bộ giới y khoa: “Các bạn sẽ có quyền hạn như thần thánh”.”).
Những lời cảnh báo của Dom Gabriel đã không được lắng nghe, và dự luật năm 1965 này đã được đưa vào giai đoạn ủy ban. Tại đó, các giám mục của Exeter và Southwark đã bày tỏ sự ủng hộ thận trọng đối với việc phá thai dựa trên lý do dị tật thai nhi. Giám mục Southwark nói về chuyến thăm của ông đến một khu dành cho trẻ em bị dị tật nghiêm trọng: “Việc chúng có phải là con người hay không là một vấn đề thần học vượt quá sự hiểu biết của tôi. Tất cả những gì tôi có thể nói là nếu có thể biết trước rằng người ta có thể ngăn chặn sự ra đời của những đứa trẻ đó, tôi chắc chắn rằng người ta nên ngăn chặn điều đó.” Giám mục Leicester có quan điểm thẳng thắn hơn: ông tuyên bố sẵn sàng ủng hộ điều khoản cho phép phá thai trong trường hợp dị tật, theo lời ông, “có nhiều khả năng xảy ra hơn là không”.
Các giám mục của Southwark và Leicester cũng đã bỏ phiếu giữ lại điều khoản trong dự luật của Lord Silkin, theo đó việc thụ thai trước 16 tuổi sẽ tự động được coi là lý do để phá thai. Về những trường hợp như vậy, Leicester nói: “Cho dù chúng ta phá thai hay nhận con nuôi, trong cả hai trường hợp có lẽ đều sẽ có một số trải nghiệm đau thương, nhưng đối với tôi, tôi cảm thấy rằng quá trình ngắn hơn có nhiều khả năng mang lại lợi ích hơn, hoặc ít nhất là không gây hại bằng, quá trình dài hơn.”
Thượng viện đã gửi dự luật của Lord Silkin đến Hạ viện vào tháng 3 năm 1966, ngay trước khi Quốc hội giải tán, và Hạ viện không có thời gian để xem xét. Tuy nhiên, trong cuộc tranh luận về lần đọc thứ hai vào tháng 11 năm 1965, giám mục Exeter đã đưa ra một đề xuất rất quan trọng. Ông nói rằng Giáo hội Anh đã soạn thảo một dự luật về phá thai; liệu Lord Silkin có xem xét việc yêu cầu một số giám mục giúp ông đưa ra một dự luật mới theo hướng đó hay không?
Exeter đang đề cập đến dự thảo luật được nêu trong báo cáo “Phá thai: Một cuộc thảo luận về đạo đức”, do Ủy ban Trách nhiệm Xã hội của Giáo hội Anh vừa công bố. Báo cáo này, được viết bởi một nhóm gồm mười nhà đạo đức học và bác sĩ y khoa, trong đó có bốn người thuộc dòng tu Anh giáo, khuyến nghị cho phép phá thai trong trường hợp “đe dọa nghiêm trọng” đến “sức khỏe thể chất và tinh thần” của người mẹ. Mối đe dọa này sẽ được đánh giá dựa trên “môi trường tổng thể” của người mẹ, bao gồm các yếu tố như số con, tình hình tài chính và những yếu tố tương tự. Báo cáo và dự thảo luật kèm theo đã ảnh hưởng rất lớn đến những nỗ lực của quốc hội dẫn đến Đạo luật Phá thai năm 1967, và nhiều từ ngữ trong báo cáo này vẫn còn vang vọng trong đạo luật đó.
Trở lại với Thượng viện năm 1966: Dự luật đầu tiên của Lord Silkin đã hết thời hạn nghị viện vào tháng 3 năm đó. Một tháng sau, trong kỳ họp Quốc hội tiếp theo, ông đã trình một dự luật mới, sao chép văn bản cuối cùng của dự luật đầu tiên sau khi được Thượng viện sửa đổi và thông qua. Dự luật này cũng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các Thượng Nghị Sĩ tinh thần, điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì họ đã đóng góp rất nhiều vào việc định hình phiên bản trước đó.
Tuy nhiên, dự luật thứ hai của Lord Silkin cũng không được thông qua tại Hạ viện. Dự luật tiếp theo, dự luật năm 1967, là dự luật được thông qua thành luật, trở thành Đạo luật Phá thai năm 1967. Nó bắt đầu tại Hạ viện, nơi nó được David Steel giới thiệu. Sau khi được thông qua tại Hạ viện, nó nhanh chóng được xem xét tại Thượng viện. Ở dạng cuối cùng, nó cho phép phá thai khi hai bác sĩ đồng ý rằng:
(a) việc tiếp tục thai kỳ sẽ gây ra rủi ro đến tính mạng của người phụ nữ mang thai, hoặc gây tổn hại đến sức khỏe thể chất hoặc tinh thần của người phụ nữ mang thai hoặc bất kỳ đứa con nào hiện có trong gia đình cô ấy, lớn hơn so với việc chấm dứt thai kỳ; hoặc
(b) 'có nguy cơ đáng kể là nếu đứa trẻ được sinh ra sẽ mắc phải những dị tật về thể chất hoặc tinh thần đến mức bị khuyết tật nghiêm trọng'.
Như Lord Vaux đã nhận xét, trên thực tế, điều này sẽ sớm trở thành giấy phép cho việc phá thai theo yêu cầu.
Vào giai đoạn cuối của quá trình thông qua dự luật tại Thượng viện, các giám mục đã bỏ phiếu bốn phiếu chống lại một sửa đổi mang tính hủy hoại. Vào thời điểm đó, Ian Ramsey, người từng là Giáo sư Nolloth về Triết học Tôn giáo Kitô tại Oxford và đồng tác giả của cuốn sách “Phá thai: Một cuộc thảo luận về đạo đức”, đang là giám mục của Durham tại Thượng viện. Trong cuộc tranh luận về dự luật đã được thông qua, ông nói về bào thai người: “Tôi không nói về sự sống của nó; tôi nghĩ rằng về mặt ngữ nghĩa, điều đó cũng tai tiếng và có vấn đề như bất cứ điều gì khác.”
Với thái độ như vậy của Giáo hội Anh, vốn thực tế đã soạn thảo một phần không nhỏ của đạo luật này, Đạo luật Phá thai năm 1967 đã được Thượng viện thông qua và trở thành luật. Giờ đây, sau 58 năm, khoảng một phần tư triệu ca phá thai được thực hiện ở Anh mỗi năm theo chính đạo luật đó. Ngày nay, các giám mục Anh giáo thường tránh nói về vấn đề phá thai, vì họ sợ làm phật lòng phe Tin Lành bảo thủ đang rất mạnh mẽ trong Giáo hội Anh, phe đã ủng hộ phong trào bảo vệ sự sống vào cuối những năm 1970 và hiện đang hết sức kiên định với nó. Nhưng sự im lặng của các giám mục ngày nay không nên khiến chúng ta quên rằng các giám mục của những năm 1960 đã xây dựng, ủng hộ và bỏ phiếu cho chính đạo luật đã cho phép nền văn minh của chúng ta tự hủy diệt bằng một cuộc diệt chủng do chính mình gây ra. Vào thời điểm đó, khi người ta biết rất ít về phá thai và những ảnh hưởng của nó, chỉ có các vị giám mục Công Giáo – những nô lệ mù quáng của giáo điều trong mắt người Anh giáo – mới có tầm nhìn để thấy trước thảm họa.
Bài phát biểu và lá phiếu của Tổng Giám Mục Canterbury vào ngày 18 tháng 3 đáng được khen ngợi. Câu hỏi đặt ra là liệu Giáo hội Anh có thể đưa ra những nhận định sáng suốt về vấn đề phá thai ngày nay theo cách mà họ đã hoàn toàn thất bại vào những năm 1960 hay không?
Source:Catholic Herald
Lời thú nhận của một nhà văn Công Giáo
Vũ Văn An
17:47 06/05/2026
Giáo sư Nhà Văn Robert Royal, trên bản tin Thứ Tư, ngày 6 tháng 5 năm 2026 của Catholic Thing, cho biết: Gần đây có người hỏi tôi cảm giác làm một nhà văn Công Giáo ngày nay như thế nào. Điều đó khiến tôi sững lại. Bởi vì tình cảnh của một nhà văn Công Giáo hiện nay khá giống với bất cứ người Công Giáo nào khác – tất cả chúng ta đều hoang mang trước nhiều điều dường như đã vượt quá tầm hiểu biết và hành động lý trí của con người. Ngoại trừ, tình hình còn tồi tệ hơn đối với nhà văn vì anh ta phải đặt ra những con chữ để cố gắng hiểu không chỉ những bí ẩn sâu xa và những tranh cãi đạo đức, mà còn cả mối liên hệ của chúng với sự hỗn loạn hiện tại của chúng ta. Điều tốt nhất anh ta có thể làm khi đối diện với một tờ giấy trắng – hoặc thường xuyên hơn là một màn hình trống – là cầu xin Lòng Thương Xót của Chúa ban xuống vài câu văn hay ho có thể lan tỏa một tia hy vọng giữa bóng tối và tiếng ồn ào.
Thời đại của chúng ta được đánh dấu bởi điều mà triết gia Paul Ricoeur gọi là “phương pháp giải thích dựa trên sự nghi ngờ” – về mọi thứ, cả trong Giáo hội và trên thế giới. Điều đó không hoàn toàn sai lầm, miễn là nó không trở thành lăng kính duy nhất mà chúng ta nhìn thế giới. Nhưng mạng xã hội còn có thêm tác động là thổi phồng những nghi ngờ và xung đột đến mức thường xuyên trở nên cuồng loạn. Trên những “nền tảng” như vậy, mọi sự kiện đều trở thành hoặc là ngày tận thế cuối cùng của vũ trụ – hoặc là “sự tuôn đổ mới của Chúa Thánh Thần”.
Một nhà văn Công Giáo phải nói lên sự thật mà mình có thể, một cách tỉnh táo, không sợ hãi hay thiên vị, trước tất cả những điều đó, mà không làm tăng thêm sự cuồng loạn hay tuyệt vọng. Nhưng với bản chất của truyền thông hiện đại, tất cả chúng ta đều đang chênh vênh trên một biển cả đầy những sự thật chưa được hiểu rõ, những kết luận vội vàng, và do đó là sự không chắc chắn về những vấn đề nghiêm trọng cần sự thận trọng, suy gẫm và phán đoán có cân nhắc – một sự khổ hạnh trong cách dùng từ.
Theo kinh nghiệm của tôi?
Tôi đã có mặt trực tiếp tại Rome trong hầu hết mọi sự kiện gây tranh cãi của Giáo hội kể từ khi Đứv Giáo hoàng Phanxicô được bầu chọn năm 2013. Có một số điều về hơn mười năm qua mà tôi khá chắc chắn giữa rất nhiều khoảng trống và sự mơ hồ lớn. (Khi cuốn sách "Giáo hoàng độc tài" của nhà sử học nổi tiếng Henry Sire về Đức Phanxicô xuất hiện năm 2018, tôi nghĩ ông ấy đã nắm được câu chuyện cơ bản ít nhất 75% là đúng. Và tôi vẫn nghĩ vậy.)
Nhưng thường xuyên hơn, đặc biệt là trong các bình luận lan truyền trên mạng xã hội, tôi thấy mọi người đoán mò, thường là sai lầm, và nhìn thấy những động cơ nham hiểm – thậm chí là âm mưu – trong khi sự thiếu hiểu biết, lười biếng và bất tài của người Rô-ma thường đủ để giải thích.
Giáo hoàng là một chế độ quân chủ không cha truyền con nối với tỷ lệ không cân xứng của những âm mưu trong cung điện. Rõ ràng cũng đã có những nỗ lực đảo chính dị giáo trong những năm gần đây mà phần lớn đã thất bại do tính chất trống rỗng vốn có của chúng. (Xem phần: “tính đồng nghị.”)

Sự loại suy gần nhất với tất cả những điều này là những gì George Orwell, người nói lên sự thật đầy trăn trở, đã nói về Nội chiến Tây Ban Nha (mà ông đã trực tiếp đưa tin với tư cách là phóng viên). Điều này thậm chí còn đúng hơn với nhiều tranh chấp trong thời đại truyền thông xã hội của chúng ta:
Tôi đã thấy những bài báo không hề liên quan đến sự thật, thậm chí cả mối liên hệ được ngụ ý trong một lời nói dối thông thường. Tôi đã thấy những trận đánh lớn được đưa tin trong khi thực tế không hề có giao tranh, và sự im lặng hoàn toàn trong khi hàng trăm người đã thiệt mạng. Tôi đã thấy những binh lính chiến đấu dũng cảm bị tố cáo là hèn nhát và phản bội, và những người khác chưa từng thấy một phát súng nào được bắn ra lại được ca ngợi là anh hùng của những chiến thắng tưởng tượng, và tôi đã thấy các tờ báo ở London lan truyền những lời nói dối này và những trí thức hăng hái xây dựng những cấu trúc cảm xúc về những sự kiện chưa từng xảy ra. (“Nhìn lại Chiến tranh Tây Ban Nha”)
Hầu hết những điều này, cả bây giờ lẫn trước đây, rõ ràng là sản phẩm của việc các nhà báo và trí thức muốn bày tỏ cảm xúc mãnh liệt và nói lên điều gì đó có ý nghĩa về những gì họ cho là một vấn đề đạo đức hoặc chính trị cấp tiến – nhưng một cách trừu tượng, chứ không phải dựa trên những gì đang diễn ra, có thể kiểm chứng được. Hầu hết thời gian, một vài sự kiện thực tế được biến tấu thành một câu chuyện “tin tức” hoặc bài bình luận, nhưng sau đó lại được gắn liền với một “tường thuật” lớn lao nào đó mà, ở mức tốt nhất, chỉ được liên kết lỏng lẻo với thực tại.
Ngày nay, mọi người cũng thường xuyên đưa ra những phán xét khắc nghiệt về người khác trên mạng, từ xa – vị giáo hoàng người Argentina của chúng ta là một bậc thầy trong việc phân tích tâm lý các linh mục và giáo dân truyền thống mà ngài chưa từng gặp – điều mà họ sẽ không bao giờ làm với những người mà họ thực sự biết, bởi vì rất khó để thực sự hiểu một người khác, thậm chí là chính mình.
Có một vấn đề liên quan đến việc đưa tin cơ bản, đặc biệt là khi các trường báo chí khuyến khích hoạt động tiến bộ hơn là chỉ kể lại câu chuyện. Nhà bác học vĩ đại quá cố Michael Crichton đã đặt ra một thuật ngữ cho điều này: “Hiệu ứng mất trí nhớ Gell-Mann”.
Nếu bạn cầm một tờ báo hoặc tạp chí (thậm chí là một số bài đăng trên mạng xã hội) và đọc về một chủ đề mà bạn thực sự am hiểu, bạn thường sẽ thấy rằng người viết đã mắc nhiều sai lầm, thậm chí viết ngược, do cách tiếp cận vội vàng, hời hợt hoặc thiên vị. Bạn bỏ qua nó. Nhưng rồi bạn lại chuyển sang một bài viết khác... Bạn đọc một bài báo khác trên cùng một ấn phẩm về một chủ đề mà bạn không quen thuộc. Bạn ngay lập tức quên mất (vì vậy mới gọi là "Chứng mất trí nhớ") rằng hầu hết các nhà văn đều dễ mắc sai lầm và chấp nhận bài báo mới đó là đáng tin cậy và cung cấp nhiều thông tin.
Không có gì lạ khi hầu hết chúng ta hiện nay đang mang trong đầu một lượng lớn những điều sai trái, vô nghĩa và những đam mê sai hướng, tất cả là nhờ "kỹ thuật thông tin". Và trí tuệ nhân tạo (AI) thậm chí còn làm cho mọi thứ tồi tệ hơn.
Vậy phải làm gì? Khó nói, nhưng đây là lời của Đức Benedict XVI, khi ngài nói chuyện với nhóm học trò cũ của mình (Schülerkreis) về "Làm thế nào chúng ta có thể nói về Chúa ngày nay?"
Không ai có thể sở hữu chân lý. Chính chân lý sở hữu chúng ta, nó là một thực thể sống! Chúng ta không sở hữu nó mà bị nó nắm giữ. Chỉ khi nào chúng ta cho phép bản thân được chân lý dẫn dắt và lay động, chúng ta mới ở trong nó. Chỉ khi nào chúng ta, cùng với nó và trong nó, là những người hành hương của chân lý, thì nó mới ở trong chúng ta và dành cho chúng ta. Tôi nghĩ chúng ta cần học lại về việc “không có được chân lý”. Chúng ta phải học cách để được nó lay động và dẫn dắt. Và rồi nó sẽ tỏa sáng trở lại: nếu chính chân lý dẫn dắt và thấm nhuần vào chúng ta.
Lời khuyên hay cho mọi người, đặc biệt là các nhà văn Công Giáo.
Trong buổi tiếp kiến Đức Giáo Hoàng khẳng khái: Giáo Hội có sứ mệnh lên tiếng chống lại mọi điều bóp ngạt sự sống
Thanh Quảng sdb
18:21 06/05/2026
Trong buổi tiếp kiến Đức Giáo Hoàng khẳng khái: 'Giáo Hội có sứ mệnh lên tiếng chống lại mọi điều bóp ngạt sự sống'

Trong buổi tiếp kiến chung, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV suy niệm về chiều kích cánh chung của Giáo Hội như được trình bày trong 'Lumen gentium', và trong bối cảnh này, Ngài nhắc lại rằng Chúa Giêsu đã giao cho Giáo Hội sứ mệnh dẫn dắt các tín hữu đến ơn cứu độ, và do đó Giáo Hội đã được 'trao cho sứ mệnh lên tiếng rõ ràng để bác bỏ mọi điều bóp ngạt sự sống và ngăn cản sự phát triển của nó' và 'lên án điều ác dưới mọi hình thức'.
(Tin Vatican - Deborah Castellano Lubov)
"Giáo hội là dân Chúa lữ hành trên trần gian, dựa chính vào lời hứa cuối cùng, đọc và diễn giải động lực của lịch sử qua Tin Mừng, tố cáo điều ác dưới mọi hình thức và loan báo bằng lời nói và việc làm ơn cứu độ mà Chúa Kitô muốn mang đến cho toàn thể nhân loại và Nước Chúa..."
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã nhấn mạnh điều này trong buổi tiếp kiến chung hàng tuần vào sáng thứ Tư tại Vatican khi ngài tiếp tục suy niệm về Hiến chương Giáo hội Lumen gentium của Công đồng Vatican II, tuần này suy niệm về chiều kích cánh chung được thảo luận trong Chương VII.
ĐỌC TOÀN BỘ BÀI PHÁT BIỂU CỦA Đức Giáo Hoàng LÊÔ
Đức Thánh Cha nhắc nhở các tín hữu rằng Giáo hội luôn hướng về đích đến cuối cùng của mình, đó là quê hương trên trời, nhưng ngài than thở rằng chúng ta thường bỏ qua hoặc xem nhẹ chiều kích thiết yếu này.
Ngài nói rằng điều thường xảy ra "vì chúng ta quá tập trung vào những gì có thể nhìn thấy ngay lập tức và vào những động lực cụ thể hơn của đời sống cộng đồng Kitô giáo."
Đức Giáo Hoàng Lêô nhấn mạnh rằng, Nước Thiên Chúa là mục đích của mọi hành động của Giáo Hội.
Ngài nói: "Giáo Hội không tự xưng mình; trái lại, mọi thứ trong Giáo Hội phải hướng đến ơn cứu độ trong Chúa Kitô."
Lên tiếng rõ ràng để bác bỏ mọi điều làm bóp ngạt sự sống
"Là người bảo vệ niềm hy vọng soi sáng con đường," Đức Giáo Hoàng Lêô nhắc lại, "Giáo Hội cũng được giao sứ mệnh lên tiếng rõ ràng để bác bỏ mọi điều làm bóp ngạt sự sống và cản trở sự phát triển của nó, và để đứng về phía người nghèo, người bị bóc lột, nạn nhân của bạo lực và chiến tranh, và tất cả những người đau khổ về thể xác và tinh thần."
"Từ góc nhìn này," Đức Giáo Hoàng Lêô nhấn mạnh, "Giáo Hội được mời gọi khiêm nhường nhận ra sự yếu đuối và phù du của chính các thể chế của mình, mặc dù phục vụ Nước Thiên Chúa, nhưng lại mang than phận phù du của thế gian này."
Đức Giáo Hoàng nói: "Không một thể chế Giáo hội nào có thể được coi là tuyệt đối; thực tế, vì chúng tồn tại trong lịch sử và thời gian, nên chúng được kêu gọi đến sự hoán cải liên tục, đến việc đổi mới hình thức và cải cách cấu trúc, đến việc tái tạo liên tục các mối quan hệ, để chúng có thể thực sự hoàn thành sứ mệnh của mình."
Chúa Giêsu đã công bố Nước Trời
"Chúa Giêsu đã khởi xướng Giáo Hội chính bằng việc công bố Nước Trời của tình yêu thương, công lý và hòa bình," và do đó, Đức Giáo Hoàng nói, "Vì vậy, chúng ta được mời gọi suy ngẫm về chiều kích cộng đồng và vũ trụ của ơn cứu độ trong Chúa Kitô và hướng mắt về chân trời cuối cùng này, để đo lường và đánh giá mọi thứ từ góc độ này."
Vì Giáo Hội sống trong lịch sử để phục vụ cho sự đến của Nước Thiên Chúa trong thế giới, Đức Giáo Hoàng Lêô giải thích rằng theo đó, "Giáo Hội công bố những lời của lời hứa này cho tất cả mọi người và luôn luôn nhận được sự bảo chứng của nó trong việc cử hành các Bí tích, đặc biệt là Thánh Thể, và áp dụng logic của nó vào thực tiễn."
Hơn nữa, ngài nói thêm rằng Giáo Hội biết rằng Giáo Hội là "nơi chốn và phương tiện để sự hiệp nhất với Chúa Kitô được hiện thực hóa 'gần gũi hơn', đồng thời nhận ra rằng ơn cứu độ có thể được Thiên Chúa ban trong Chúa Thánh Thần ngay cả vượt ra ngoài ranh giới hữu hình của Giáo Hội."
Sự viên mãn của đời sống và bình an do Thiên Chúa ban tặng
Về vấn đề này, Đức Giáo Hoàng nói, thông điệp Lumen gentium đưa ra một tuyên bố quan trọng, đó là: "Giáo Hội là 'bí tích cứu độ phổ quát', nghĩa là dấu hiệu và công cụ của sự viên mãn của đời sống và bình an do Thiên Chúa ban tặng."
Điều này có nghĩa là, Đức Giáo Hoàng Lêô giải thích, Giáo Hội "không hoàn toàn đồng nhất với Nước Thiên Chúa, nhưng là hạt giống và khởi đầu của Nước Thiên Chúa," vì sự viên mãn của Nước Thiên Chúa sẽ chỉ được ban cho nhân loại và vũ trụ vào cuối thời kỳ.
"Vì vậy," Đức Giáo Hoàng khuyến khích, "các tín hữu của Chúa Kitô bước đi trong lịch sử trần gian này, được đánh dấu bởi sự trưởng thành của điều thiện nhưng cũng bởi những bất công và đau khổ, mà không bị lừa dối hay tuyệt vọng; họ sống được hướng dẫn bởi lời hứa nhận được từ Đấng sẽ 'làm cho mọi sự trở nên mới'."
Trong bối cảnh này, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng Giáo Hội thực hiện sứ mệnh của mình giữa "điều đã xảy ra" của sự khởi đầu Nước Thiên Chúa trong Chúa Giêsu, và "điều chưa xảy ra" của sự viên mãn đã được hứa hẹn và mong đợi.
“Tất cả các Kitô hữu hợp thành một Giáo Hội duy nhất”
Đức Giáo Hoàng Lêô cũng kêu gọi các tín hữu hiểu rõ mối quan hệ giữa các Kitô hữu đang thực hiện sứ mệnh của mình ngày nay và những người đã hoàn thành cuộc sống trần thế và đang ở trong trạng thái thanh tẩy hoặc hạnh phúc.
VÌ vậy “Lumen gentium” Đức Thánh Cha nhắc lại, “khẳng định rằng tất cả các Kitô hữu hợp thành một Giáo Hội duy nhất, rằng có sự hiệp thông và chia sẻ các ơn lành thiêng liêng được xây dựng trên sự kết hợp với Chúa Kitô của tất cả các tín hữu, một tình nghĩa huynh (fraterna sollicitudo) giữa Giáo Hội trần gian và Giáo Hội trên trời: đó là sự hiệp thông các thánh được cảm nhận đặc biệt trong phụng vụ.”
“Bằng cách cầu nguyện cho những người đã khuất và noi theo bước chân của những người đã sống như những môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta cũng vậy,” Đức Giáo Hoàng nhắc nhở, “được nâng đỡ trên hành trình của mình và củng cố việc thờ phượng Thiên Chúa: được đánh dấu bởi một Chúa Thánh Thần và được hiệp nhất trong một phụng vụ, cùng với những người đã đi trước chúng ta trong đức tin, chúng ta ca ngợi và tôn vinh Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.”
Đức Giáo Hoàng Lêô kết luận: "Chúng ta hãy biết ơn các Nghị phụ Công đồng vì đã nhắc nhở chúng ta về khía cạnh quan trọng và tốt đẹp nhất của việc trở thành Kitô hữu, và chúng ta hãy cố gắng vun đắp điều đó trong cuộc sống của mình."

Trong buổi tiếp kiến chung, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV suy niệm về chiều kích cánh chung của Giáo Hội như được trình bày trong 'Lumen gentium', và trong bối cảnh này, Ngài nhắc lại rằng Chúa Giêsu đã giao cho Giáo Hội sứ mệnh dẫn dắt các tín hữu đến ơn cứu độ, và do đó Giáo Hội đã được 'trao cho sứ mệnh lên tiếng rõ ràng để bác bỏ mọi điều bóp ngạt sự sống và ngăn cản sự phát triển của nó' và 'lên án điều ác dưới mọi hình thức'.
(Tin Vatican - Deborah Castellano Lubov)
"Giáo hội là dân Chúa lữ hành trên trần gian, dựa chính vào lời hứa cuối cùng, đọc và diễn giải động lực của lịch sử qua Tin Mừng, tố cáo điều ác dưới mọi hình thức và loan báo bằng lời nói và việc làm ơn cứu độ mà Chúa Kitô muốn mang đến cho toàn thể nhân loại và Nước Chúa..."
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã nhấn mạnh điều này trong buổi tiếp kiến chung hàng tuần vào sáng thứ Tư tại Vatican khi ngài tiếp tục suy niệm về Hiến chương Giáo hội Lumen gentium của Công đồng Vatican II, tuần này suy niệm về chiều kích cánh chung được thảo luận trong Chương VII.
ĐỌC TOÀN BỘ BÀI PHÁT BIỂU CỦA Đức Giáo Hoàng LÊÔ
Đức Thánh Cha nhắc nhở các tín hữu rằng Giáo hội luôn hướng về đích đến cuối cùng của mình, đó là quê hương trên trời, nhưng ngài than thở rằng chúng ta thường bỏ qua hoặc xem nhẹ chiều kích thiết yếu này.
Ngài nói rằng điều thường xảy ra "vì chúng ta quá tập trung vào những gì có thể nhìn thấy ngay lập tức và vào những động lực cụ thể hơn của đời sống cộng đồng Kitô giáo."
Đức Giáo Hoàng Lêô nhấn mạnh rằng, Nước Thiên Chúa là mục đích của mọi hành động của Giáo Hội.
Ngài nói: "Giáo Hội không tự xưng mình; trái lại, mọi thứ trong Giáo Hội phải hướng đến ơn cứu độ trong Chúa Kitô."
Lên tiếng rõ ràng để bác bỏ mọi điều làm bóp ngạt sự sống
"Là người bảo vệ niềm hy vọng soi sáng con đường," Đức Giáo Hoàng Lêô nhắc lại, "Giáo Hội cũng được giao sứ mệnh lên tiếng rõ ràng để bác bỏ mọi điều làm bóp ngạt sự sống và cản trở sự phát triển của nó, và để đứng về phía người nghèo, người bị bóc lột, nạn nhân của bạo lực và chiến tranh, và tất cả những người đau khổ về thể xác và tinh thần."
"Từ góc nhìn này," Đức Giáo Hoàng Lêô nhấn mạnh, "Giáo Hội được mời gọi khiêm nhường nhận ra sự yếu đuối và phù du của chính các thể chế của mình, mặc dù phục vụ Nước Thiên Chúa, nhưng lại mang than phận phù du của thế gian này."
Đức Giáo Hoàng nói: "Không một thể chế Giáo hội nào có thể được coi là tuyệt đối; thực tế, vì chúng tồn tại trong lịch sử và thời gian, nên chúng được kêu gọi đến sự hoán cải liên tục, đến việc đổi mới hình thức và cải cách cấu trúc, đến việc tái tạo liên tục các mối quan hệ, để chúng có thể thực sự hoàn thành sứ mệnh của mình."
Chúa Giêsu đã công bố Nước Trời
"Chúa Giêsu đã khởi xướng Giáo Hội chính bằng việc công bố Nước Trời của tình yêu thương, công lý và hòa bình," và do đó, Đức Giáo Hoàng nói, "Vì vậy, chúng ta được mời gọi suy ngẫm về chiều kích cộng đồng và vũ trụ của ơn cứu độ trong Chúa Kitô và hướng mắt về chân trời cuối cùng này, để đo lường và đánh giá mọi thứ từ góc độ này."
Vì Giáo Hội sống trong lịch sử để phục vụ cho sự đến của Nước Thiên Chúa trong thế giới, Đức Giáo Hoàng Lêô giải thích rằng theo đó, "Giáo Hội công bố những lời của lời hứa này cho tất cả mọi người và luôn luôn nhận được sự bảo chứng của nó trong việc cử hành các Bí tích, đặc biệt là Thánh Thể, và áp dụng logic của nó vào thực tiễn."
Hơn nữa, ngài nói thêm rằng Giáo Hội biết rằng Giáo Hội là "nơi chốn và phương tiện để sự hiệp nhất với Chúa Kitô được hiện thực hóa 'gần gũi hơn', đồng thời nhận ra rằng ơn cứu độ có thể được Thiên Chúa ban trong Chúa Thánh Thần ngay cả vượt ra ngoài ranh giới hữu hình của Giáo Hội."
Sự viên mãn của đời sống và bình an do Thiên Chúa ban tặng
Về vấn đề này, Đức Giáo Hoàng nói, thông điệp Lumen gentium đưa ra một tuyên bố quan trọng, đó là: "Giáo Hội là 'bí tích cứu độ phổ quát', nghĩa là dấu hiệu và công cụ của sự viên mãn của đời sống và bình an do Thiên Chúa ban tặng."
Điều này có nghĩa là, Đức Giáo Hoàng Lêô giải thích, Giáo Hội "không hoàn toàn đồng nhất với Nước Thiên Chúa, nhưng là hạt giống và khởi đầu của Nước Thiên Chúa," vì sự viên mãn của Nước Thiên Chúa sẽ chỉ được ban cho nhân loại và vũ trụ vào cuối thời kỳ.
"Vì vậy," Đức Giáo Hoàng khuyến khích, "các tín hữu của Chúa Kitô bước đi trong lịch sử trần gian này, được đánh dấu bởi sự trưởng thành của điều thiện nhưng cũng bởi những bất công và đau khổ, mà không bị lừa dối hay tuyệt vọng; họ sống được hướng dẫn bởi lời hứa nhận được từ Đấng sẽ 'làm cho mọi sự trở nên mới'."
Trong bối cảnh này, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng Giáo Hội thực hiện sứ mệnh của mình giữa "điều đã xảy ra" của sự khởi đầu Nước Thiên Chúa trong Chúa Giêsu, và "điều chưa xảy ra" của sự viên mãn đã được hứa hẹn và mong đợi.
“Tất cả các Kitô hữu hợp thành một Giáo Hội duy nhất”
Đức Giáo Hoàng Lêô cũng kêu gọi các tín hữu hiểu rõ mối quan hệ giữa các Kitô hữu đang thực hiện sứ mệnh của mình ngày nay và những người đã hoàn thành cuộc sống trần thế và đang ở trong trạng thái thanh tẩy hoặc hạnh phúc.
VÌ vậy “Lumen gentium” Đức Thánh Cha nhắc lại, “khẳng định rằng tất cả các Kitô hữu hợp thành một Giáo Hội duy nhất, rằng có sự hiệp thông và chia sẻ các ơn lành thiêng liêng được xây dựng trên sự kết hợp với Chúa Kitô của tất cả các tín hữu, một tình nghĩa huynh (fraterna sollicitudo) giữa Giáo Hội trần gian và Giáo Hội trên trời: đó là sự hiệp thông các thánh được cảm nhận đặc biệt trong phụng vụ.”
“Bằng cách cầu nguyện cho những người đã khuất và noi theo bước chân của những người đã sống như những môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta cũng vậy,” Đức Giáo Hoàng nhắc nhở, “được nâng đỡ trên hành trình của mình và củng cố việc thờ phượng Thiên Chúa: được đánh dấu bởi một Chúa Thánh Thần và được hiệp nhất trong một phụng vụ, cùng với những người đã đi trước chúng ta trong đức tin, chúng ta ca ngợi và tôn vinh Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.”
Đức Giáo Hoàng Lêô kết luận: "Chúng ta hãy biết ơn các Nghị phụ Công đồng vì đã nhắc nhở chúng ta về khía cạnh quan trọng và tốt đẹp nhất của việc trở thành Kitô hữu, và chúng ta hãy cố gắng vun đắp điều đó trong cuộc sống của mình."
Văn Hóa
SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC, phần 1, chương 4
Vũ Văn An
18:22 06/05/2026
SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
Làm rõ sự thật và nguyên nhân
NHÀ XUẤT BẢN IGNATIUS PRESS SAN FRANCISCO
PHẦN I
Phân biệt sự thật và hư cấu
Chương 4. Những lầm tưởng về nguồn gốc vụ tai tiếng bị vạch trần
Có rất nhiều lầm tưởng về nguồn gốc của vụ lạm dụng tình dục trong giới giáo sĩ cần được vạch trần. Trước khi làm vậy, sẽ hữu ích nếu thảo luận về một quan niệm chính xác về chủ đề này.
Không ai hiểu rõ hơn Đức Giáo Hoàng hưu trí Bê-nê-đíc-tô XVI về lý do tại sao vụ tai tiếng lạm dụng tình dục trong giới giáo sĩ lại xảy ra. Tiểu luận dài năm 2019 của ngài về nguồn gốc của vụ lạm dụng tình dục trong giới giáo sĩ rất sáng suốt và dũng cảm. (1) Ngài đã chỉ ra cách các thế lực bên trong và bên ngoài Giáo hội cùng nhau tạo ra vấn đề, và ngài đã dũng cảm nói lên sự thật về những vấn đề mà ít người dám nói.
Ngài bắt đầu bằng cách đặt vụ tai tiếng trong bối cảnh xã hội. Ngài lưu ý rằng không thể hiểu tại sao vụ tai tiếng lại xảy ra nếu không đề cập đến ảnh hưởng của cuộc cách mạng tình dục, vốn đã tác động mạnh mẽ đến nền văn hóa thống trị và Giáo Hội Công Giáo như một cơn bão. Không phải ngẫu nhiên mà nạn lạm dụng tình dục phát triển mạnh bên trong Giáo hội khi các lễ hội tự do tình dục phát triển mạnh bên ngoài Giáo hội. Điều sau đã góp phần tạo tiền đề cho điều trước. Chính sự thắng thế của chủ nghĩa tương đối đạo đức—sự phủ nhận các giá trị đạo đức tuyệt đối—đã góp phần làm suy yếu Giáo hội.
Đức Bê-nê-đíc-tô đã chỉ ra một thực tế khắc nghiệt: sự bất đồng chính kiến trong Giáo hội lên đến đỉnh điểm cùng lúc vụ tai tiếng nổ ra. Thần học luân lý Công Giáo, vốn dựa trên luật tự nhiên, đã bị bỏ rơi để thay thế bằng một cách tiếp cận tương đối hơn, một cách tiếp cận phủ nhận sự tồn tại của cái ác nội tại. Điều này đã được giảng dạy trong các chủng viện vào thời điểm đó. Không chỉ vậy, sách của Đức Bê-nê-đíc-tô còn bị kiểm duyệt.
Khi phim khiêu dâm được chiếu cho các chủng sinh, và một nền văn hóa đồng tính không chỉ được dung thứ mà còn được khuyến khích, Đức Bê-nê-đíc-tô lưu ý, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng hành vi sai trái về tình dục gia tăng chóng mặt. Ngài viết: “Trong nhiều chủng viện, các nhóm đồng tính luyến ái đã được thành lập, hoạt động ít nhiều công khai và đã thay đổi đáng kể bầu không khí trong các chủng viện.” (2) Bầu không khí xuất hiện rất độc hại.
Về cơ bản, Đức Bê-nê-đíc-tô nhấn mạnh, vụ tai tiếng bắt nguồn từ một cuộc khủng hoảng đức tin. Khi sự tồn tại của Thiên Chúa bị nghi ngờ, và khi sự chắc chắn về mặt đạo đức tan biến—ngay cả đối với các nguyên tắc nền tảng—thì ý kiến đơn thuần trở thành chuẩn mực mới. Đây là một con dốc nguy hiểm; nó đã dẫn đến nhiều tội lỗi, bao gồm cả lạm dụng tình dục của các linh mục.
Đức Bê-nê-đíc-tô thừa nhận rằng Giáo hội ngày nay tốt hơn nhiều so với thời điểm đỉnh điểm của vụ tai tiếng. Cải cách có thể và nên được thực hiện, nhưng ngài cảnh báo chúng ta không nên sa vào sự dại dột khi cố gắng tái tạo lại Giáo hội. Thật vậy, ngài coi những đề xuất như vậy là công việc của ma quỷ. Ngài nói: “Ý tưởng về một Giáo hội tốt hơn, do chính chúng ta tạo ra, thực chất là một đề xuất của ma quỷ, mà nó muốn dùng để đưa chúng ta ra khỏi Thiên Chúa hằng sống.” (3)
Điều chúng ta cần, Đức Bê-nê-đíc-tô lập luận, là sự tôn trọng lớn hơn đối với Thánh Thể và việc thiết lập “môi trường sống của Đức Tin”. (4) Biện pháp khắc phục thích hợp đối với lạm dụng tình dục, hoặc bất cứ tai họa nào khác trong Giáo hội, không thể đạt được nếu thiếu sự đổi mới đức tin, dựa trên các chân lý đạo đức vĩnh cửu. Bất cứ điều gì khác đều sẽ không đạt được mục tiêu.
Đây không phải là lần đầu tiên Đức Bê-nê-đíc-tô nói về các mối đe dọa đối với Giáo hội đến từ bên trong. Ngày 11 tháng 5 năm 2010, sau chuyến bay đến Fatima, ngài đã nói với các nhà báo đi cùng điều chắc hẳn đã khiến họ kinh ngạc:
Chúa đã nói với chúng ta rằng Giáo hội sẽ liên tục chịu đau khổ, bằng nhiều cách khác nhau, cho đến tận cùng thế giới… Còn về những điều mới mẻ mà chúng ta có thể tìm thấy trong thông điệp [Fatima] ngày nay, đó là sự thật rằng các cuộc tấn công vào Đức Giáo Hoàng và Giáo hội không chỉ đến từ bên ngoài, mà những đau khổ của Giáo hội lại đến chính từ bên trong Giáo hội, từ tội lỗi tồn tại trong Giáo hội. Đây cũng là điều mà chúng ta luôn biết, nhưng ngày nay chúng ta đang thấy nó một cách thực sự đáng sợ: rằng sự bách hại lớn nhất đối với Giáo hội không đến từ kẻ thù bên ngoài, mà phát sinh từ tội lỗi bên trong Giáo hội, và do đó Giáo hội cần phải học lại sự sám hối, chấp nhận sự thanh tẩy, học cách tha thứ một mặt, nhưng cũng cần công lý mặt khác. Tha thứ không thay thế công lý. Nói tóm lại, chúng ta cần học lại chính xác điều thiết yếu này: sự hoán cải, cầu nguyện, sám hối và các nhân đức đối thần. (5)
Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI đã từ chức vào ngày 17 tháng 12 năm 2012, ngày ngài nhận được một hồ sơ dày ba trăm trang, gồm hai tập, được mô tả là “bản đồ chính xác về những hành vi sai trái và những kẻ xấu xa” bên trong Tòa Thánh. Báo cáo này, kết quả của cuộc điều tra kéo dài chín tháng do Hồng Y người Tây Ban Nha Julián Herranz tiến hành, với sự hỗ trợ của Hồng Y Salvatore De Giorgi, cựu tổng giám mục Palermo, và Hồng Y người Slovakia Jozef Tomko, đã nêu chi tiết về tống tiền, tham nhũng và quan hệ tình dục đồng tính tại Vatican. (6)
Những huyền thoại về các linh mục lạm dụng tình dục trẻ em
Không một phân tích nào về nguyên nhân của vụ tai tiếng lại bỏ qua cách giải thích được đưa ra bởi chính các linh mục lạm dụng tình dục.
David Finkelhor là một học giả được kính trọng về vấn nạn lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên. Ông nói rằng nhiều kẻ bạo hành trải qua "sự bất hòa nhận thức", một hiện tượng trong đó những suy nghĩ mâu thuẫn tạo ra một trạng thái khó chịu: nó đòi hỏi một kết quả vượt quá giới hạn cho phép. Nó làm giảm bớt căng thẳng, bằng cách này hay cách khác. Ví dụ, một số linh mục lạm dụng tình dục, biết rằng những gì họ đang làm là sai, có thể sẽ dừng lại. Những người khác có thể hợp lý hóa hành vi của họ, tự thuyết phục bản thân rằng họ đang thể hiện tình cảm, nếu không phải là tình yêu, đối với nạn nhân của họ. (7) Trên thực tế, những kẻ lạm dụng vô hiệu hóa hành vi săn mồi của họ bằng những lời bào chữa và biện minh cho phép họ tiếp tục. (8) Finkelhor tin chắc rằng nhiều kẻ lạm dụng “có hệ thống phủ nhận rất lớn” khiến việc điều trị trở nên khó khăn.
Ông khuyến nghị bỏ tù họ. (9)
Các nhà nghiên cứu của Đại học John Jay, trong nghiên cứu thứ hai về lạm dụng tình dục của giáo sĩ, đã phát hiện ra rằng các linh mục lạm dụng đã hợp lý hóa hành vi của họ bằng cách nói rằng họ đang tham gia vào một “mối quan hệ”, chứ không phải là một cuộc gặp gỡ tình dục. “Họ coi hành vi tình dục là có sự đồng thuận, không gây hại, và họ coi bất cứ hành vi nào không phải là giao hợp đều không sai vì đó không phải là tình dục.” (10) Một số kẻ lạm dụng nói rằng nạn nhân của họ “sẵn lòng” hoặc “sớm trưởng thành”, do đó làm chệch hướng trách nhiệm. Những người khác tự coi mình là nạn nhân vì những cáo buộc về sự không đứng đắn. (11) Tôi đã biết những linh mục như vậy, và họ để lại ấn tượng khá mạnh mẽ.
Những kẻ lạm dụng cũng thích đổ lỗi cho hành vi của mình là do rối loạn phát triển. Họ viện dẫn sự chưa trưởng thành về tình dục là nguyên nhân gây ra. (12) Như chúng ta sẽ thấy sau này, họ không sai khi đưa ra nhận xét này; chỉ là nó không thể được viện dẫn như một lời bào chữa cho hành vi của họ. Tương tự, việc viện dẫn lạm dụng rượu và ma túy là một thủ đoạn khác; hai vấn đề này đã gây rắc rối cho nhiều linh mục lạm dụng tình dục, nhưng chúng không phải là lý do để bào chữa. (13) Một cách phổ biến khác để chấm dứt sự bất hòa nhận thức là lên án hệ thống phẩm trật của Giáo hội—nói rằng các nhà lãnh đạo đã không giáo dục họ một cách đầy đủ. Nhưng điều này cũng né tránh trách nhiệm cá nhân đối với hành vi lạm dụng tình dục. (14)
Chức linh mục độc thân, nam giới
Nhiều người cả trong và ngoài Giáo hội đổ lỗi cho vấn đề lạm dụng tình dục của giáo sĩ là do chế độ độc thân. Nếu chế độ độc thân là nguyên nhân, tại sao hầu hết các linh mục không phải là những kẻ lạm dụng? Cha Greeley đã nắm bắt được điều này, nói rằng nếu 4% linh mục bị thúc đẩy đến lạm dụng tình dục vì luật độc thân, tại sao 96% còn lại không bị ảnh hưởng bởi quy định này của Giáo hội? (15) Các nhà nghiên cứu của Đại học John Jay cũng nhận thấy lỗ hổng trong lập luận về luật độc thân. “Từ thế kỷ thứ mười một đến nay, những người đàn ông được thụ phong trong chức linh mục Công Giáo Rô-ma đã từ bỏ hôn nhân và kiêng cữ mọi tiếp xúc tình dục với người khác.” Vì yêu cầu này không phải là mới, các nhà nghiên cứu đặt câu hỏi, tại sao luật độc thân lại được coi là nguyên nhân gây ra lạm dụng tình dục trong những năm mà nó phát triển mạnh?(16)
Những người ủng hộ lời giải thích về luật độc thân tin rằng nếu các linh mục có thể kết hôn, sẽ có ít lạm dụng tình dục hơn. Maggie Gallagher, một người am hiểu về hôn nhân và gia đình, đã thẳng thắn chỉ ra điểm yếu của lập trường này. “Như thể vợ là câu trả lời cho những ham muốn tình dục của những người đàn ông thích thú với các cậu bé vị thành niên.” (17) Bà ấy nói đúng. Hơn nữa, các linh mục dị tính cũng được kỳ vọng tuân thủ hạn chế độc thân, nhưng vai trò của họ trong vụ tai tiếng là rất nhỏ so với các linh mục đồng tính.
Một luận điểm liên quan cho rằng việc loại trừ phụ nữ khỏi chức linh mục giải thích vấn đề này. Vậy thì tại sao hầu hết các linh mục không phải là những kẻ lạm dụng? Jamie Manson, một nhà bất đồng chính kiến Công Giáo và nhà hoạt động vì quyền của người đồng tính, đã chỉ trích Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI vì đã phê phán văn hóa đồng tính trong các chủng viện, nói rằng “ông ấy chưa bao giờ nghĩ rằng việc loại trừ phụ nữ một cách triệt để khỏi chức vụ và thần học cực kỳ bài trừ đồng tính của ông ấy có thể đã góp phần vào hiện tượng đó.” (18) Nói cách khác, lệnh cấm của Giáo hội (không phải của Đức Bê-nê-đíc-tô) đối với nữ linh mục và giáo lý của Giáo hội về đồng tính luyến ái đã tạo ra một văn hóa đồng tính trong các chủng viện. Vậy thì tại sao văn hóa đồng tính lại phát triển mạnh khi các chuẩn mực tình dục không được thực thi? Tại sao nó không được chú ý vào những năm 1950? Và tại sao nó lại giảm đi bây giờ khi các chuẩn mực được tuân thủ trở lại? Việc thiếu vắng nữ linh mục không liên quan gì đến lý do tại sao nam giới đồng tính xuất hiện trong chức linh mục trong cuộc cách mạng tình dục.
Hơn nữa, có nhiều tôn giáo có giáo sĩ toàn nam giới—Giáo hội Mormon, các Giáo hội Chính thống giáo, Do Thái giáo Chính thống, thượng hội đồng Missouri của Giáo hội Lutherô, Hồi giáo và Hội nghị Baptist miền Nam—nhưng không ai đổ lỗi cho những vấn đề họ gặp phải là do những quy định nghiêm ngặt của việc thụ phong linh mục.
Cuộc tranh luận về vai trò được cho là của chế độ độc thân trong việc tạo ra vụ tai tiếng có tác dụng không may là làm giảm nhẹ lý do hiện hữu của nó. Hồng Y Robert Sarah nhắc nhở chúng ta lý do tại sao Giáo hội lại áp dụng chế độ này. Ngài viết: “Qua đời sống độc thân, một linh mục từ bỏ sự viên mãn về khả năng làm chồng và làm cha theo xác thịt. Vì tình yêu thương, ông chọn từ bỏ điều đó để sống hoàn toàn với tư cách là người phối ngẫu của Giáo hội, hiến dâng trọn vẹn cho Chúa Cha.” Ngài nói thêm rằng ngài rất đau lòng khi thấy chế độ độc thân bị coi thường trong những ngày này. Ngài nói rằng chức linh mục không phải là một chức vụ: đó là một bậc sống. (19)
Cơ hội và sự đào tạo kém
Đức Hồng Y Blase Cupich, tổng giám mục Chicago, đã được hỏi vào năm 2019 về vai trò của đồng tính luyến ái trong vụ tai tiếng. Ngài thừa nhận rằng một tỷ lệ cao các vụ lạm dụng liên quan đến “vấn nạn lạm dụng tình dục nam giới”, nhưng ngài cũng nói rằng “đồng tính luyến ái tự nó không phải là nguyên nhân.” Ngài đã giải quyết vấn đề này bằng cách nói rằng đó là vấn đề “cơ hội và cũng là vấn đề đào tạo kém từ phía mọi người”. (20)
Không thể phủ nhận rằng người lớn thường xuyên tiếp xúc với trẻ vị thành niên có nhiều cơ hội lạm dụng chúng hơn. Nhưng luận điểm về cơ hội, khi áp dụng cho các linh mục, thường cho rằng vì các linh mục theo truyền thống có nhiều cơ hội tiếp xúc với các bé trai hơn các bé gái—ví dụ điển hình là các cậu bé giúp lễ—nên đó là lý do tại sao số lượng bé trai bị lạm dụng nhiều hơn bé gái. Tuy nhiên, định chế cậu bé giúp lễ đã hiện hữu trước khi vụ tai tiếng bùng nổ vào những năm 1960, nhưng trước thời điểm đó, tương đối ít linh mục lạm dụng bé trai. Hơn nữa, nếu luận điểm này có giá trị, chúng ta lẽ ra phải thấy sự gia tăng đột biến số lượng linh mục quấy rối bé gái trong những năm gần đây, nhưng chúng ta đã không thấy. Việc các bé gái giúp lễ xuất hiện từ năm 1983, sau khi luật giáo hội được thay đổi. Các việc này trở nên phổ biến hơn nữa vào năm 1994, khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ra phán quyết rằng các bé gái có thể làm người giúp lễ. (21) Tuy nhiên, dữ liệu cho thấy trong thập niên qua, tám trong mười nạn nhân bị lạm dụng tình dục bởi linh mục là bé trai, tỷ lệ tương tự như tỷ lệ mà các nhà nghiên cứu của Đại học John Jay đã tìm thấy trước đó.
Có điều gì đó lệch lạc trong "luận điểm cơ hội" cần được giải quyết. Tôi đã trải qua năm năm trong trại hè Công Giáo với các cậu bé, bốn năm ở trường trung học nội trú quân sự Công Giáo và bốn năm trong Không quân Hoa Kỳ. Tôi chưa bao giờ nghe nói về việc đàn ông dị tính quan hệ tình dục với đàn ông khác vì họ không có cơ hội tiếp xúc với phụ nữ. Ý tưởng như vậy cho rằng đàn ông dị tính có bản năng tình dục mạnh mẽ đến mức họ sẽ nắm bắt bất cứ cơ hội nào để quan hệ tình dục với bất cứ ai có sẵn. Có lẽ điều này đúng với một số người đàn ông, nhưng đó là một lời buộc tội phân biệt giới tính và phỉ báng đối với đàn ông nói chung.
Bác sĩ tâm thần Richard Fitzgibbons, người đã điều trị cho nhiều linh mục, và tác giả Dale O'Leary đặt câu hỏi về luận điểm cơ hội: "Cơ hội và sự sẵn có", họ viết, "chỉ ảnh hưởng đến hành vi nếu sự cám dỗ đã được cảm nhận. Nếu thứ hoặc người có sẵn không cám dỗ một người, thì sự sẵn có là không liên quan. Một người đàn ông cảm thấy hành vi đồng tính luyến ái ghê tởm sẽ không bị cám dỗ bởi sự sẵn có của những nam thanh niên dễ bị tổn thương." Các linh mục phạm tội với các bé trai vị thành niên rõ ràng đang trải qua những cám dỗ đồng tính luyến ái.” (22)
Còn luận điểm về “đào tạo kém” thì sao? Chắc chắn, các khóa học về đào tạo nhân cách trong chủng viện đã giúp ích, và chúng không phổ biến cho đến thời gian gần đây. Nhưng sự thật vẫn là hầu hết những linh mục lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên đều trải qua “đào tạo kém” giống như những người không lạm dụng khác. Vậy thì tại sao “đào tạo kém” lại không ảnh hưởng đến 96% linh mục chưa từng bị buộc tội?
Đổ lỗi cho giáo lý về tình dục của Giáo hội về vụ tai tiếng là một lời giải thích phổ biến được đưa ra bởi những người Công Giáo bất đồng chính kiến. Điều này giống như đổ lỗi cho giáo viên khăng khăng đòi hỏi sự trung thực vì học sinh gian lận của họ. Làm thế nào mà đạo đức tình dục của Giáo hội, vốn cấm sự phóng túng, lại có thể chịu trách nhiệm cho các linh mục phóng túng? Điều đó cho thấy rằng biện pháp khắc phục có thể được tìm thấy bằng cách thay đổi giáo lý hoặc nới lỏng việc thực thi chúng. Điều thứ hai là những gì đã xảy ra, và đó là điều đã châm ngòi cho vụ tai tiếng. Nói cách khác, luận điểm giáo huấn đã đi ngược lại: đó là trong thời điểm mà các giáo lý về đạo đức tình dục bị suy yếu, cả trong và ngoài Giáo hội, người ta đều cho rằng các linh mục có vấn đề về kiểm soát xung động đã nhận được thông điệp và hành động theo đó. Do đó, mới có vụ tai tiếng. Nhưng đừng nói điều đó với những người bác bỏ đạo đức tình dục Công Giáo.
Đạo đức tình dục Công Giáo
Cha Thomas Doyle, cùng với những người khác, đã tuyên bố rằng “sự phán xét cực đoan trong các vấn đề tình dục” đã góp phần vào vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ. (23) Giáo Hội Công Giáo lấy giáo huấn về tình dục từ Chúa Kitô, người đã xây dựng trên nền tảng Mười Điều Răn của Do Thái giáo, cấm ngoại tình (Mt 5:27-28). Đối với những người có thể nói rằng điều đó chỉ áp dụng cho người đã kết hôn, Chúa Giêsu cũng lên án tội tà dâm (Mt 15:19). Và sau đó là lời cảnh báo của Chúa Kitô đối với những kẻ dụ dỗ trẻ em: “Ai làm cho một trong những đứa trẻ nhỏ tin Ta phạm tội, thì thà rằng người ấy bị buộc một tảng đá lớn vào cổ và bị ném xuống biển sâu còn hơn” (Mt 18:6).
Thay vì Giáo hội, Doyle nghĩ ai có câu trả lời? Tiến sĩ Ruth. Sau khi nghe Tiến sĩ Ruth Westheimer, nhà tình dục học nổi tiếng, Doyle nói, “Bà ấy nói trong năm phút còn hợp lý hơn cả trăm giám mục nói chuyện trong một giờ.” (24)
Nhà thần học Massimo Faggioli của Đại học Villanova tin rằng “việc bổ nhiệm một thế hệ giám mục bảo thủ” thường dẫn đến “cuộc sống hai mặt trong một số chủng viện, dòng tu và phong trào giáo hội”. Ông đổ lỗi cho điều mà ông gọi là “sự nghiêm khắc” của các giám mục bảo thủ gây ra vụ tai tiếng. (25) Tuy nhiên, nếu chúng ta phỏng vấn các linh mục sống trinh khiết, liệu chúng ta có thấy rằng giáo huấn của Giáo hội đã khuyến khích sự trinh khiết của họ không? Các linh mục sống cuộc sống hai mặt là do họ đã không sắp xếp hành vi của mình theo những lời thề mà họ tự nguyện cam kết.
Tại nhiều chủng viện vào những năm 1970 và 1980, sinh viên được giao một cuốn sách của Cha Anthony Kosnik có nhiều điểm chung với Tiến sĩ Ruth hơn là với Giáo hoàng. “Vô tình,” Kosnik nhẹ nhàng viết, “thực tiễn mục vụ Công Giáo đã thúc đẩy tình trạng quan hệ tình dục bừa bãi ở những người đồng tính luyến ái chính bằng cách khuyên họ không nên hình thành những tình bạn thân thiết hoặc độc quyền.” (26) Hãy xem điều này hoạt động như thế nào nếu áp dụng cho người dị tính: các linh mục tán tỉnh phụ nữ có thể đã không làm như vậy nếu họ được khuyên nên có những mối quan hệ thân thiết, độc quyền với những người bạn nữ của họ. Có ai tin điều này là đúng không?
Cha Edward Beck là một người ủng hộ quyền của người đồng tính và là một nhà bình luận trên CNN. Ngài chia sẻ quan điểm của Kosnik, cho rằng “giáo hội hiếm khi giải quyết tốt các vấn đề về tình dục của con người.” Vậy chúng ta nên làm gì? “Các linh mục, cũng như mọi người khác, đều muốn quan hệ tình dục. Chúng tôi muốn được chạm vào. Chúng tôi muốn được khao khát. Để từ bỏ những xung động tự nhiên này, chúng tôi sử dụng các cơ chế đối phó để bù đắp cho những ham muốn tình dục. Chúng tôi làm như vậy vì một ‘điều tốt đẹp hơn’, nhưng đừng tự lừa dối mình rằng điều đó là tự nhiên hay dễ dàng—hoặc rằng đôi khi chúng tôi không thất bại.” (27)
Không nghi ngờ gì nữa, sống độc thân không hề dễ dàng. Nhưng nếu đó là gánh nặng quá lớn đối với một người đàn ông, có lẽ tốt nhất là anh ta nên rời bỏ chức linh mục hoặc không nên gia nhập ngay từ đầu. Hơn nữa, thật vô lý khi cho rằng sự dè dặt về tình dục của Giáo hội đã gây ra lạm dụng tình dục. Nếu đúng như vậy, thì thời kỳ đỉnh cao của lạm dụng tình dục trong giới giáo sĩ sẽ là vào những năm 1950, khi các chuẩn mực nghiêm ngặt hơn được tuân thủ. Tuy nhiên, rất ít hành vi sai trái về tình dục được báo cáo vào thời điểm đó.
Tuy nhiên, trước khi có thể thảo luận về các phương pháp tốt để đào tạo linh mục về sự trong sạch, trước hết chúng ta phải thấy được vẻ đẹp của giáo huấn của Chúa Kitô, điều đã được giao phó cho Giáo hội. Thần học về Thân thể của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có thể giúp chúng ta làm được điều đó. Quan điểm của ngài về đạo đức tình dục Công Giáo rất tích cực: nó bao hàm sự hiến dâng. Trái ngược với khuynh hướng khoái lạc trong nền văn hóa chủ đạo của phương Tây, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khẳng định rằng biểu hiện tình dục duy nhất xứng đáng với con người là biểu hiện dựa trên tình yêu hiến dâng, chứ không phải sự nuông chiều bản thân.
Việc khao khát noi theo giáo huấn như vậy, bắt chước Chúa Kitô, không thể bị đổ lỗi cho vụ tai tiếng tình dục. Năm 2002, chỉ vài tháng sau khi loạt bài báo của tờ Boston Globe xuất hiện, và trước hội nghị Dallas, Michael Novak đã bác bỏ huyền thoại cho rằng giáo lý chính thống của Giáo hội là nguyên nhân gây ra vụ tai tiếng. Ông lưu ý rằng “chủ nghĩa chính thống đã được chứng minh là đúng và chủ nghĩa tiến bộ đã bị phát hiện hoàn toàn phá sản. Không có linh mục nào trung thành với giáo lý tình dục truyền thống của Giáo hội, và với lời thề đã được thực hiện một cách trưởng thành và tự nguyện của họ, gây ra bất cứ vụ tai tiếng nào được đưa ra ánh sáng vào năm 2002. Giáo lý truyền thống không hề thất bại. Nếu nó được tuân theo một cách nghiêm ngặt và với tinh thần yêu thương trọn vẹn, thì sẽ không có vụ tai tiếng nào. Hoàn toàn không phải vậy.” (28)
Kỳ thị đồng tính (homophobia)
Thật buồn cười khi đọc cách một số nhà phê bình gay gắt về đạo đức tình dục của Giáo hội lại có thể thừa nhận vai trò của đồng tính luyến ái trong vụ tai tiếng nhưng lại đổ lỗi cho hành vi săn mồi của người đồng tính là do chứng sợ đồng tính, chứ không phải do chính những người đồng tính đã phạm tội. Năm 2018, Robert Mickens đã đăng một bài viết trên tờ Washington Post thừa nhận rằng những người đồng tính, chứ không phải những kẻ ấu dâm, chịu trách nhiệm cho vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Ông cũng lưu ý rằng “những người đàn ông đồng tính khỏe mạnh về mặt tâm lý không cưỡng hiếp trẻ em trai hoặc ép buộc bản thân lên những người đàn ông khác mà họ có một mức độ quyền lực hoặc thẩm quyền nào đó.” (29) Nhưng sau đó ông lại lập luận rằng “chứng sợ đồng tính” đã khiến những người đàn ông đồng tính trở thành những kẻ săn mồi. Mickens đổ lỗi cho Giáo hội vì đã áp dụng các chính sách “thực sự trừng phạt các chủng sinh và linh mục tìm cách đối xử cởi mở, trung thực và lành mạnh với xu hướng tình dục của họ”. Chính “chủ nghĩa kỳ thị đồng tính” đang thúc đẩy vấn đề này, bởi vì nó “khiến những người đồng tính nam phải che giấu giới tính thật của mình”. (30)
Lý luận của ông ta có nhiều sai sót và không phù hợp với bằng chứng. Chính khi những người đồng tính luyến ái che giấu giới tính thật của mình—ví dụ như vào những năm 1940 và 1950—thì họ mới gây ra ít thiệt hại nhất. Người đồng tính luyến ái công khai giới tính của mình vào những năm 1960, khi các chuẩn mực được nới lỏng. Đổ lỗi cho “chủ nghĩa kỳ thị đồng tính” là một sự né tránh. Nó được sử dụng như một sự biện minh cho việc tái tạo chính môi trường đã tạo ra vấn đề ngay từ đầu (sẽ nói thêm về điều này sau). Chúng ta không bao giờ nên muốn quay trở lại thời điểm mà những người đàn ông dị tính rời khỏi chủng viện vì họ bị bao quanh bởi những người đàn ông đồng tính hành xử một cách trắng trợn mà không bị trừng phạt.
Chủ nghĩa giáo sĩ trị
Chủ nghĩa giáo sĩ trị (clericalism) là một lý do khác được đưa ra cho việc lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Trên thực tế, nó đã trở nên phổ biến đến mức hiện nay được cả Vatican chấp nhận. Nếu “chủ nghĩa giáo sĩ trị” được hiểu là chủ nghĩa duy tinh hoa, một cảm giác tự cao tự đại xuất phát từ sự kiêu ngạo, thì đây là một cách hữu ích để mô tả một số giám mục dung túng, những người đã không lắng nghe các khiếu nại về hành vi sai trái tình dục hoặc không làm bất cứ điều gì có ý nghĩa để giải quyết vấn đề. Thuật ngữ này cũng hữu ích để hiểu cách các giáo sĩ thoát tội khi lạm dụng quyền lực của họ—bằng cách đe dọa bất cứ ai dám đặt câu hỏi về hành vi của họ để buộc họ im lặng.
Nhưng chỉ một mình chủ nghĩa giáo sĩ trị không có giá trị giải thích nào trong việc hiểu tại sao các linh mục lạm dụng tình dục lại hành động như vậy ngay từ đầu. Có rất nhiều lý do khác nữa. Loại giáo sĩ đáng ghét tự đặt mình lên bệ cao và nổi tiếng là lạm dụng quyền lực, nhưng lại không bao giờ phạm tội lạm dụng tình dục. George Weigel nói đúng: “Chủ nghĩa giáo sĩ trị là yếu tố tạo điều kiện cho hành vi lạm dụng; nó không phải là nguyên nhân.” (31)
Lập luận về chủ nghĩa giáo sĩ trị phù hợp một cách hoàn hảo với hệ tư tưởng cánh tả cổ điển, có nguồn gốc từ chủ nghĩa Mác. Cánh tả nhìn thế giới qua lăng kính quyền lực. Như Marx đã dạy, xã hội bao gồm những người cấp trên và cấp dưới và được duy trì bởi sự cưỡng chế, chứ không phải sự đồng thuận. Tầm nhìn này đã được chứng minh là hữu ích trong việc phân tích vụ tai tiếng vì nó tập trung vào các giám mục, những người cấp trên đã lạm dụng quyền lực của họ. Cánh tả luôn đổ lỗi cho những người nắm quyền, bỏ qua cho tất cả những người khác, bất kể họ vô trách nhiệm đến mức nào. Nếu những người bị điều khiển hành xử tồi tệ, họ lập luận, đó chỉ là do những điều kiện do chủ nhân của họ tạo ra. Nói cách khác, vụ tai tiếng có thể được đổ lỗi hoàn toàn cho các giám mục, chứ không phải các linh mục lạm dụng.
Việc giản lược vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ thành chủ nghĩa giáo sĩ trị là nông cạn về mặt trí tuệ. Xét cho cùng, sẽ không có các giám mục dung túng nếu không có các linh mục lạm dụng tình dục.
Tại sao các Giám mục lại dung túng cho những kẻ lạm dụng tình dục
Để đánh giá chính xác hơn lý do tại sao một số giám mục lại dung túng cho các linh mục lạm dụng tình dục, chúng ta cần xem xét một số nguyên nhân không nằm trong quan điểm thông thường về vấn đề này. Có một số lý do dẫn đến điều này: sợ làm mất uy tín của Giáo hội, sự thiên vị cho người trong nhóm, chủ nghĩa tinh hoa, sự thiếu năng lực, vai trò của các nhà trị liệu và việc không tuân thủ các quy định của Vatican. Những yếu tố này là lời giải thích, chứ không phải lời bào chữa. Thật không may, chúng không được thừa nhận rộng rãi.
Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, trong một bài giảng năm 2014, đã nhắc lại những lời mạnh mẽ của Chúa Giêsu về “cối xay đá” dành cho những người phạm tội chống lại trẻ em. Đức Thánh Cha cảnh báo chúng ta rằng “sự tai tiếng hủy hoại đức tin” và tất cả các Kitô hữu đều “có khả năng làm mất uy tín” người khác bằng hành động của mình. (32)
Chính nỗi sợ làm mất uy tín của các tín hữu đã thúc đẩy một số giám mục che đậy hành vi lạm dụng tình dục của các linh mục của họ. Thật trớ trêu khi việc họ từ chối thú nhận sự thật—ngay cả với những động cơ tốt đẹp nhất—lại dẫn đến tai tiếng: một khi sự thật được phơi bày, nó đã khiến một số người Công Giáo nghi ngờ đức tin của họ. Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI hiểu điều gì đã xảy ra. Ngài viện dẫn “mối lo ngại sai lầm về danh tiếng của Giáo hội và việc tránh tai tiếng” là động lực chính đằng sau những vụ che đậy. (33)
Sự ưu ái người trong nhóm có lẽ là lý do phổ biến nhất khiến các vụ che đậy trở nên phổ biến đến vậy. Chẳng phải cha mẹ của một cậu con trai tuổi teen hay đánh nhau trên đường phố cố gắng bảo vệ con mình khỏi bị pháp luật trừng phạt, vì sợ những hậu quả mà hồ sơ về hành vi của con mình sẽ gây ra sao? Các ông chủ là bạn của những đồng nghiệp phạm lỗi thường xuyên che đậy cho họ. Họ làm điều đó trong thế giới doanh nghiệp. Cảnh sát làm điều đó. Bác sĩ làm điều đó. Luật sư làm điều đó. Giáo sĩ làm điều đó. Ai mà không cố gắng che chở cho bạn bè hoặc người thân yêu khỏi bị đưa vào danh sách đen vĩnh viễn? Muốn giữ những câu chuyện xấu ra khỏi giới truyền thông là một bản năng tự nhiên. Nói cách khác, không có gì đáng chú ý về một “người yêu” che giấu những điều xấu xa về bạn bè hoặc người tình của mình.
Tất nhiên, khi hành vi đó là một tội phạm, sự thiên vị trong nhóm không thể được dùng làm lý do bào chữa. Tuy nhiên, chúng ta cần thừa nhận điều mà các nhà khoa học xã hội đã biết từ lâu: thể hiện sự thiên vị đối với nhóm của mình là một đặc điểm phổ biến; không có xã hội nào mà đặc điểm này không hiện hữu. (34) Nói cách khác, việc có thành kiến đối với nhóm của mình thể hiện bản chất con người. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều giám mục có khuynh hướng bảo vệ các linh mục phạm tội của họ khỏi sự khiển trách của công chúng. Sai lầm của họ là coi hành vi của họ chỉ đơn thuần là một hành vi tội lỗi, trong khi trên thực tế, những vi phạm nghiêm trọng hơn là tội ác. Sai lầm khác của họ là đánh giá thấp nỗi đau và sự đau khổ mà các nạn nhân và cha mẹ của họ phải trải qua, những người nếu có cơ hội sẽ trả thù Giáo hội một cách quyết liệt.
Một số giám mục thể hiện thái độ thượng lưu rõ rệt trong việc giải quyết vấn đề. Thái độ “giám mục biết rõ nhất” đã khiến nhiều người trong số họ gặp rắc rối. Khi Giám mục Thomas V. Daily còn làm việc tại Tổng giáo phận Boston (ngài từng là phó giám mục chính của Hồng Y Humberto Medeiros và Hồng Y Bernard Law), ngài thường xuyên gạt bỏ những cáo buộc đáng tin cậy về việc các linh mục lạm dụng tình dục. “Tôi không phải là cảnh sát. Tôi là người chăn chiên.” Đó là câu trả lời gây sốc của ngài dành cho một người phụ nữ nói rằng các con trai và cháu trai của bà đã bị lạm dụng bởi Cha John Geoghan khét tiếng. (35) Khi Jackie Gauvreau, một giáo dân tích cực tại Nhà thờ Saint Jean ở Newton, liên tục gọi điện đến tổng giáo phận để phàn nàn về một kẻ lạm dụng đồng tính luyến ái hàng loạt, Cha Paul Shanley, Đ.C. Daily đã bảo nhân viên tiếp tân bảo bà chờ; ngài bảo cô nên để bà ấy chờ hàng giờ cho đến khi bà ấy bỏ cuộc. (36) Giám mục Boston John McCormack, phó giám mục của Hồng Y Law, cũng kiêu ngạo không kém. Vào những năm 1990, một nữ tu đã đưa ra những cáo buộc chi tiết chống lại hơn một trăm linh mục ở Boston, nhưng ngài liên tục bác bỏ lời yêu cầu của bà về việc giải quyết vấn đề này. (37)
Nỗi sợ hãi gây tai tiếng và sự thiên vị đối với người trong nhóm giúp giải thích tại sao các giám mục tốt lại đưa ra một số quyết định sai lầm, nhưng những người mang thái độ thượng lưu “giám mục biết rõ nhất” thì không hành động một cách trung thực. Họ đã lơ là nhiệm vụ của mình. Không chỉ ở Boston mà các giám mục ở khắp mọi nơi đều thể hiện thái độ này, mà không có giáo phận nào tệ hơn.
Đôi khi lý do không hành động siêng năng là do sự thiếu năng lực. Điều này xảy ra khi các dấu hiệu cảnh báo bị bỏ qua hoặc khi có tâm lý “tôi không muốn dính líu”. Đây là một trong những lý do nổi bật nhất khiến các giám mục dung túng cho các linh mục lạm dụng tình dục trẻ em. Tuy nhiên, việc đổ lỗi hoàn toàn cho các giám mục là quá dễ dàng.
Nhờ việc đọc các báo cáo về lạm dụng tình dục của linh mục, điều trở nên hiển nhiên là trong nhiều trường hợp, có một số – đôi khi là hàng chục – người biết rằng một linh mục đang lạm dụng trẻ vị thành niên hoặc có lý do chính đáng để tin rằng ông ta có thể đã làm như vậy nhưng hầu hết không làm gì cả. Điều này bao gồm các phó tế, nữ tu, tu sĩ và giáo dân. Về điểm thứ hai, nó khiến cho đề xuất cần có sự tham gia nhiều hơn của giáo dân để ngăn chặn lạm dụng tình dục của giáo sĩ trở nên sai trái, nếu không muốn nói là nực cười. Việc giáo dân không chủ động tham gia hầu như không bao giờ được đề cập đến, mặc dù điều đó rất cần thiết.
Từ kinh nghiệm cá nhân của tôi, tôi có thể chứng thực sự miễn cưỡng của một số người có thẩm quyền trong việc can thiệp. Vào giữa những năm 1970, một trong những học sinh lớp ba của tôi tại trường St. Lucy's, một trường tiểu học Công Giáo nay đã đóng cửa ở Spanish Harlem, đã đến gặp tôi vào sáng sớm và khóc nức nở. Em ấy nói rằng mẹ đã đánh em. Mặc dù tôi không thấy bất cứ dấu vết nào trên người em, nhưng tôi tin rằng em ấy đang nói sự thật. Tôi đã nghĩ đến việc báo cáo với hiệu trưởng nhưng chắc chắn rằng ông ấy sẽ không làm gì cả. Ông ấy là một người tốt, một người anh em cũ, nhưng ông ấy quá chán nản trước những điều kiện khủng khiếp tồn tại trong khu ổ chuột nội thành này đến nỗi tôi biết ông ấy sẽ chỉ khoanh tay đứng nhìn và nói rằng cuộc sống ở Spanish Harlem là như vậy. Vì vậy, tôi đã bỏ qua ông ấy và liên hệ với cơ quan của Thành phố New York chuyên xử lý các trường hợp trẻ em bị lạm dụng. Ngay sau đó, tôi được triệu đến văn phòng hiệu trưởng. Đứng đó là hiệu trưởng, người mẹ, nhân viên phụ trách vụ việc và cố vấn học đường. Người mẹ hỏi: “Chuyện này là sao vậy?” Ba người có thẩm quyền không nói gì và nhìn xuống sàn nhà. Tôi nói với người mẹ: “Con gái bà nói bà không yêu con bé.” Người mẹ im lặng một lúc rồi bật khóc. Bà được một tổ chức Công Giáo giúp đỡ, và tình hình ở nhà đã được cải thiện. Hiệu trưởng không vui vì tôi đã vượt quyền ông ấy, nhưng ông cũng nhẹ nhõm vì linh cảm của tôi là đúng và sự giúp đỡ đã được cung cấp.
Mười năm sau, khi tôi là một giáo sư, một trong những đồng nghiệp của tôi, một người đồng tính và cũng là bạn tôi, bắt đầu có dấu hiệu suy sụp. Anh ấy uống rượu nhiều hơn bình thường, không còn sống trong căn hộ của mình nữa và có những hành động khiếm nhã với sinh viên nam. Khi tôi biết anh ấy đang bán những mô hình tàu hỏa của mình, một vật sở hữu quý giá của anh ấy, tôi biết mọi chuyện đang xấu đi nhanh chóng, vì vậy tôi đã gặp chủ tịch và trưởng khoa học thuật, hai người theo chủ nghĩa nữ quyền nhiệt thành; chủ tịch là một nữ tu. Khi tôi kể cho họ nghe về vị giáo sư đó, họ gạt đi, nói rằng ông ta vốn đã lập dị. Rồi tôi đã cho họ một lời cảnh tỉnh.
“Vậy đó là những gì các ông định nói với báo chí sao? Chỉ là vấn đề thời gian trước khi họ đến, với máy quay trên tay. Và các ông định nói với họ rằng các ông biết một giáo sư đang ngủ trên sàn nhà thi đấu, xung quanh là những bức ảnh đàn ông khỏa thân và những chai vodka rỗng – và rằng ông ta đang cố gắng quyến rũ các sinh viên nam – và các ông kết luận rằng ông ta chỉ hơi lập dị một chút?” Khi họ hỏi, “Chúng tôi nên làm gì?”, tôi nói, “Đưa ông ta vào Bệnh viện Saint Phan-xi-cô và gọi luật sư của các ông.” Họ đã làm vậy. Ông ta nhận được một số sự giúp đỡ ban đầu, rời khỏi trường đại học và chuyển đi nơi khác. Sau đó, ông ta qua đời vì AIDS.
Hai ví dụ này không khác gì những kịch bản diễn ra thường xuyên, trong mọi tổ chức. Việc đề xuất cải cách thì rất dễ, nhưng những biện pháp khắc phục cần thiết không phải lúc nào cũng phù hợp với một bộ hướng dẫn mới. Không ai đưa cho tôi bất cứ hướng dẫn nào. Lẽ thường và lòng can đảm để hành động dựa trên nó là những phẩm chất không thể thiếu trong cuộc chiến chống lại hành vi sai trái tình dục. Thật không may, những người như vậy lại rất khan hiếm.
Thật khó để đọc về một số trường hợp mà các giám mục đã bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo và thái độ “Tôi không muốn dính líu” lại chiếm ưu thế. Trong một số trường hợp, thật dễ dàng để nói rằng sự thiếu năng lực là nguyên nhân. Hãy lấy trường hợp của một linh mục ở Illinois đã lạm dụng tình dục ít nhất một trăm nam sinh trung học. Khi các nhà điều tra khám xét phòng của ông ta, họ đã tìm thấy hàng trăm ấn phẩm khiêu dâm đồng tính. Người giúp việc nói với chính quyền rằng vị linh mục có một bức tượng một người đàn ông và một cậu bé đang ôm nhau đặt công khai trong nhà xứ. Liệu chúng ta có tin rằng không ai nhìn thấy nó, ngoài người giúp việc? Thật đáng tiếc là không ai can thiệp sớm hơn. (38) Còn Cha Gilbert Gauthe, kẻ lạm dụng hàng loạt khét tiếng thì sao? Các linh mục biết ông ta đưa trẻ em đến ngủ cùng, nhưng họ không bao giờ nói một lời nào về điều đó. (39) Một kẻ lạm dụng tình dục hàng loạt khác từ những năm 1980 đã được phong chức linh mục mặc dù cấp trên của ông biết ông là một kẻ bệnh hoạn. (40)
Một trong những kẻ lạm dụng tình dục tồi tệ nhất là Cha Rudolph “Rudy” Kos. Ông ta đã kết hôn trước khi gia nhập hàng giáo sĩ, và các chức sắc Giáo hội biết từ người vợ đã ly hôn của ông ta rằng ông ta “là người đồng tính và bị thu hút bởi các cậu bé”; ông ta đã xin hủy hôn để có thể trở thành linh mục. Các chức sắc Giáo hội ở Dallas cũng biết rằng ông ta đã lạm dụng tình dục em trai mình khi cả hai còn nhỏ. Tuy nhiên, họ vẫn phong chức cho ông ta. Sau đó, ông ta tiếp tục cưỡng hiếp hết cậu bé này đến cậu bé khác. (41) Không rõ liệu những người có thẩm quyền cũng là những kẻ bệnh hoạn, che đậy cho nhau, hay chỉ đơn giản là vô tâm. Nhưng họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của ông ta. Đây không chỉ là sự bất tài mà còn là điều không thể chấp nhận được. Không có chỗ trong hàng giáo sĩ Công Giáo cho những kẻ tiếp tay này, cũng như không có chỗ cho những kẻ lạm dụng tình dục.
Tình hình đã được cải thiện rất nhiều đến nỗi khó có thể hình dung được những gì đã xảy ra chỉ vài thập niên trước. Khi chúng ta đọc rằng cả năm linh mục của tòa án trong một giáo phận đều là người đồng tính luyến ái hoặc có vấn đề nghiêm trọng về đồng tính luyến ái, thì không thể nói rằng không ai biết chuyện gì đang xảy ra. (42) Tất nhiên là họ biết.
Còn tiếp
VietCatholic TV
Diễn binh quá nguy hiểm: Kyiv phóng Flamingo toang 2 nhà máy. Máy bay Mỹ gặp nạn. Putin thanh trừng
VietCatholic Media
02:59 06/05/2026
1. Putin bổ nhiệm tướng có liên quan đến vụ thảm sát Bucha làm Tư Lệnh Không quân Nga.
Truyền thông Nga đưa tin hôm Thứ Ba, 05 Tháng Năm, rằng Putin đã bổ nhiệm Aleksandr Chaiko, một vị tướng bị cáo buộc liên quan đến vụ thảm sát thường dân Ukraine ở Bucha năm 2022, làm tư lệnh Lực lượng Không quân và Vũ trụ của nước này.
Ông Chaiko, 54 tuổi, đồng thời là Phó Tham mưu trưởng Quân đội Nga, sẽ thay thế ông Viktor Afzalov, người đã giữ chức vụ Tư lệnh Không quân từ tháng 12 năm 2023, theo báo RBC của Nga đưa tin, trích dẫn các nguồn tin giấu tên trong quân đội.
Trong giai đoạn phát động cuộc xâm lược toàn diện, Chaiko là chỉ huy Quân khu phía Đông, nơi ông đóng vai trò trực tiếp trong nỗ lực của Mạc Tư Khoa nhằm chiếm thủ đô Ukraine bằng đường bộ từ lãnh thổ Belarus.
Tháng 9 năm 2022, Cơ quan An ninh Ukraine đã đệ đơn cáo trạng chống lại Chaiko vì vai trò của ông trong cuộc tấn công vào Kyiv.
Chaiko cũng là một trong chín sĩ quan Nga bị Hội đồng Liên minh Âu Châu trừng phạt vào tháng 3 năm 2026 vì vai trò chỉ huy lực lượng Nga xung quanh Kyiv vào thời điểm hơn 400 thường dân Ukraine bị thảm sát tại thành phố Bucha, phía bắc Kyiv.
Theo một cuộc điều tra của hãng tin AP vào tháng 10 năm 2022, nhiều tội ác chiến tranh đã được chứng minh ở Bucha trong những ngày cuối cùng của vụ thảm sát là các nhiệm vụ “dọn dẹp” do chính Chaiko ra lệnh và ký tên.
Vị tướng này cũng từng giữ chức chỉ huy lực lượng quân đội Nga tại Syria, cả trước và sau cuộc xâm lược toàn diện.
Theo một cuộc điều tra của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, Chaiko đã trực tiếp tham gia vào các cuộc tấn công gây chết người nhằm vào các mục tiêu dân thường xung quanh Idlib vào năm 2019.
Việc thay đổi chỉ huy diễn ra trong bối cảnh lực lượng không quân Nga, bất chấp ưu thế vượt trội về quân số và hỏa lực, đã thất bại trong việc giành được ưu thế trên không ở Ukraine trong suốt 5 năm qua. Các chương trình tấn công tầm xa và máy bay điều khiển từ xa đánh chặn tiên tiến của Ukraine đã cản trở hoạt động của lực lượng không quân thông thường.
[Kyiv Independent: Putin appoints general implicated in Bucha massacre commander of Russia's Air Force, media reports]
2. Hỏa tiễn ‘Flamingo’ và máy bay điều khiển từ xa của Ukraine tấn công nhà máy vũ khí của Nga, và làm ngừng hoạt động nhà máy lọc dầu Kirishi.
Hỏa tiễn 'Flamingo' và máy bay điều khiển từ xa của Ukraine tấn công nhà máy quân sự của Nga, làm ngừng hoạt động nhà máy lọc dầu Kirishi.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết, hỏa tiễn Flamingo của Ukraine đã tấn công một cơ sở sản xuất quân sự của Nga ở Cheboksary vào đêm 5 tháng 5, như một phần của cuộc tấn công bằng hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa quy mô lớn, được tường trình cũng nhắm vào một trong những nhà máy lọc dầu lớn nhất của Nga.
Các bức ảnh và video được người dân địa phương đăng tải lên mạng xã hội được tường trình cho thấy một đám cháy lớn bùng phát từ JSC VNIIR-Progress ở Cheboksary, Cộng hòa Chuvash, một viện nghiên cứu nhà nước của Nga sản xuất các phụ tùng cho vũ khí chính xác cao mà Mạc Tư Khoa đã sử dụng để tấn công Ukraine.
Sau đó, Tổng thống Zelenskiy công bố video cho thấy các vụ phóng hỏa tiễn hành trình “Flamingo” của Ukraine, mà ông cho là nguyên nhân gây ra vụ tấn công vào nhà máy của Nga.
“Máy bay ‘Flamingo’ của Ukraine đã bay quãng đường hơn 1.500 km. Cơ sở sản xuất quân sự bị tấn công sản xuất hệ thống bảo vệ rơle, thiết bị tự động hóa và thiết bị điện áp thấp”, Tổng thống Zelenskiy viết. “Nga phải chấm dứt chiến tranh và chuyển sang ngoại giao thực sự. Chúng tôi đã đưa ra đề xuất của mình.”
Các phương tiện truyền thông do nhà nước Nga tài trợ sau đó đưa tin rằng vụ tấn công đã khiến 2 người thiệt mạng và 32 người bị thương.
Nhiều tiếng nổ đã được nghe thấy trong khu vực cơ sở sau khi có cảnh báo không kích về mối đe dọa hỏa tiễn trong khu vực. Các kênh truyền thông Telegram của Nga đưa tin rằng một hỏa tiễn FP-5 Flamingo do Ukraine sản xuất đã gây thiệt hại cho cơ sở này.
Sau đó, người dân đã nhìn thấy máy bay điều khiển từ xa của Ukraine tấn công cơ sở này một lần nữa vào khoảng 7:30 sáng giờ địa phương.
Thống đốc địa phương Oleg Nikolayev cho biết một người bị thương trong vụ tấn công ở Cheboksary.
Theo Bộ Tổng tham mưu Ukraine, viện nghiên cứu này, nằm cách biên giới Ukraine khoảng 1.200 km, cũng phát triển các hệ thống tác chiến điện tử, gọi tắt là EW, bao gồm cả các mảng anten Kometa, được sử dụng để gây nhiễu tín hiệu vệ tinh, vô tuyến và radar.
Ăng-ten Kometa được sử dụng trong máy bay điều khiển từ xa kiểu Shahed, hỏa tiễn hành trình Iskander-K và các mô-đun bom dẫn đường trên không - tất cả đều là vũ khí có độ chính xác cao được Nga sử dụng để tấn công các mục tiêu dân sự và quân sự trên khắp Ukraine.
Vào cuối buổi sáng, quân đội Ukraine cũng được tường trình đã tiến hành một cuộc tấn công vào nhà máy lọc dầu Kirishi, hay còn gọi là KINEF, một trong những nhà máy lọc dầu hàng đầu của Nga về sản lượng.
Ban đầu, Thống đốc tỉnh Leningrad, Alexander Drozdenko, thông báo về một cuộc tấn công xảy ra tại một khu công nghiệp không xác định ở Kirishi, sau đó xác nhận nhà máy lọc dầu là mục tiêu chính.
Hệ thống giám sát cháy rừng FIRMS của NASA dường như đã xác nhận những tuyên bố của Drozdenko, với nhiều vụ cháy được báo cáo trong khu vực nhà máy lọc dầu. Ít nhất một bức ảnh được đăng tải lên mạng xã hội sau đó được tường trình cho thấy khói bốc lên từ cơ sở này.
Nhà máy lọc dầu Kirishi đã ngừng hoạt động vào ngày 5 tháng 5 sau khi các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Ukraine làm hư hại ba trong số bốn tổ máy chưng cất dầu thô của nhà máy, hai nguồn tin trong ngành cho biết với Reuters.
Các nguồn tin cho biết một số đơn vị phụ trợ cũng bị ảnh hưởng, và phạm vi thiệt hại tổng thể khiến việc đánh giá thời gian sửa chữa trở nên khó khăn.
Nhà máy lọc dầu Kirishi là một trong ba nhà máy lọc dầu lớn nhất của Nga, với công suất chế biến hàng năm khoảng 20-21 triệu tấn dầu thô. Cơ sở này sản xuất hơn 6% tổng lượng dầu tinh chế của Nga, bao gồm nhiều loại sản phẩm dầu mỏ như nhiên liệu phục vụ quân đội nước này.
Ông Drozdenko còn tuyên bố rằng 29 máy bay điều khiển từ xa đã bị bắn hạ trên vùng Leningrad.
Cả nhà máy lọc dầu và viện nghiên cứu này trước đây đều từng là mục tiêu của các cuộc tấn công từ phía Ukraine.
Các cuộc tấn công diễn ra trong bối cảnh một cuộc tấn công rộng khắp vào nhiều khu vực của Nga, với các vụ nổ được báo cáo ở Crimea bị tạm chiếm, cũng như ở các thành phố Voronezh và Kazan.
Thị trưởng Mạc Tư Khoa Sergey Sobyanin cũng cho biết năm máy bay điều khiển từ xa đã bị bắn hạ khi đang tiếp cận thủ đô Nga.
Bộ Quốc phòng Nga báo cáo đã bắn hạ 289 máy bay điều khiển từ xa trên nhiều khu vực khác nhau của Nga.
Ít nhất 18 phi trường của Nga đã tạm thời ngừng hoạt động trên mặt đất do các quả đạn pháo của Ukraine bắn tới, đồng thời ban bố cảnh báo không kích ở các khu vực cách biên giới Nga-Ukraine tới 2.000 km.
Quân đội Ukraine vẫn chưa bình luận về các vụ tấn công được báo cáo, và mức độ thiệt hại đầy đủ vẫn chưa được xác định rõ.
Ukraine thường xuyên tiến hành các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa nhằm vào các cơ sở quân sự và công nghiệp ở Nga.
Hỏa tiễn Flamingo, do nhà sản xuất quốc phòng gây tranh cãi Fire Point chế tạo, chỉ được Kyiv sử dụng một vài lần kể từ khi ra mắt lần đầu vào mùa hè năm ngoái, và việc sử dụng được báo cáo là tăng lên kể từ tháng 11 năm 2025.
Trước đây từng được Tổng thống Volodymyr Zelenskiy gọi là “hỏa tiễn thành công nhất” của Ukraine, hỏa tiễn Flamingo do trong nước sản xuất được trang bị đầu đạn nặng 1.000 kg và tầm bắn được công bố là 3.000 km (1.864 dặm).
Vụ tấn công quy mô lớn mới nhất của Kyiv nhằm vào Nga diễn ra một ngày sau khi một máy bay điều khiển từ xa của Ukraine tấn công một tòa nhà chung cư cao tầng ở Mạc Tư Khoa, chỉ cách Điện Cẩm Linh và Quảng trường Đỏ trung tâm thành phố 7 km về phía tây và cách tòa nhà Bộ Quốc phòng Nga 3 km.
Vụ tấn công đánh dấu một trong những cuộc tấn công sâu nhất vào khu dân cư trung tâm Mạc Tư Khoa kể từ khi cuộc xâm lược toàn diện bắt đầu, diễn ra chưa đầy một tuần trước Lễ duyệt binh Ngày Chiến thắng 9 tháng 5.
[Kyiv Independent: Ukrainian 'Flamingo' missiles, drones strike Russian military factory, shut down Kirishi oil refinery]
3. Hai tàu khu trục của Hải quân Mỹ đi qua eo biển Hormuz sau khi né tránh cuộc tấn công của Iran.
Theo các quan chức quốc phòng giấu tên trả lời phỏng vấn đài CBS News để thảo luận về các vấn đề an ninh quốc gia, hai tàu khu trục của Hải quân Mỹ đã đi qua eo biển Hormuz và tiến vào Vịnh Ba Tư sau khi vượt qua đợt pháo kích của Iran.
Các tàu USS Truxtun và USS Mason, được hỗ trợ bởi trực thăng Apache và các máy bay khác, đã phải đối mặt với một loạt các mối đe dọa phối hợp trong suốt hành trình, các quan chức quốc phòng cho biết. Iran đã phóng các tàu nhỏ, hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa vào chúng trong cái mà các quan chức mô tả là một cuộc tấn công liên tục.
Bất chấp cường độ các cuộc tấn công, không có tàu nào của Mỹ bị trúng đạn.
Các quan chức quân đội cho biết các biện pháp phòng thủ, được hỗ trợ bởi không quân, đã thành công trong việc đánh chặn hoặc ngăn chặn mọi mối đe dọa đang đến. Họ nói thêm rằng không có đối tượng phóng nào chạm tới các tàu chiến.
Việc vận chuyển này diễn ra sau khi Tổng thống Trump hôm Chúa Nhật tuyên bố rằng Mỹ sẽ giúp “hướng dẫn” các tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz, một điểm nghẽn quan trọng mà Iran đã tìm cách kiểm soát kể từ khi chiến dịch quân sự của Mỹ bắt đầu vào cuối tháng Hai. Hàng trăm tàu chở dầu và các tàu khác đã bị mắc kẹt ở Vịnh Ba Tư trong nhiều tháng nay, đẩy giá dầu toàn cầu tăng cao.
Bộ Chỉ huy Trung ương của quân đội Mỹ cho biết hôm thứ Hai rằng các tàu khu trục Mỹ đã đi qua eo biển này như một phần của sáng kiến có tên gọi là Dự án Tự do. Quân đội không nêu rõ tàu nào hoặc có bao nhiêu tàu hải quân tham gia vào chuyến đi này.
Bộ Chỉ huy Trung ương cho biết hai tàu thương mại mang cờ Mỹ cũng đã đi qua eo biển thành công, và quân đội đã liên hệ với hàng chục chủ tàu khác để “khuyến khích luồng giao thông”.
Đô đốc Brad Cooper, chỉ huy Bộ Tư lệnh Trung tâm Hoa Kỳ, cho biết Iran đã phát động một cuộc tấn công nhằm vào các tàu hải quân và thương mại của Mỹ đi qua eo biển, dẫn đến việc Mỹ phá hủy sáu tàu nhỏ của Iran. (Các hãng thông tấn nhà nước Iran đã phủ nhận việc tàu thuyền của họ bị phá hủy và khẳng định không có tàu thương mại nào đi qua eo biển gần đây.)
Iran đã cảnh báo lực lượng Mỹ rằng họ sẽ bị tấn công nếu tiến vào eo biển, điều này làm lung lay thỏa thuận ngừng bắn mong manh kéo dài bốn tuần giữa hai nước.
Iran đã phóng hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa vào Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, gọi tắt là UAE vào sáng thứ Hai, và các máy bay điều khiển từ xa của Iran đã tấn công vào một tàu chở dầu thuộc sở hữu của công ty năng lượng nhà nước Abu Dhabi khi nó đang tìm cách đi qua eo biển Hormuz, theo thông báo của quốc gia vùng Vịnh đồng minh của Mỹ. Truyền thông Iran tuyên bố một tàu chiến của Mỹ cũng bị trúng hỏa tiễn, điều mà Bộ Tư lệnh Trung ương Iran đã bác bỏ.
Trong khi đó, Mỹ đang thực thi lệnh phong tỏa hải quân đối với các cảng của Iran theo chỉ thị của Tổng thống Trump, nhằm gây áp lực lên Iran trong khi hai nước trao đổi các đề xuất cho một thỏa thuận dài hạn hơn. Iran gọi lệnh phong tỏa này là vi phạm thỏa thuận ngừng bắn.
[CBSNews: 2 U.S. Navy destroyers transit Strait of Hormuz after dodging Iranian onslaught]
4. Chiến tranh Iran: Máy bay Mỹ tuyên bố tình trạng khẩn cấp gần Qatar, hạ cánh an toàn — Ngũ Giác Đài
Theo truyền thông nhà nước Iran và dữ liệu theo dõi chuyến bay, một máy bay tiếp nhiên liệu quân sự của Mỹ đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp trên không khi đang bay gần Qatar hôm thứ Ba.
Vụ việc xảy ra trong bối cảnh Hoa Kỳ và Iran đang thử thách một thỏa thuận ngừng bắn mong manh giữa các cuộc tấn công mới và những nỗ lực nhằm mở lại eo biển Hormuz, một hành lang năng lượng toàn cầu quan trọng. Hoạt động quân sự gia tăng trong khu vực đã khiến lực lượng Mỹ, tàu thương mại và các đồng minh trong khu vực phải cảnh giác, làm dấy lên lo ngại về việc căng thẳng có thể leo thang hơn nữa.
Dữ liệu theo dõi chuyến bay do hãng thông tấn bán chính thức Fars của Iran trích dẫn cho thấy một máy bay tiếp nhiên liệu KC-135 Stratotanker của Không quân Mỹ đã phát tín hiệu khẩn cấp “7700” sau khi cất cánh từ căn cứ không quân Al Dhafra ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Một quan chức quốc phòng Mỹ nói với Newsweek rằng máy bay sau đó đã hạ cánh an toàn, và các quan chức Mỹ cho biết hiện chưa có dấu hiệu nào cho thấy vụ việc có liên quan đến hành động thù địch.
Dữ liệu theo dõi chuyến bay do hãng thông tấn bán chính thức Fars của Iran trích dẫn cho thấy một máy bay tiếp nhiên liệu KC-135 Stratotanker của Không quân Mỹ đã phát tín hiệu cấp cứu “7700” trước khi biến mất khỏi màn hình theo dõi trên không phận Qatar. Chiếc máy bay này, thường được mô tả là “trạm xăng bay”, được tường trình đã cất cánh từ căn cứ không quân Al Dhafra ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.
Một quan chức quốc phòng Mỹ nói với Newsweek rằng máy bay đã hạ cánh an toàn, nhưng không cung cấp thêm chi tiết nào.
Vụ việc xảy ra khi các lãnh đạo quân sự Mỹ hôm thứ Ba tuyên bố rằng thỏa thuận ngừng bắn với Iran vẫn còn hiệu lực, một ngày sau khi Washington cáo buộc Tehran gây ra các cuộc tấn công mới ở eo biển Hormuz và nhằm vào các mục tiêu ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.
“Không, lệnh ngừng bắn vẫn chưa kết thúc”, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth phát biểu tại một cuộc họp báo ở Ngũ Giác Đài, tái khẳng định tuyên bố trước đó của Tham mưu trưởng Liên quân, Tướng Dan Caine.
Thỏa thuận ngừng bắn mong manh, đạt được gần một tháng trước, dường như vẫn đang được duy trì khi lực lượng Mỹ tiếp tục nỗ lực mở lại tuyến đường thủy chiến lược, một tuyến đường quan trọng cho việc vận chuyển năng lượng toàn cầu. Hôm thứ Hai, quân đội Mỹ cho biết họ đã đánh chìm sáu tàu nhỏ của Iran sau khi chúng đe dọa các tàu thương mại.
Hôm thứ Ba, Tổng thống Trump được hỏi những hành động nào của Iran sẽ cấu thành hành vi vi phạm thỏa thuận ngừng bắn, trong bối cảnh Iran liên tục bắn vào các tàu của Mỹ. Tổng thống Trump từ chối nói rõ, chỉ nói rằng, “Các bạn sẽ biết thôi, vì tôi sẽ cho các bạn biết. Họ biết phải làm gì và họ biết không nên làm gì.”
Cho đến nay, chỉ có hai tàu thương mại đi qua hành lang được Mỹ bảo vệ mới thiết lập, trong khi hàng trăm tàu khác vẫn đang bị mắc kẹt ở Vịnh Ba Tư. Vẫn chưa rõ liệu các hành động quân sự tiếp theo của Mỹ có thể trấn an các công ty vận tải biển mà không làm bùng phát lại cuộc xung đột do các cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào Iran ngày 28 tháng 2 gây ra hay không.
Trong khi đó, Ngoại trưởng Marco Rubio hôm thứ Ba đã công bố một nghị quyết chung do Mỹ hậu thuẫn của Liên Hiệp Quốc, đe dọa trừng phạt Iran nếu nước này không ngừng các cuộc tấn công vào tàu thuyền ở eo biển Hormuz.
Dự thảo, được các đồng minh vùng Vịnh đồng bảo trợ, có thể được đưa ra bỏ phiếu tại Hội đồng Bảo an trong những ngày tới và có thể dẫn đến các biện pháp trừng phạt hoặc hành động tiếp theo nếu Iran không tuân thủ.
Máy bay tiếp nhiên liệu KC-135 Stratotanker là gì?
Máy bay tiếp nhiên liệu trên không KC-135 Stratotanker là loại máy bay của Không quân Hoa Kỳ, đóng vai trò xương sống trong hạm đội máy bay tiếp nhiên liệu của Mỹ kể từ Chiến tranh Lạnh. Được Boeing phát triển vào những năm 1950 và dựa trên nguyên mẫu 367-80 của hãng, máy bay này đi vào hoạt động năm 1957 và được thiết kế để mở rộng tầm bay của máy bay ném bom và máy bay chiến đấu của Mỹ bằng cách tiếp nhiên liệu trên không. Hơn 730 chiếc KC-135 đã được chế tạo, và loại máy bay này đã hỗ trợ các hoạt động quân sự của Mỹ từ Chiến tranh Việt Nam cho đến các cuộc xung đột ở Trung Đông và Đông Âu.
Hiện nay, phi đội KC-135 chủ yếu được Không quân Hoa Kỳ vận hành, với các máy bay đóng quân khắp lục địa Hoa Kỳ và được triển khai ở nước ngoài. Các máy bay tiếp nhiên liệu này được sử dụng bởi các đơn vị thường trực, Lực lượng Vệ binh Quốc gia và Lực lượng Dự bị Không quân, và được đóng tại các căn cứ không quân lớn, bao gồm cả ở Kansas, Washington, California và Ohio. Máy bay KC-135 bay với phi hành đoàn ba người hoặc ba người cộng thêm một hoa tiêu. Các biến thể nâng cấp, bao gồm KC-135R và KC-135T, vẫn đang hoạt động trong khi Không quân dần dần thay thế một phần phi đội bằng máy bay KC-46 Pegasus hiện đại hơn.
Máy bay tiếp nhiên liệu KC-135 Stratotanker cũng liên quan đến một trong những sự việc gây thương vong nặng nề nhất cho phi hành đoàn Mỹ trong cuộc chiến với Iran. Vào tháng 3, một chiếc KC-135 của Không quân Mỹ đã bị rơi ở phía tây Iraq khi đang hỗ trợ các hoạt động chiến đấu chống lại Iran, khiến toàn bộ sáu quân nhân trên máy bay thiệt mạng, Bộ Tư lệnh Trung ương Mỹ cho biết vào thời điểm đó. Máy bay đang hoạt động trong không phận thân thiện trong Chiến dịch Epic Fury và không bị bắn hạ bởi hỏa lực của đối phương hay của đồng minh, các quan chức quân đội Mỹ cho biết, đồng thời nói thêm rằng nguyên nhân vụ tai nạn vẫn đang được điều tra. Sự việc này đánh dấu những trường hợp tử vong đầu tiên của Không quân trong cuộc xung đột và nhấn mạnh những rủi ro mà các phi hành đoàn tiếp nhiên liệu phải đối mặt khi hoạt động trên khu vực này.
Dữ liệu theo dõi chuyến bay được truyền thông Iran và quốc tế trích dẫn cho thấy máy bay tiếp nhiên liệu KC-135 Stratotanker đã cất cánh từ căn cứ không quân Al Dhafra ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và đang hoạt động trên Vịnh Ba Tư khi nó tuyên bố tình trạng khẩn cấp trên không. Theo dữ liệu từ Flightradar24, máy bay dường như bay theo vòng tròn chờ trước khi bắt đầu hạ độ cao khi bay qua Qatar. Điểm đến cuối cùng của nó không được công khai và quân đội Mỹ chưa cho biết liệu máy bay tiếp nhiên liệu này đang trên đường đến một căn cứ cụ thể hay đang thực hiện nhiệm vụ tiếp nhiên liệu vào thời điểm đó.
[Newsweek: Iran War: US Plane Declares Emergency Near Qatar, Lands Safely—Pentagon]
5. Nam Hàn sẽ xem xét việc tham gia chiến dịch Hormuz của Mỹ.
Hôm thứ Ba, Nam Hàn cho biết họ sẽ “xem xét lại lập trường” về việc tham gia các hoạt động của Mỹ tại eo biển Hormuz sau khi Tổng thống Trump kêu gọi Hán Thành tham gia vào điều mà ông gọi là “Dự án Tự do”, sau vụ tấn công được tường trình của Iran nhằm vào một trong những tàu của nước này.
Hôm thứ Hai, một vụ nổ và hỏa hoạn đã được báo cáo trên một tàu chở hàng của Nam Hàn tại tuyến đường thủy quan trọng này, vốn đã bị phong tỏa kể từ khi chiến tranh Trung Đông bùng nổ vào ngày 28 tháng 2.
Bộ Ngoại giao Nam Hàn hôm thứ Ba cho biết tất cả 24 thành viên thủy thủ đoàn trên tàu HMM Namu gặp nạn - bao gồm sáu công dân Nam Hàn - đều an toàn và đám cháy trên tàu đã được “dập tắt hoàn toàn”.
Tổng thống Trump cho rằng vụ việc này nên thúc đẩy Nam Hàn tham gia vào nỗ lực của Mỹ nhằm hướng dẫn các tàu bị mắc kẹt đi qua eo biển, một tuyến đường huyết mạch quan trọng cho việc xuất khẩu nhiên liệu mà Hán Thành phụ thuộc vào.
Hôm thứ Ba, Bộ Quốc phòng Nam Hàn cho biết họ sẽ “xem xét kỹ lưỡng lập trường của mình” nhưng không cam kết sẽ thay đổi điều gì.
Bộ Ngoại giao Hán Thành cho biết nước này sẽ xem xét lập trường của mình dựa trên luật pháp quốc tế, sự an toàn của các tuyến đường hàng hải quốc tế, liên minh với Hoa Kỳ và tình hình an ninh trên Bán đảo Triều Tiên.
Thông báo này cũng cho biết họ đã “tích cực tham gia vào các cuộc thảo luận quốc tế về hợp tác để bảo đảm an toàn cho việc đi lại qua eo biển Hormuz”.
Theo dữ liệu từ trang theo dõi MarineTraffic, tàu HMM Namu dài gần 590 feet và treo cờ Panama.
[CBSNews: South Korea to review joining U.S. Hormuz operation]
6. Tổng thống Trump cho biết Iran sẽ nằm trong chương trình nghị sự trong chuyến thăm Trung Quốc.
Tổng thống Trump cho biết cuộc chiến tranh với Iran sẽ nằm trong chương trình nghị sự khi ông gặp lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh vào tuần tới.
“Tôi sẽ nói về điều đó, đó sẽ là một chủ đề,” Tổng thống Trump nói. “Nhưng ông ấy đã rất tử tế về chuyện này.”
Tổng thống nhắc lại lời đề nghị của mình với Trung Quốc, là quốc gia phụ thuộc vào dầu mỏ từ Trung Đông, về việc thay vào đó hãy gửi tàu chở dầu đến Alaska, Louisiana và Texas.
Tổng thống Trump cho biết ông không muốn đưa quân đội Mỹ vào Iran, đồng thời kêu gọi Cộng hòa Hồi giáo này “làm điều khôn ngoan”.
“Họ nên làm điều khôn ngoan vì chúng ta thực sự không muốn xông vào và giết người,” Tổng thống Trump nói với các phóng viên trong một sự kiện tại Phòng Bầu dục. “Tôi không muốn, tôi không muốn. Điều đó quá khó khăn.”
Tổng thống đã đưa ra nhận xét này khi nói về nền kinh tế mong manh của Iran, đang phải đối mặt với lạm phát tăng vọt dưới áp lực của chiến tranh và các lệnh trừng phạt của phương Tây.
“Tôi hy vọng Iran sẽ thất bại,” Tổng thống Trump nói. “Các bạn biết tại sao không? Bởi vì tôi muốn thắng.”
Giữ giọng lạc quan trong khi bên ngoài giá nhiên liệu đang tăng phi mã, Tổng thống Trump nói Iran biết “những điều không nên làm” trong thời gian ngừng bắn.
Tổng thống Trump đã được hỏi hành động nào của Iran sẽ bị coi là vi phạm thỏa thuận ngừng bắn sau khi Mỹ và Iran đấu súng hôm thứ Hai.
“Các bạn sẽ biết thôi vì tôi sẽ cho các bạn biết,” Tổng thống Trump nói với các phóng viên. “Họ biết phải làm gì, và quan trọng hơn, họ biết cả những điều không nên làm.”
Ông nhấn mạnh rằng Iran không thích “chơi trò chơi” với Mỹ.
Tổng thống Trump đã đề cập ngắn gọn đến cuộc chiến tranh Iran sau khi khen ngợi Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth, người đang đứng gần tổng thống.
Tổng thống Trump cho biết ông Hegseth đã có một “buổi họp báo tuyệt vời” cùng với Tướng Dan Caine, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân.
“Họ không thích chơi trò chơi với chúng ta,” Tổng thống Trump nói, ám chỉ Iran. “Họ hoàn toàn không thích. Các bạn sẽ thấy điều đó. Theo thời gian, các bạn sẽ thấy. Tôi nghĩ các bạn đã thấy rồi. Về cơ bản, chúng ta đã xóa sổ quân đội của họ chỉ trong khoảng hai tuần.”
[CBSNews: Trump says Iran will be on agenda during China visit]
7. Trưởng đoàn đàm phán của Iran có những phát ngôn cứng rắn về eo biển Hormuz.
Trưởng đoàn đàm phán của Iran trong các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ hôm thứ Ba cảnh báo rằng nước ông “thậm chí còn chưa bắt đầu” trong cuộc đối đầu về eo biển Hormuz.
“Chúng tôi hiểu rất rõ rằng việc duy trì hiện trạng là không thể chấp nhận được đối với Mỹ; trong khi chúng tôi thậm chí còn chưa bắt đầu,” Mohammad Bagher Ghalibaf đưa ra lập trường trên với Đài truyền hình quốc gia Iran.
Ông Ghalibaf, đồng thời là chủ tịch quốc hội Iran, cho biết hành động của Mỹ và các đồng minh đã gây nguy hiểm cho an ninh hàng hải, nhưng ông cũng nói rằng “sự hiện diện xấu xa của họ sẽ giảm dần”.
Trong khi đó, Ngoại trưởng Iran cho biết “các cuộc đàm phán đang có tiến triển”, nhưng Dự án Tự do không thể giải quyết được cuộc khủng hoảng chính trị.
Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi hôm Thứ Ba, 05 Tháng Năm, cho biết các cuộc đàm phán với Mỹ đang có tiến triển nhưng chỉ trích Dự án Tự do của quân đội Mỹ tại eo biển Hormuz.
Ông Araghchi nói: “Những diễn biến ở eo biển Hormuz cho thấy rõ ràng không có giải pháp quân sự nào cho cuộc khủng hoảng chính trị. Trong khi các cuộc đàm phán đang tiến triển nhờ nỗ lực thiện chí của Pakistan, Mỹ nên cảnh giác với việc bị những kẻ xấu kéo trở lại vũng lầy. UAE cũng vậy.”
“Dự án Tự do chính là Dự án Bế tắc,” ông nói thêm.
[CBSNews: Iran's top negotiator talks tough about Strait of Hormuz]
8. Hegseth nói rằng cuộc chiến giành eo biển Hormuz là ‘hoàn toàn riêng biệt’ với cuộc chiến tranh Iran.
Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth khẳng định rằng chiến dịch do Mỹ dẫn đầu nhằm mở lại eo biển Hormuz là “tách biệt và khác biệt” với cuộc chiến rộng lớn hơn với Iran, đây là lời thừa nhận công khai cụ thể nhất cho đến nay rằng cuộc xung đột đã phát triển vượt xa phạm vi ban đầu.
Cả tướng Hegseth và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Tướng Dan Caine, đều không mô tả cách Mỹ sẽ hỗ trợ bảo vệ các tàu thuyền di chuyển qua eo biển này, một tuyến đường quan trọng cho nguồn cung năng lượng của thế giới. Hai tàu thương mại mang cờ Mỹ và một số tàu khu trục của Hải quân đã bị lực lượng Iran bắn khi đi qua khu vực này trong tuần này.
Việc bạo lực bùng phát — và những lời đe dọa liên tục của Iran nhằm vào các tàu cố gắng đi qua eo biển — cho thấy Tehran vẫn có khả năng đe dọa tuyến đường thủy này và các chuyến hàng dầu mỏ toàn cầu. Và khẳng định của Hegseth rằng cuộc chiến tranh giành tuyến đường thủy này khác với các hoạt động quân sự rộng lớn hơn của chiến dịch Epic Fury càng nhấn mạnh nỗ lực của chính quyền Trump trong việc tránh những hậu quả lớn hơn.
Chiến dịch tại eo biển, được đặt tên là Dự án Tự do, “mang tính chất phòng thủ, tập trung về phạm vi và chỉ diễn ra trong thời gian ngắn”, Hegseth cho biết tại một cuộc họp báo với Caine. “Chúng tôi sẽ không để bản thân bị phân tâm.”
Ông Hegseth cho biết Mỹ dự định chuyển giao nhiệm vụ này “cho toàn thế giới” nhưng không nêu rõ các cuộc đàm phán với các đồng minh cụ thể nào sẽ tiếp quản hoạt động này - hoặc khi nào vai trò quân sự của Mỹ sẽ kết thúc.
“Thế giới đã bày tỏ mong muốn được tham gia vào việc này,” ông nói thêm. “Như thường lệ, hoặc có lẽ hầu như luôn luôn là như vậy, vai trò lãnh đạo của Mỹ là cần thiết.”
Kể từ khi Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận ngừng bắn hồi tháng trước, Iran đã bắn vào các tàu thương mại 9 lần và bắt giữ 2 tàu container, đồng thời giao tranh với lực lượng Mỹ “hơn 10 lần”, ông Caine cho biết. Tuy nhiên, ông nói rằng những cuộc giao tranh đó không cấu thành việc nối lại các hành động thù địch và “dưới ngưỡng để khởi động lại các hoạt động chiến đấu quy mô lớn”.
Cả hai quan chức đều không mô tả điều kiện cần thiết để vượt qua ngưỡng đó. Đây là yếu tố bất ổn mới nhất xung quanh cuộc chiến đang leo thang, ban đầu được phát động nhằm phá hủy năng lực hạt nhân của Iran nhưng nay đã biến thành cuộc chiến tranh giành quyền mở lại eo biển. Do các tàu thương mại không muốn mạo hiểm đối mặt với mối đe dọa bạo lực từ Iran, khoảng 20% nguồn cung dầu mỏ của thế giới đã bị cắt đứt, khiến giá nhiên liệu tăng vọt và gây xáo trộn nền kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, Tổng thống Trump hôm thứ Ba vẫn khẳng định việc Mỹ phong tỏa các tàu của Iran ở eo biển “đã rất hiệu quả” và bày tỏ sự tin tưởng rằng chế độ này sẽ sớm sụp đổ.
“Sẽ không ai dám thách thức lệnh phong tỏa,” ông nói với các phóng viên tại Phòng Bầu dục. “Và tôi nghĩ nó đang phát huy tác dụng rất tốt. Chúng ta hãy chờ xem. Tôi có thể khẳng định điều này: Iran muốn đạt được một thỏa thuận.”
Nhưng chính quyền Trump, sau nhiều tháng chỉ trích các đồng minh về chi tiêu quốc phòng và áp thuế lên các đồng minh lâu năm, đã trở nên thất vọng vì họ từ chối hỗ trợ Mỹ trong nhiệm vụ ở eo biển Hormuz. Các quan chức nước ngoài phàn nàn rằng chính quyền đã không nêu rõ loại trợ giúp nào họ cần, và về việc thiếu thông báo trước khi tiến hành các cuộc tấn công trên không vào Iran hồi tháng Hai.
Anh, Pháp và Đức đã tổ chức một số cuộc họp với các nước Âu Châu để đưa ra kế hoạch rà phá thủy lôi ở eo biển và khôi phục lại hoạt động vận tải biển tự do. Tuy nhiên, các nước này đều nhấn mạnh rằng chiến sự phải chấm dứt trước khi họ triển khai tàu chiến của mình.
Hôm thứ Ba, Hegseth cho biết Mỹ đang liên lạc với một tàu thương mại treo cờ Nam Hàn bị trúng hỏa lực của Iran, và bày tỏ sự thất vọng rằng Mỹ vẫn đang hành động đơn độc.
“Chúng tôi hy vọng Nam Hàn sẽ có bước tiến tích cực, giống như chúng tôi hy vọng Nhật Bản sẽ có bước tiến tích cực, giống như chúng tôi hy vọng Úc sẽ có bước tiến tích cực, giống như chúng tôi hy vọng Âu Châu sẽ có bước tiến tích cực,” Hegseth nói. “Nhưng chúng tôi không chờ đợi họ làm vậy. Chúng tôi đang tìm cách tạo điều kiện để trao cơ hội cho họ.”
Cả Iran và Mỹ đều chưa chấp nhận các điều khoản của nhau cho một thỏa thuận hòa bình toàn diện hơn, mặc dù Tổng thống Trump đã nói với Quốc hội tuần trước rằng các hành động thù địch đã chấm dứt. Động thái này dường như nhằm tránh thời hạn pháp lý 60 ngày, theo đó các hoạt động quân sự phải ngừng lại trừ khi các nhà lập pháp cho phép sử dụng lực lượng quân sự.
Tổng thống Trump lập luận rằng một thỏa thuận ngừng bắn với Tehran về cơ bản đã tạm hoãn thời hạn đó.
[Politico: Hegseth says battle for Hormuz is ‘separate and distinct' from the Iran war]
9. Quân đội Iran tuyên bố sẽ tấn công lực lượng Mỹ nếu họ tiến vào eo biển Hormuz.
Quân đội Iran hôm thứ Hai tuyên bố sẽ tấn công lực lượng Mỹ nếu họ tiến vào eo biển Hormuz, sau khi Tổng thống Trump thông báo Washington sẽ bắt đầu hộ tống các tàu thuyền đi qua tuyến đường thủy bị phong tỏa này.
Tư lệnh Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran, Chuẩn tướng Ahmad Vahidi, tuyên bố trong một thông cáo được đài truyền hình nhà nước IRIB đăng tải: “Chúng tôi cảnh báo rằng bất kỳ quân đội nước ngoài nào – đặc biệt là quân đội Mỹ hiếu chiến – nếu có ý định tiếp cận hoặc tiến vào eo biển Hormuz, sẽ bị tấn công và tấn công”.
Vahidi cho biết Hoa Kỳ phải đối mặt với sự lựa chọn giữa một chiến dịch quân sự “bất khả thi” hoặc một thỏa thuận với Tehran, sau khi Tổng thống Trump chỉ trích đề xuất hòa bình mới nhất của Iran gồm 14 điểm.
Ông nói thêm: “Chúng tôi đã nhiều lần khẳng định rằng an ninh của eo biển Hormuz nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Cộng hòa Hồi giáo Iran, và trong mọi trường hợp, bất kỳ sự di chuyển an toàn nào cũng phải được phối hợp với các lực lượng này”.
Pakistan cho biết trên mạng xã hội rằng ngoại trưởng nước này và người đồng cấp Iran đã có cuộc điện đàm vào tối Chúa Nhật, trong đó hai bên thảo luận về “tình hình khu vực và những nỗ lực ngoại giao đang diễn ra của Pakistan nhằm hướng tới hòa bình và ổn định trong khu vực”.
Ngoại trưởng Iran Seyed Abbas Araqchi bày tỏ sự đánh giá cao đối với “vai trò mang tính xây dựng và những nỗ lực hòa giải chân thành” của Pakistan giữa Tehran và Washington, trong khi Ngoại trưởng Pakistan Mohammad Ishaq Dar “tái khẳng định cam kết tiếp tục của Pakistan” đối với những nỗ lực đó.
Pakistan đóng vai trò là bên thứ ba chính trong các kênh ngoại giao bí mật nhằm chấm dứt cuộc chiến ở Trung Đông.
Ngoại trưởng Araqchi cho biết Tehran đã đệ trình một kế hoạch 14 điểm “tập trung vào việc chấm dứt chiến tranh” và Washington đã phản hồi kế hoạch này trong một thông điệp gửi tới các nhà trung gian hòa giải Pakistan, mà Iran đang xem xét.
Nhà lãnh đạo Ủy ban An ninh Quốc gia của Quốc hội Iran cho rằng sự can thiệp của Mỹ vào eo biển Hormuz sẽ là vi phạm thỏa thuận ngừng bắn.
Ebrahim Azizi, nhà lãnh đạo Ủy ban An ninh Quốc gia của Quốc hội Iran, đã tuyên bố rằng: “Bất kỳ sự can thiệp nào của Mỹ vào chế độ hàng hải mới ở eo biển Hormuz sẽ bị coi là vi phạm thỏa thuận ngừng bắn.”
“Eo biển Hormuz và Vịnh Ba Tư sẽ không được quản lý theo những bài đăng ảo tưởng của Tổng thống Trump!” ông nói thêm, dường như ám chỉ đến tuyên bố của Tổng thống Trump về nỗ lực hướng dẫn các tàu thuyền ra khỏi eo biển bắt đầu từ thứ Hai.
[CBSNews: Iran military says U.S. forces will be attacked if they enter Strait of Hormuz]
10. Rubio tuyên bố Chiến dịch Epic Fury đã kết thúc, Mỹ đã chuyển sang Dự án Tự do.
Trong cuộc họp báo với các phóng viên, Ngoại trưởng Marco Rubio tuyên bố Chiến dịch Epic Fury đã kết thúc.
“Chiến dịch đã kết thúc,” Rubio nói. “Chiến dịch Epic Fury, tổng thống đã thông báo với Quốc hội, chúng ta đã hoàn thành giai đoạn đó rồi. Được chứ? Giờ chúng ta chuyển sang dự án vì tự do.”
Dự án Freedom là một nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm hỗ trợ các tàu thương mại đi qua eo biển Hormuz.
Ông Rubio cũng nói: “Chiến dịch Epic Fury đã kết thúc. Chúng ta đã đạt được các mục tiêu của chiến dịch đó.”
Ông Rubio cho biết vấn đề uranium làm giàu của Iran đang được giải quyết trong các cuộc đàm phán, mặc dù ông không nói rõ tiến trình đàm phán đang ở đâu.
Trong khi đó, tại Israel, Tướng Eyal Zamir, chỉ huy quân đội Israel, tuyên bố rằng nước này sẵn sàng đáp trả “bằng vũ lực” trước bất kỳ cuộc tấn công nào từ phía Iran.
“Lực lượng Phòng vệ Israel, gọi tắt là IDF vẫn đang trong tình trạng báo động cao trên mọi mặt trận. Chúng tôi đang theo dõi sát sao các diễn biến ở Vịnh Ba Tư và sẵn sàng đáp trả bằng vũ lực đối với bất kỳ âm mưu nào nhằm gây hại cho Israel”, ông Zamir phát biểu tại buổi lễ bổ nhiệm tân chỉ huy lực lượng không quân nước này.
[CBSNews: Rubio says Operation Epic Fury is over, U.S. has moved on to Project Freedom]
11. Đồng tiền của Iran tiếp tục lao dốc.
Hôm Chúa Nhật, ngày làm việc thứ hai của tuần lễ ở Iran, đồng rial tiếp tục suy yếu so với đồng đô la Mỹ. Tại phố Ferdowsi ở Tehran, trung tâm giao dịch ngoại tệ chính của thủ đô, tỷ giá đô la Mỹ là 1.840.000 rial.
Các nhà phân tích cho rằng rất có khả năng đồng tiền này sẽ tiếp tục giảm giá.
Vào tháng 12, tỷ giá đồng rial giao dịch ở mức 1,3 triệu rial đổi 1 đô la, mức thấp kỷ lục vào thời điểm đó, và đã gây ra các cuộc biểu tình rộng khắp do tình hình kinh tế ngày càng xấu đi. Thị trường ở Tehran vẫn bất ổn, với giá cả một số mặt hàng tăng lên hàng ngày.
Theo các báo cáo trên truyền thông Iran, một số nhà máy đã không gia hạn hợp đồng cho công nhân sau Tết Iran hồi tháng 3, và một số lượng lớn người lao động đã mất việc.
[CBSNews: Iran's currency continues to tumble]
12. Ủy ban Âu Châu kêu gọi tham gia Liên minh máy bay điều khiển từ xa Liên Hiệp Âu Châu-Ukraine.
Ngày 5 tháng 5, Ủy ban Âu Châu thông báo thành lập Liên minh máy bay điều khiển từ xa Liên Hiệp Âu Châu-Ukraine nhằm tăng cường năng lực máy bay điều khiển từ xa và chống máy bay điều khiển từ xa bằng cách tận dụng kinh nghiệm thực tiễn của Ukraine. Theo một tuyên bố, các nỗ lực để thành lập ban điều hành đầu tiên đang được tiến hành.
Cuộc chiến của Nga chống lại Ukraine đã định hình lại nhận thức về chiến tranh hiện đại, đặc biệt là việc sử dụng máy bay điều khiển từ xa trong các hoạt động trên chiến trường và các cuộc tấn công tầm xa, đồng thời làm dấy lên những lo ngại về an ninh trên khắp Âu Châu.
“Những vụ vi phạm không phận liên tiếp gần đây của các quốc gia thành viên Liên Hiệp Âu Châu đã cho thấy sự cấp thiết phải tạo ra một năng lực Âu Châu linh hoạt, nhanh nhẹn và hiện đại để chống lại máy bay điều khiển từ xa”, Ủy ban Âu Châu cho biết.
Theo tuyên bố, sáng kiến phòng thủ bằng máy bay điều khiển từ xa giữa Liên Hiệp Âu Châu và Ukraine được coi là một phản ứng toàn diện đối với các mối đe dọa đang phát triển, nhằm mục đích cung cấp sự bảo vệ phối hợp trên tất cả các quốc gia thành viên Liên Hiệp Âu Châu.
Dự án này được thiết kế để quy tụ các bên tham gia từ các quốc gia thành viên Liên Hiệp Âu Châu, Khu vực Kinh tế Âu Châu, gọi tắt là EEA, Hiệp hội Thương mại Tự do Âu Châu, gọi tắt là EFTA và Ukraine.
Ủy ban Âu Châu cho biết sáng kiến này nhằm tăng cường hỗ trợ cho các nỗ lực quốc gia bằng cách đẩy nhanh sự tham gia của ngành công nghiệp và thúc đẩy việc ứng dụng các công nghệ đổi mới.
[Kyiv Independent: European Commission opens call for proposals to join EU-Ukraine Drone Alliance]
13. Maersk cho biết tàu của họ đã đi qua eo biển Hormuz dưới sự hộ tống của Mỹ.
Hãng vận tải hàng hóa khổng lồ Maersk của Đan Mạch hôm thứ Ba cho biết một trong những con tàu của họ đã đi qua eo biển Hormuz thành công dưới sự hộ tống của Mỹ.
Theo Maersk, con tàu Alliance Fairfax mang cờ Mỹ đã bị mắc kẹt ở Vịnh Ba Tư kể từ khi chiến tranh bùng nổ vào tháng Hai và được “tạo cơ hội” rời đi cùng với quân đội Mỹ.
“Sau đó, con tàu đã rời Vịnh Ba Tư cùng với các phương tiện quân sự của Mỹ” vào ngày 4 tháng 5, công ty cho biết trong một tuyên bố.
“Chuyến đi đã hoàn thành suôn sẻ, tất cả các thành viên thủy thủ đoàn đều an toàn và không bị thương.”
[CBSNews: Maersk says ship transited Strait of Hormuz under U.S. escort]
Ukraine rơi lệ: EU lập tòa án Nuremberg, thụ lý vụ án Putin diệt chủng. TT Merz có chiêu mới với Mỹ
VietCatholic Media
15:47 06/05/2026
1. Liên Hiệp Âu Châu vẫn tin tưởng sẽ có ngày bắt được Vladimir Putin, và đã bỏ phiếu áp đảo ủng hộ việc thành lập tòa án kiểu Nuremberg để xét xử ông ta.
Ba quan chức Liên Hiệp Âu Châu đã xác nhận với Kyiv Independent rằng các bộ trưởng Liên Hiệp Âu Châu đã bỏ phiếu áp đảo thông qua vào ngày 5 tháng 5 để khối này chính thức tham gia tòa án của Hội đồng Âu Châu, nơi sẽ truy tố các nhà lãnh đạo Nga về cuộc chiến tranh bất hợp pháp chống lại Ukraine.
Tòa án đặc biệt đang được thành lập sẽ truy tố Nga về tội xâm lược tương tự như tội mà các lãnh đạo Đức Quốc xã đã bị kết tội trong các phiên tòa Nuremberg vào cuối Thế chiến II.
Tòa án đặc biệt đóng vai trò quan trọng vì không có tòa án nào khác có thẩm quyền pháp lý để truy tố tội phạm quốc tế về việc phát động chiến tranh xâm lược.
Học giả pháp lý Philippe Sands đã từng ủng hộ việc thành lập một tòa án đặc biệt vào năm 2022 để buộc Nga phải chịu trách nhiệm về tội ác tương tự, là điều mà Hội đồng Âu Châu đã đồng ý về nguyên tắc vào tháng 5 năm 2025.
Sau đó, các nỗ lực nhằm đưa tòa án đặc biệt vào hoạt động đã được bắt đầu. Hòa Lan bày tỏ sự quan tâm đến việc đăng cai tòa án này, và Liên Hiệp Âu Châu đã cung cấp kinh phí để hỗ trợ việc thu thập bằng chứng và các công tác chuẩn bị khác trước khi tòa án được thành lập chính thức.
Khi đi vào hoạt động, các nhân vật lãnh đạo chủ chốt của Nga, bao gồm cả nhà độc tài Vladimir Putin, sẽ phải đối mặt với các cáo buộc. Cũng có khả năng phạm vi hoạt động của tòa án sẽ mở rộng ra ngoài Nga và bao gồm các quốc gia khác đã tham gia vào cuộc chiến của Mạc Tư Khoa chống lại Ukraine, chẳng hạn như Belarus và Bắc Hàn.
Vladimir Putin đã được Tổng thống Trump trải thảm đỏ đón tiếp như một vị quốc khách vào ngày 15 Tháng Tám, 2025. Diễn biến này có phần nâng cao vị thế pháp lý của tên tội phạm chiến tranh và giảm bớt tình trạng cô lập trên trường quốc tế của y. Tuy nhiên, các bộ trưởng Liên Hiệp Âu Châu vẫn hy vọng rằng cuối cùng Putin cũng sẽ bị bắt và phải bị xét xử như một tên tội phạm chiến tranh để răn đe những kẻ khác.
Trong một diễn biến thật khích lệ Denis Petrovich Butsayev, là cựu Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Sinh thái của Nga, được tường trình đã bỏ trốn khỏi Nga qua ngã Belarus, sau khi bị Cơ quan An ninh Liên bang Nga, gọi tắt là FSB, điều tra trong một vụ án liên quan đến âm mưu lật đổ Vladimir Putin, dẫn đến việc nhà độc tài ra lệnh cúp Internet ở Mạc Tư Khoa và thành phố St. Petersburg trong nhiều tháng liền. Điều này cho thấy khả năng tiếp tục cầm quyền của Vladimir Putin đang lung lay theo sau các thất bại quân sự ở Ukraine và các thảm họa kinh tế ở Nga, là hậu quả của cuộc phiêu lưu quân sự vào nước láng giềng.
[Kyiv Independent: EU votes in support of Nuremberg-style tribunal for Russia]
2. Chiến lược của Merz để đối phó với cơn giận của Tổng thống Trump: Nói với ông ấy rằng ông ấy đúng.
Đối mặt với các mức thuế mới từ Tổng thống Donald Trump đối với ngành công nghiệp xe hơi quý giá của Đức — ngay sau lời đe dọa rút quân Mỹ — Thủ tướng Friedrich Merz đã đưa ra một phản ứng hòa giải đầy thuyết phục, ông nói rằng : Về cơ bản, Tổng thống Trump nói đúng.
Kể từ khi Merz phá vỡ kịch bản thường lệ đầy thận trọng để chỉ trích mạnh mẽ cách chính quyền Trump giải quyết cuộc chiến tranh Iran tuần trước, một tổng thống Mỹ tức giận đã trả đũa bằng cách nhắm vào những điểm yếu của Đức: sự phụ thuộc vào Mỹ về an ninh, cũng như nền kinh tế hướng xuất khẩu trong bối cảnh kinh tế đang ngày càng khó khăn.
Nhưng bất chấp mức độ nghiêm trọng của các mối đe dọa từ phía Mỹ, Merz và các bộ trưởng của ông lại đang hạ thấp rủi ro và quay trở lại chiến lược truyền thống là nói với Tổng thống Trump chính xác những gì ông ta muốn nghe, cả về thương mại và chiến tranh với Iran.
Phát ngôn nhân chính phủ Đức Stefan Kornelius đã bác bỏ những lời đồn đoán rằng ông Merz có thể phải bay đến Washington để xoa dịu căng thẳng gần đây với Tổng thống Trump, nói rằng hai người dự kiến sẽ gặp nhau tại hội nghị thượng đỉnh G7 các nền kinh tế hàng đầu ở Pháp, diễn ra từ ngày 15 đến 17 tháng 6.
Cho đến lúc đó, Phó Thủ tướng Lars Klingbeil đã trấn an rằng ông Merz đang “liên lạc thường xuyên” với Tổng thống Trump để tránh leo thang căng thẳng hơn nữa. Tuy nhiên, ông Kornelius không thể cung cấp thông tin cụ thể về bất kỳ cuộc điện thoại nào đã được lên kế hoạch.
Mặc dù các chính trị gia từ đảng đối tác liên minh của Merz, đảng Dân chủ Xã hội, gọi tắt là SPD trung tả, hiện đang bực bội lập luận rằng đã đến lúc phải tung toàn bộ sức mạnh của kho vũ khí thương mại của Liên Hiệp Âu Châu chống lại Mỹ trước những lời đe dọa của Tổng thống Trump, Merz vẫn đang tìm cách cứu vãn mối quan hệ bằng một đường lối nhẹ nhàng.
Đối với thủ tướng, logic chiến thuật là không thể tránh khỏi: đối đầu trực tiếp có nguy cơ phản tác dụng, như những ngày gần đây đã cho thấy. Vì vậy, ông ta đang thực hiện một cú quay ngoặt đột ngột và đẩy mạnh ngoại giao hòa giải để có thể thuyết phục tổng thống, trong khả năng cho phép.
'Không bỏ cuộc'
Sau khi tổng thống Mỹ tuyên bố sẽ tăng thuế đối với xe hơi và xe tải Âu Châu lên 25% trong tuần này để đáp trả điều mà ông cho là sự trì hoãn của Âu Châu trong việc thực hiện thỏa thuận thương mại Turnberry được ký kết giữa Liên Hiệp Âu Châu và Mỹ vào mùa hè năm ngoái, ông Merz dường như rất thông cảm với lập trường của Tổng thống Trump.
Trên thực tế, ông ta đã đổ lỗi cho Liên Hiệp Âu Châu.
Tổng thống Trump “hơi thất vọng vì chúng ta ở Liên Hiệp Âu Châu vẫn chưa hoàn tất thỏa thuận Turnberry – thành thật mà nói, điều đó là đúng”, ông Merz nói trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình công cộng Đức phát sóng tối Chúa Nhật. “Ông ấy đang mất kiên nhẫn vì chúng ta đã đạt được thỏa thuận với Mỹ vào tháng 8 năm ngoái để ký kết một hiệp định thương mại, nhưng phía Âu Châu, các điều kiện mới liên tục được đưa ra, và chúng ta vẫn chưa ký kết”, ông Merz nói thêm.
“Đó là lý do tại sao tôi hy vọng chúng ta có thể đạt được thỏa thuận càng sớm càng tốt”, ông nói thêm.
Tương tự, Merz đã có một sự thay đổi mạnh mẽ về vấn đề chiến tranh với Iran. Gạt bỏ những phát biểu hồi tuần trước rằng Tổng thống Trump đang bị chế độ Tehran làm nhục, Merz đã phát biểu rằng Mỹ là đối tác NATO quan trọng nhất của Đức và nhấn mạnh Berlin chia sẻ “mục tiêu chung” của ông là ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân.
“Tôi sẽ không từ bỏ nỗ lực cải thiện quan hệ xuyên Đại Tây Dương, cũng như không từ bỏ việc hợp tác với Ông Donald Trump”, ông Merz nói trong cuộc phỏng vấn trên truyền hình.
Về phía Tổng thống Trump
Nhưng trong khi đường lối của Merz là quay trở lại việc xoa dịu Tổng thống Trump, các nhà lãnh đạo Âu Châu khác đang dần mất kiên nhẫn. Điều đó bao gồm cả các thành viên trong liên minh của chính ông tại đảng SPD.
“Chính phủ Đức không thể chấp nhận điều này,” ông Sebastian Roloff, một Dân biểu thuộc đảng SPD chuyên về kinh tế, cho biết. “Quá khứ đã cho thấy chúng ta không được nhượng bộ trước Tổng thống Trump. Chúng ta cần các biện pháp đối phó để làm rõ với Mỹ rằng họ cũng phụ thuộc vào thương mại toàn cầu suôn sẻ.”
Dân biểu cao cấp của đảng SPD, Markus Töns, cũng cho biết ông “hoàn toàn ủng hộ” việc sử dụng “vũ khí chống cưỡng chế” thương mại của Liên Hiệp Âu Châu.
Sau những lời đe dọa của Tổng thống Trump, phát ngôn nhân của Ủy ban Âu Châu hôm thứ Sáu cho biết Liên Hiệp Âu Châu “sẽ giữ các lựa chọn mở để bảo vệ lợi ích của Liên Hiệp Âu Châu”.
Do đó, lời đe dọa thương mại của Tổng thống Trump đang tạo ra một cơ hội bất ngờ cho Merz để lấy lại thiện cảm của tổng thống, tiếp tục vai trò là người ủng hộ chính của Âu Châu đối với thỏa thuận Turnberry gây tranh cãi, kể cả khi đối mặt với sự phản đối của Pháp.
Tương tự như vậy, ông Merz và các bộ trưởng của ông lại tỏ ra khá cam chịu và chấp nhận kế hoạch của chính quyền Trump về việc rút 5.000 binh sĩ Mỹ khỏi Đức — và có thể nhiều hơn nữa, mô tả đó là một phần trong kế hoạch dài hạn của Mỹ mặc dù quyết định này thậm chí còn gây sốc cho các quan chức Ngũ Giác Đài của Mỹ. Một trong những đơn vị có khả năng bị rút đi là một lực lượng đặc biệt được tường trình sẽ mang hỏa tiễn hành trình Tomahawk đến Đức nhằm ngăn chặn một cuộc tấn công từ Nga.
Cả Bộ trưởng Quốc phòng Boris Pistorius và Ngoại trưởng Johann Wadephul đều coi việc Mỹ rút khỏi NATO là tín hiệu cho Âu Châu cần phải tăng cường và đảm nhận nhiều hơn các trách nhiệm của mình trong NATO tại quê nhà - điều mà Tổng thống Trump từ lâu đã muốn nghe từ phía Âu Châu.
Thay vì chỉ trích Tổng thống Trump, họ đang nói với ông ấy rằng ông ấy đang đưa Âu Châu đi đúng hướng.
“Chúng ta phải xem đây là lời kêu gọi mới để phát triển và nhanh chóng đưa các năng lực của chính mình vào sử dụng,” Wadephul nói. “Không còn cách nào khác.”
Đã đến lúc tiến hành 'đàm phán nhanh'
Việc ông Merz quay lại xoa dịu Tổng thống Trump một phần là do áp lực từ các tập đoàn xuất khẩu công nghiệp khổng lồ của Đức, những nước đang kêu gọi giảm leo thang căng thẳng nhanh chóng.
“Chi phí của các loại thuế bổ sung này sẽ rất lớn đối với ngành công nghiệp xe hơi Đức và Âu Châu trong bối cảnh hiện nay đang vô cùng khó khăn, và có khả năng cũng sẽ ảnh hưởng đến người tiêu dùng tại Mỹ”, bà Hildegard Müller, chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Ô tô Đức, cho biết. “Ngành công nghiệp xe hơi khẩn thiết kêu gọi cả hai bên giảm căng thẳng và tiến hành đàm phán nhanh chóng.”
Ông Merz đặt cược rằng sự giận dữ của Tổng thống Trump sẽ lắng xuống - phần lớn là vì nhiều người trong chính đảng Cộng hòa của Tổng thống Trump có cái nhìn tích cực về sự ủng hộ của Đức đối với thỏa thuận thương mại Liên Hiệp Âu Châu-Mỹ và nỗ lực đảm nhận vai trò lớn hơn nhiều trong quốc phòng Âu Châu, theo các nhà lập pháp trong khối bảo thủ của ông Merz.
“Tôi tin rằng sự bất mãn hiện tại của Ông Donald Trump sẽ tan biến ngay khi ông ấy nhận ra rằng đường lối này không mang lại cho ông ấy nhiều sự ủng hộ ở Mỹ,” Jürgen Hardt, một chính trị gia bảo thủ kỳ cựu và là đồng minh của Merz chuyên về ngoại giao, cho biết. “Tôi không tin rằng có một sự thù địch cơ bản nào đối với Đức ở Mỹ mà người ta có thể thực sự dựa vào đó để theo đuổi.”
[Politico: Merz’s strategy for dealing with Trump’s anger: Tell him he’s right]
3. Quân đội Mỹ phô diễn các máy bay được sử dụng để hỗ trợ Dự án Tự do.
Bộ Chỉ huy Trung ương Hoa Kỳ hôm Thứ Ba, 05 Tháng Năm, đã cung cấp thêm thông tin chi tiết về các máy bay được sử dụng để hỗ trợ Dự án Tự do, nỗ lực mới nhất của Tổng thống Trump nhằm giúp các tàu thương mại đi qua eo biển Hormuz.
Trong một video được đăng tải trên X, CENTCOM đã trình diễn cảnh máy bay F/A-18 Super Hornet của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu USS Abraham Lincoln, một trong hai Hàng Không Mẫu Hạm thực thi lệnh phong tỏa của Mỹ đối với các cảng của Iran.
Trong một bài đăng khác, quân đội cho biết trực thăng MH-60 Sea Hawk của Hải quân Mỹ và trực thăng AH-64 Apache của Lục quân Mỹ đã được sử dụng để tiêu diệt các tàu nhỏ của Iran đe dọa hoạt động vận chuyển thương mại.
“Trong 12 giờ qua, chúng tôi đã liên hệ với hàng chục tàu và công ty vận tải biển để khuyến khích luồng giao thông thông suốt qua eo biển Hormuz, phù hợp với ý định của Tổng thống nhằm giúp hướng dẫn các tàu đi lại an toàn qua hành lang thương mại hẹp này”, Tư lệnh CENTCOM, Đô đốc Brad Cooper cho biết.
[CBSNews: U.S. military shows off aircraft being used to support Project Freedom]
4. Chính quyền Nga chỉ công bố danh sách các hầm trú ẩn ở Tuapse nhiều ngày sau khi xảy ra các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Ukraine.
Chính quyền địa phương tại đô thị Tuapse, Nga, lần đầu tiên công bố danh sách chính thức các hầm trú bom dành cho dân thường, hơn hai tuần sau khi máy bay điều khiển từ xa của Ukraine liên tục tấn công vào cơ sở hạ tầng dầu mỏ của khu vực này. Các blogger quân sự Nga đã đồng loạt chỉ trích sự chậm trễ này và yêu cầu cách chức Veniamin Kondratev, Thống đốc khu vực Krasnodar của Nga.
Danh sách này, được đăng tải mà không có thông báo trước trên trang web của thành phố vào ngày 4 tháng 5, là một bảng tính thể hiện vị trí của 186 nơi trú ẩn, hầu hết nằm ở tầng hầm của các tòa nhà chung cư.
Các nơi trú ẩn có tổng sức chứa khoảng 38.600 người, so với dân số 61.000 người của Tuapse. Theo bảng tính, chỉ có một trong số các nơi trú ẩn được liệt kê là dành cho người khuyết tật.
Một số thành phố của Nga gần biên giới với Ukraine, chẳng hạn như thủ phủ khu vực Belgorod ở tây nam nước Nga, đã bị tấn công kể từ năm 2023 và hiện đã lắp đặt các hầm trú bom bằng bê tông di động ở mặt đường.
Ngay cả ở những khu vực cách xa biên giới, hàng trăm kilômét, những biện pháp như vậy hiện đang trở nên cần thiết do khả năng tấn công tầm xa ngày càng mở rộng của Ukraine.
Từ ngày 16 tháng 4, Tuapse, một thị trấn thuộc vùng Krasnodar Krai của Nga và là nơi đặt một trong những nhà máy lọc dầu và cảng xuất khẩu lớn nhất trên bờ Hắc Hải, đã liên tục bị các máy bay điều khiển từ xa tầm xa của Ukraine tấn công.
Các cuộc tấn công này là một phần của chiến dịch rộng lớn hơn nhằm làm gián đoạn nguồn thu từ dầu khí của Mạc Tư Khoa, một nguồn tài chính quan trọng cho cỗ máy chiến tranh của Nga.
Bốn vụ tấn công quy mô lớn đã được ghi nhận liên tiếp tại Tuapse, gần đây nhất là vào ngày 1 tháng 5, và trước đó là vào các ngày 16, 20 và 28 tháng 4. Sau vụ tấn công thứ ba, tình trạng khẩn cấp đã được ban bố tại khu vực đô thị này.
Bộ Tình trạng Khẩn cấp Nga ngày 29 tháng 4 tuyên bố đã dập tắt các đám cháy ở Tuapse do đợt tấn công gây ra. Nhưng chỉ một ngày sau, một cuộc tấn công mới đã làm bùng phát lại ngọn lửa tại cơ sở này.
Nhà máy lọc dầu Tuapse, nằm trên bờ Hắc Hải thuộc tỉnh Krasnodar, giải quyết khoảng 12 triệu tấn dầu mỗi năm. Ukraine đã tiến hành một chiến dịch tấn công không ngừng nghỉ nhằm vào cơ sở này trong hai tuần qua, đe dọa thị trấn nghỉ dưỡng này ngay khi mùa du lịch bắt đầu.
Sau đợt tấn công đầu tiên, lực lượng cứu hỏa địa phương đã khống chế được đám cháy và thậm chí dập tắt hoàn toàn tại bến hải cảng, nhưng ngọn lửa vẫn tiếp tục âm ỉ tại các khu vực bể chứa, lan rộng hơn sau mỗi đợt tấn công tiếp theo.
Các cuộc tấn công đã khiến hàng chục bể chứa của cơ sở này bị phá hủy hoặc hư hại, đồng thời một nhà máy chế biến dầu thô cũng bị ảnh hưởng.
Hậu quả về môi trường — bao gồm các sản phẩm phụ của dầu mỏ trong không khí và sự việc tràn dầu trên đường phố — đã khiến điểm đến du lịch từng rất hấp dẫn này trở nên không an toàn cho du khách, mặc dù Putin đã hạ thấp mối đe dọa đối với Tuapse.
Theo dữ liệu do Bloomberg tổng hợp, các cuộc tấn công của Ukraine vào cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Nga đã đạt mức cao nhất trong bốn tháng vào tháng Tư, với ít nhất 21 vụ tấn công được ghi nhận nhằm vào các nhà máy lọc dầu, đường ống dẫn dầu và các tài sản dầu khí trên biển.
Theo Bloomberg, các cuộc tấn công đã làm giảm công suất lọc dầu trung bình của Nga xuống còn 4,69 triệu thùng mỗi ngày, mức thấp nhất kể từ tháng 12 năm 2009.
Trong bối cảnh các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Ukraine gia tăng, Nga đã thu hẹp quy mô các lễ kỷ niệm Ngày Chiến thắng ở Mạc Tư Khoa và Putin đề xuất một thỏa thuận ngừng bắn tạm thời trong kỳ nghỉ lễ ngày 9 tháng 5. Ukraine đã đáp trả bằng đề xuất riêng của mình về một lệnh ngừng bắn dài hạn.
[Kyiv Independent: Russian authorities publish list of Tuapse shelters only after days of Ukrainian drone attacks]
5. ‘Thỏa thuận là thỏa thuận, những gì đã được đồng ý cần phải được tuân thủ’: Bà Von der Leyen đáp trả Tổng thống Trump về mối đe dọa áp thuế xe hơi.
Chủ tịch Ủy ban Âu Châu Ursula von der Leyen đã bác bỏ lời đe dọa của Tổng thống Donald Trump về việc tăng thuế đối với xe hơi Âu Châu, đồng thời cảnh báo Washington phải tuân thủ các điều khoản trong thỏa thuận thương mại với Brussels.
Lần đầu tiên lên tiếng kể từ khi Tổng thống Trump tuyên bố hôm thứ Sáu rằng ông sẽ áp thuế 25% đối với xe hơi sản xuất tại Liên Hiệp Âu Châu, bà von der Leyen khẳng định thẳng thừng rằng “thỏa thuận là thỏa thuận, những gì đã được đồng ý cần phải được tuân thủ “.
“Chúng ta đã đạt được thỏa thuận, và cốt lõi của thỏa thuận này là sự thịnh vượng, các quy tắc chung và sự đáng tin cậy,” bà nói trong một cuộc họp báo tại hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp Âu Châu-Armenia ở Yerevan, và than phiền rằng Tổng thống Trump có thói quen hành động bất ngờ như trẻ thơ.
Trong khi Liên Hiệp Âu Châu đang ở “giai đoạn cuối cùng của việc thực hiện các cam kết về thuế quan còn lại”, chủ tịch Ủy ban Âu Châu nói thêm, “Mỹ vẫn còn cam kết... trong đó việc tuân thủ mức trần đã thỏa thuận vẫn chưa hoàn tất.”
Bà cũng nhấn mạnh rằng khối này “đã chuẩn bị cho mọi tình huống”.
Trong cùng cuộc họp báo đó, Chủ tịch Hội đồng Âu Châu António Costa cho biết các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Âu Châu “hoàn toàn ủng hộ” phản ứng của Ủy ban đối với lời đe dọa thương mại mới nhất của Tổng thống Trump.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã thể hiện rõ sự ủng hộ đó tại một cuộc họp báo riêng ở Yerevan với Thủ tướng Armenia Nikol Pashinyan.
“Các thỏa thuận đã được ký kết và phải được tôn trọng; nếu chúng bị đặt dấu hỏi, mọi thứ sẽ lại phải được xem xét lại,” ông nói. “Và nếu một quốc gia bị đe dọa bởi các mức thuế mới, Liên Hiệp Âu Châu có các công cụ để đáp trả, và nên sử dụng chúng, bởi vì đó là mục đích của chúng.”
Ông Macron nói thêm rằng mặc dù các lựa chọn “đang được xem xét”, nhưng các đồng minh thân cận như Brussels và Washington “có những việc quan trọng hơn cần làm thay vì đưa ra những lời đe dọa gây bất ổn”.
Những lời đe dọa áp thuế mới nhất của Tổng thống Trump đánh dấu sự leo thang mạnh mẽ trong mối quan hệ thương mại đầy biến động giữa Washington và Brussels.
Thông báo của ông được đưa ra sau khi Cao ủy Thương mại Liên Hiệp Âu Châu Maroš Šefčovič đến thăm Washington và cho biết thỏa thuận Turnberry vẫn còn nguyên vẹn.
Theo các điều khoản của thỏa thuận đạt được hồi tháng 7 năm ngoái, thuế nhập khẩu của Mỹ đối với xe hơi Âu Châu được ấn định ở mức 15%. Đổi lại, Brussels đồng ý giảm thuế nhập khẩu công nghiệp, mua 750 tỷ đô la năng lượng của Mỹ và đầu tư 600 tỷ đô la vào nền kinh tế Mỹ.
Sau thông báo gây sốc hôm thứ Sáu, Ủy ban ban đầu tránh đối đầu trực tiếp với Tổng thống Trump, chỉ nói rằng Liên Hiệp Âu Châu sẽ “giữ [các] lựa chọn của mình mở”. Phát ngôn nhân cho biết thêm rằng khối này đang thực hiện thỏa thuận “phù hợp với thông lệ lập pháp tiêu chuẩn” và thông báo cho Washington.
Ông Šefčovič dự kiến sẽ gặp Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer tại Paris vào thứ Ba trong một nỗ lực mới nhằm ổn định các cuộc đàm phán sau khi mối đe dọa áp thuế của Tổng thống Trump làm rung chuyển quan hệ thương mại xuyên Đại Tây Dương.
[Politico: A deal is a deal’: Von der Leyen fires back at Trump over auto tariff threat]
6. Tổng thống Trump gọi cuộc xung đột với Iran là một “cuộc chiến tranh thu nhỏ”.
Tổng thống Trump hôm thứ Hai tuyên bố Mỹ đang tham gia vào một “cuộc chiến tranh thu nhỏ”. Trong những ngày này Tổng thống Trump và các quan chức trong chính quyền của ông luôn cố gắng giữ một giọng điệu lạc quan trong khi giá nhiên liệu tiếp tục tăng phi mã.
“Đất nước chúng ta đang phát triển mạnh mẽ, bất chấp thực tế là chúng ta đang trong một — tôi gọi đó là một cuộc chiến tranh thu nhỏ,” tổng thống phát biểu trong một sự kiện dành cho các doanh nghiệp nhỏ tại Tòa Bạch Ốc.
Tổng thống Trump đã nhiều lần gọi cuộc xung đột với Iran là một “cuộc chiến”, có lúc dùng từ này, có lúc lại gọi đó là một “chiến dịch”, một “cuộc thám hiểm”, một “chuyến đi” và một “đường vòng”.
Từ “chiến tranh” có thể là một thuật ngữ mang nhiều ý nghĩa phức tạp bởi vì chính quyền Trump đang cố gắng lách luật khi Quốc hội chưa cho phép sử dụng lực lượng quân sự ở Iran. Vào tháng 3, tổng thống nói rằng ông không thích sử dụng từ này “vì cần phải có sự chấp thuận”.
Lập trường của chính quyền là chiến dịch của Mỹ chống lại Iran, bắt đầu từ cuối tháng Hai, là hợp pháp vì nó nhằm đáp trả mối đe dọa từ lực lượng Iran.
Tuần trước, Tổng thống Trump nói với Quốc hội rằng các cuộc xung đột với Iran đã “chấm dứt” vì Mỹ và Iran đã đạt được thỏa thuận ngừng bắn vào đầu tháng Tư — một quyết định quan trọng vì Nghị quyết Quyền lực Chiến tranh năm 1973 yêu cầu tổng thống phải chấm dứt các cuộc xung đột không được Quốc hội phê chuẩn trong vòng 60 ngày. Đảng Dân chủ đã phản bác lập luận pháp lý đó.
[CBSNews: Trump calls Iran conflict a “mini war”]
7. Đồng minh của Ông Donald Trump lật đổ chính phủ Rumani
Một lãnh đạo phe đối lập thân MAGA đã thành công trong việc dẫn dắt sự sụp đổ của liên minh thân Âu Châu của Rumani hôm thứ Ba sau khi các nhà lập pháp bỏ phiếu ủng hộ kiến nghị bất tín nhiệm đối với Thủ tướng Ilie Bolojan.
George Simion đã đăng trên X rằng đã đến lúc “hòa giải dân tộc” sau kết quả bầu cử. Điều này xảy ra sau khi đảng Dân chủ Xã hội, gọi tắt là PSD cánh tả rút khỏi chính phủ và liên minh với Liên minh Thống nhất người Rumani, gọi tắt là AUR cực hữu của ông để đệ trình một kiến nghị lên Quốc hội vào tuần trước.
Kết quả này đã châm ngòi cho một thời kỳ hỗn loạn mới tại quốc gia thuộc Liên minh Âu Châu, chưa đầy một năm sau khi liên minh cầm quyền nhậm chức.
Ông Simion, người đã thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống Rumani năm ngoái, đang dẫn đầu khá xa trong các cuộc thăm dò dư luận và đã kêu gọi tổ chức bầu cử sớm trong cuộc tranh luận tại quốc hội hôm thứ Ba, theo Politico. Ông được xem là có mối quan hệ mật thiết với Tổng thống Donald Trump và đã đến Washington, DC năm ngoái để dự lễ nhậm chức của Tổng thống Trump.
Ông Bolojan đã chỉ trích nỗ lực này là “thiếu đạo đức và giả tạo” nhưng đã thất bại trong cuộc bỏ phiếu sau khi 281 Dân biểu bỏ phiếu thuận và 4 Dân biểu bỏ phiếu chống. Các Dân biểu từ đảng Tự do Quốc gia, gọi tắt là PNL trung hữu của ông và các đối tác liên minh, đảng Liên minh Cứu Rumani và đảng UDMR nhỏ của người Hung Gia Lợi, đã không tham gia bỏ phiếu.
Rumani đã trải qua một thời kỳ dài bất ổn, và chính phủ liên minh chỉ mới được bầu chọn vào tháng 6 năm ngoái. Đảng PSD đã bất đồng quan điểm với ông Bolojan về các biện pháp thắt lưng buộc bụng, bao gồm tăng thuế và đóng băng tiền lương và lương hưu trong khu vực công.
Lãnh đạo đảng PSD, Sorin Grindeanu, phát biểu sau cuộc bỏ phiếu hôm thứ Ba rằng ông Bolojan nên từ chức. Ông Simion gọi đó là “sự kết thúc của mười tháng mà những người tự xưng là thân Âu Châu chẳng mang lại gì ngoài: thuế, chiến tranh và nghèo đói”.
Cristian Andrei, một nhà tư vấn chính trị ở Bucharest, cho biết rằng một nội các liên minh PSD-AUR là không thể vì Tổng thống thân Liên Hiệp Âu Châu của Rumani, Nicusor Dan, người đã đánh bại Simion trong cuộc bầu cử năm ngoái, sẽ không ủng hộ nó.
Thay vào đó, ông nói với hãng tin AP rằng cuộc khủng hoảng có thể dẫn đến bế tắc vì “không ai có đa số hay liên minh, và tổng thống sẽ mất… nhiều tuần để tìm ra đa số như vậy và bổ nhiệm một thủ tướng mới, kéo dài tình trạng không quyết định.”
Mặc dù cuối cùng ông thua đối thủ theo chủ nghĩa tự do, Simion đã thắng vòng bỏ phiếu đầu tiên trong cuộc bầu cử tổng thống năm ngoái. Ông tranh cử trên cương lĩnh bài Liên minh Âu Châu và kêu gọi cắt giảm viện trợ cho Ukraine.
Ông đã tận dụng lợi thế từ tình hình chính trị hỗn loạn của Rumani năm 2024, khi tòa án tối cao hủy bỏ cuộc bầu cử tổng thống giữa những lo ngại về sự can thiệp của Nga sau khi ứng cử viên cực hữu Calin Georgescu dẫn đầu vòng đầu tiên.
Simion, người về thứ tư trong cuộc đua đó, đã liên minh với Georgescu, người mà ông nói sẽ bổ nhiệm làm thủ tướng nếu ông giành được chức tổng thống. Sau khi thua cuộc bầu cử, ông đã cố gắng thách thức kết quả nhưng nỗ lực của ông đã bị Tòa án Hiến pháp Rumani bác bỏ một cách đồng ý.
Theo các nguồn tin, Simion, một đồng minh của Tổng thống Trump, đã nhiều lần đến Washington, DC, tổ chức các hội nghị “Làm cho Âu Châu vĩ đại trở lại” (Make Europe Great Again), và tự mô tả mình là “ứng cử viên thuộc liên danh MAGA” trong cuộc bầu cử tổng thống.
Khi nói về Tổng thống Trump, ông ấy đã trả lời tờ Washington Times vào Tháng Giêng năm 2025: “Chúng ta đấu tranh cho cùng những giá trị… Chúng ta chia sẻ cùng những mục tiêu: Đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, hợp tác, phát triển kinh tế và chống lại chủ nghĩa Mác mới, chống lại tuyên truyền “woke”, chống lại những kẻ muốn cướp con cái chúng ta khỏi gia đình và muốn nhồi nhét tư tưởng cực đoan vào chúng.”
Tính đến thời điểm bài báo được đăng tải, Tổng thống Trump vẫn chưa bình luận gì về chiến thắng của ông Simion.
[Newsweek: Donald Trump Ally Topples Romanian Government]
8. Mỹ và các đồng minh vùng Vịnh đề xuất nghị quyết của Liên Hiệp Quốc đe dọa trừng phạt Iran vì tình trạng kiểm soát eo biển Hormuz.
Hoa Kỳ và các đồng minh vùng Vịnh đã đề xuất một nghị quyết của Liên Hiệp Quốc đe dọa Iran bằng các biện pháp trừng phạt hoặc các biện pháp khác nếu nước này không ngừng tấn công tàu thuyền ở eo biển Hormuz, ngừng áp đặt “phí bất hợp pháp” và công khai vị trí tất cả các loại thủy lôi để bảo đảm tự do hàng hải.
Dự thảo nghị quyết của Hội đồng Bảo an, mà hãng tin AP thu được hôm thứ Ba, cũng yêu cầu Iran “ngay lập tức tham gia và tạo điều kiện” cho các nỗ lực của Liên Hiệp Quốc nhằm thiết lập một hành lang nhân đạo ở eo biển để vận chuyển viện trợ thiết yếu, phân bón và các hàng hóa khác.
Đây là nỗ lực ngoại giao mới nhất của Mỹ và các đồng minh vùng Vịnh sau khi một nghị quyết giảm nhẹ nhằm mở cửa eo biển bị Trung Quốc và Nga phủ quyết chỉ vài giờ trước khi Washington và Tehran tuyên bố ngừng bắn tạm thời vào đầu tháng Tư.
Các bộ trưởng nội vụ các nước Ả Rập lên án các cuộc tấn công mới của Iran nhằm vào Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.
UAE hôm thứ Ba cho biết Iran đã tấn công vào nước này bằng hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa trong ngày thứ hai liên tiếp, sau khi Iran bắn 15 hỏa tiễn vào quốc gia vùng Vịnh này hôm thứ Hai, làm bị thương ít nhất ba công nhân.
Hôm thứ Ba, ban thư ký chung của Hội đồng Bộ trưởng Nội vụ Ả Rập, bao gồm 22 thành viên của Liên đoàn các quốc gia Ả Rập, đã “lên án mạnh mẽ các cuộc tấn công mới của Iran vào Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, nhắm vào các mục tiêu dân sự và kinh tế bằng hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa”, theo hãng thông tấn nhà nước Syria Sana.
Trong một tuyên bố hôm thứ Ba, Ngoại trưởng Marco Rubio cáo buộc Iran tiếp tục “giữ nền kinh tế thế giới làm con tin” bằng cách cố gắng đóng cửa eo biển, đe dọa tấn công tàu thuyền, rải thủy lôi và tìm cách thu phí “đối với tuyến đường thủy quan trọng nhất thế giới”.
Liệu nghị quyết này có thành công hay không sẽ là “một thử thách thực sự” đối với Liên Hiệp Quốc “với tư cách là một tổ chức hoạt động hiệu quả, có khả năng giải quyết các vấn đề toàn cầu”, Rubio nói thêm tại cuộc họp báo ở Tòa Bạch Ốc.
[CBSNews: U.S., Gulf allies propose U.N. resolution threatening Iran with sanctions over Strait of Hormuz chokehold]
9. Ả Rập Xê Út kêu gọi Mỹ và Iran giảm leo thang căng thẳng trong bối cảnh thỏa thuận ngừng bắn mong manh.
Ả Rập Xê Út kêu gọi giảm leo thang xung đột ở Trung Đông sau khi Iran và Hoa Kỳ đấu súng, làm lung lay thỏa thuận ngừng bắn mong manh.
“Bộ Ngoại giao bày tỏ sự quan ngại của Vương quốc Ả Rập Xê Út về tình trạng leo thang quân sự hiện nay trong khu vực và kêu gọi cần phải giảm leo thang”, Bộ Ngoại giao cho biết trong một tuyên bố được đăng tải trên X.
Bộ này lên án việc Iran tấn công vào các cơ sở dân sự và kinh tế ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và cho biết họ ủng hộ “các nỗ lực ngoại giao nhằm đạt được giải pháp chính trị” trong cuộc chiến.
Trước đó vào thứ Hai, chính phủ UAE cho biết tàu chở dầu của họ đã bị hai máy bay điều khiển từ xa của Iran tấn công tại eo biển Hormuz. Không có ai bị thương trong vụ tấn công.
[CBSNews: Saudi Arabia calls on U.S. and Iran to de-escalate amid fragile ceasefire]
10. Sau khi ông Orban rời nhiệm, ông Fico của Slovakia thay đổi quan điểm về Ukraine.
Thất bại trong cuộc bầu cử của Viktor Orban dường như đang giúp Ukraine cải thiện quan hệ với không chỉ một mà là hai nước láng giềng.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy đã gặp Thủ tướng Slovakia Robert Fico tại Yerevan vào ngày 4 tháng 5, tiếp tục cuộc trao đổi mang tính xây dựng ngoài dự kiến giữa hai nhà lãnh đạo.
Theo chính phủ Slovakia, Tổng thống Zelenskiy và ông Fico đã đồng ý chính phủ hai nước sẽ tổ chức các cuộc đàm phán tại Kyiv hoặc Bratislava vào cuối tháng 6 để phát triển hợp tác trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng giao thông và năng lượng.
“Chúng ta là láng giềng, chúng ta phải nỗ lực duy trì quan hệ tốt đẹp”, Fico nói về một quốc gia mà ông mới đây đã chỉ trích gay gắt về sự việc gián đoạn đường ống dẫn dầu Druzhba.
Tổng thống Ukraine cho biết hai người đã thảo luận về “hợp tác trên nhiều lĩnh vực” và tuyên bố rằng Kyiv “quan tâm đến việc phát triển mối quan hệ mạnh mẽ”.
Trong cuộc điện đàm với Tổng thống Zelenskiy vào ngày 2 tháng 5, nhà lãnh đạo Slovakia cũng nhắc lại sự ủng hộ của mình đối với nỗ lực gia nhập Liên Hiệp Âu Châu của Ukraine và nhấn mạnh rằng không thể đạt được thỏa thuận hòa bình nào với Nga nếu không có Kyiv tham gia đàm phán.
Grigorij Meseznikov, chủ tịch Viện Nghiên cứu Chính sách Công, gọi tắt là IVO ở Bratislava, cho biết những quan điểm này không phải là mới đối với Fico.
Chuyên gia này lập luận rằng, sau khi bị suy yếu bởi thất bại của ông Orban, thủ tướng Slovakia hiện đang nỗ lực xóa bỏ hình ảnh thân Nga và cải thiện quan hệ với Liên Hiệp Âu Châu.
“Robert Fico đã mất đi đồng minh của mình — cụ thể là một đồng minh trong các vấn đề liên quan đến cuộc chiến Nga-Ukraine,” Meseznikov nói với tờ Kyiv Independent.
Ông Fico, người sẽ trở lại làm thủ tướng Slovakia vào năm 2023, được nhiều người coi là một nhà lãnh đạo thân Cẩm Linh, liên tục ủng hộ các quan điểm thân Mạc Tư Khoa và phản đối viện trợ quân sự cho Ukraine.
Ông cũng là nhà lãnh đạo duy nhất của Liên Hiệp Âu Châu dự kiến sẽ đến Mạc Tư Khoa vào ngày 9 tháng 5 để tham dự lễ kỷ niệm Ngày Chiến thắng, một sự kiện tuyên truyền bị phương Tây tẩy chay.
Giống như Budapest, Bratislava đã cản trở việc thông qua gói trừng phạt thứ 20 của Liên Hiệp Âu Châu đối với Nga do việc đình chỉ vận chuyển dầu qua đường ống Druzhba, tuyến đường vận chuyển dầu thô của Nga đến Hung Gia Lợi và Slovakia.
Nhưng một sự thay đổi rõ rệt đã xuất hiện sau thất bại của Orban trong cuộc bầu cử Hung Gia Lợi ngày 12 tháng 4.
Ngay sau đó, Ukraine tuyên bố hoàn thành việc sửa chữa và khôi phục ga trung chuyển Druzhba, khiến Budapest và Bratislava rút lại quyền phủ quyết vào ngày 23 tháng 4.
Truyền thông Slovakia cũng đưa tin vào ngày 22 tháng 4 rằng, không giống như năm ngoái, chuyến thăm Mạc Tư Khoa của Fico sẽ không bao gồm việc tham gia cuộc duyệt binh.
Tuy nhiên, nhà lãnh đạo Slovakia vẫn dự định gặp Putin và đặt hoa tại Lăng mộ Chiến sĩ Vô danh.
Ông Fico dường như cũng đang đặt nền móng cho mối quan hệ thân thiết hơn với ban lãnh đạo mới của Hung Gia Lợi.
Trong một hội nghị thượng đỉnh Âu Châu ở Yerevan, ông đã chia sẻ một bức ảnh chụp cùng Thủ tướng Cộng hòa Tiệp Andrej Babis và Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk, kèm chú thích: “Ba người lính ngự lâm đang chờ người thứ tư và sự hồi sinh của V4 (Nhóm bốn nước Visegrad)”.
“Người lính ngự lâm thứ tư” dường như là ám chỉ đến đối thủ của Orban và là thủ tướng sắp nhậm chức của Hung Gia Lợi, Peter Magyar.
Sự thay đổi này đã mang lại một số lạc quan ở Ukraine.
“Putin đặt cược vào Orban với tư cách là người lãnh đạo một liên minh chống Ukraine và thân Nga ở Âu Châu. Ông ta hy vọng rằng Fico sẽ noi theo tấm gương của Orban”, Oleksandr Merezhko, nhà lãnh đạo ủy ban đối ngoại của quốc hội Ukraine, nói với Kyiv Independent.
“Giờ đây chúng ta có cơ hội cải thiện đáng kể quan hệ không chỉ với Hung Gia Lợi mà còn với Slovakia.”
Tuy nhiên, Meseznikov vẫn giữ thái độ trung lập. Ông tóm tắt đường lối của Fico là “chủ nghĩa thực dụng… thậm chí là chủ nghĩa cơ hội”.
Mặc dù có nhiều quan điểm chung với Orban, Fico lại thận trọng và chọn lọc hơn trong việc cản trở sự hỗ trợ của Liên Hiệp Âu Châu dành cho Ukraine.
Việc ông ngần ngại đối đầu trực tiếp với phần còn lại của khối Âu Châu — ít nhất là so với ông Orban — có thể đang định hình chiến lược hiện tại của ông.
Ông Fico, người sắp tiếp đón Thủ tướng Đức Friedrich Merz vào cuối tháng 5, có thể đang tìm cách tiếp xúc với Kyiv để chứng minh với Liên Hiệp Âu Châu rằng ông không phải là một “chính trị gia thân Nga”, theo lời ông Meseznikov.
“Tôi nghĩ giờ ông ấy sẽ bắt đầu chơi trò chơi với Liên Hiệp Âu Châu, nói rằng, 'Tôi sẽ nhượng bộ, tôi sẽ cư xử tốt, nhưng các bạn cũng phải nhượng bộ những yêu cầu của tôi'“, chuyên gia này nói thêm.
Nhưng lập trường mới này đã vấp phải sự phản đối trong nước — cụ thể là từ các đối tác liên minh cấp tiến hơn của Fico.
Andrej Danko, chủ tịch Đảng Quốc gia Slovakia, gọi tắt là SNS - một đối tác nhỏ trong liên minh do Fico lãnh đạo cùng với đảng Smer - đã chỉ trích thủ tướng vì ủng hộ nỗ lực gia nhập Liên Hiệp Âu Châu của Kyiv và vì không ngăn chặn khoản vay 90 tỷ euro của Liên Hiệp Âu Châu.
Fico tự bào chữa, lập luận rằng ông đã bảo đảm Slovakia sẽ không đóng góp vào khoản vay, đồng thời khẳng định quyền của Ukraine trong việc tìm kiếm tư cách thành viên Liên Hiệp Âu Châu “nếu đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn”.
Ngày 4 tháng 5, nhà lãnh đạo Slovakia cũng lưu ý rằng ông và Tổng thống Zelenskiy “không hề ưa nhau”, đồng thời nhắc lại lập trường phản đối viện trợ quân sự của Slovakia cho Kyiv - điều này cho thấy rõ sự thay đổi quan điểm của ông.
Theo Fico, ông và Tổng thống Zelenskiy có “quan điểm hoàn toàn trái ngược” về nhiều vấn đề.
“Mặt khác, chúng ta là hàng xóm của nhau,” ông ấy nói thêm.
[Kyiv Independent: With Orban out, Slovakia's Fico shifts tone on Ukraine]
Bạo lực vô nghĩa: Hung thủ lao xe hết ga, thẳng vào đám đông, nhiều người thiệt mạng và bị thương
VietCatholic Media
17:37 06/05/2026
1. Nhiều người đi bộ thiệt mạng và hàng chục người bị thương khi xe lao vào đám đông ở Đức.
Trong một thông báo được đưa ra hôm Thứ Ba, 05 Tháng Năm, Đức Cha Heinrich Timmerevers của giáo phận Dresden-Meißen cho biết ngài bàng hoàng khi biết tin về vụ một tài xế lao thẳng xe vào đông ở trung tâm Leipzig, Đức, hôm Thứ Hai, 04 Tháng Năm.
“Tôi phó thác linh hồn của những người thiệt mạng cho Lòng Chúa Thương Xót, và khẩn cầu ơn chữa lành cho những người bị thương, ơn an ủi cho gia đình các nạn nhân, và ơn phù trợ cho những người tiếp cứu đầu tiên trong biến cố bi thảm này,” ngài nói.
Ít nhất hai người thiệt mạng và 25 người khác bị thương sau khi một chiếc xe lao vào đám đông ở trung tâm Leipzig, Đức, hôm thứ Hai, đài phát thanh Leipzig đưa tin. Các quan chức xác nhận với hãng thông tấn AP rằng ít nhất hai nạn nhân bị thương nặng và đang phải chiến đấu giành giật mạng sống với tử thần.
Vụ việc xảy ra trên đường Grimmaische Strasse, một tuyến đường dành cho người đi bộ chính dẫn vào khu mua sắm trung tâm của Leipzig, vào khoảng 5 giờ chiều giờ địa phương.
Theo hãng tin AP, các quan chức cho biết nghi phạm là một người đàn ông 33 tuổi, sinh ra ở Đức và hiện đang sinh sống tại khu vực Leipzig.
Phát ngôn nhân cảnh sát Susanne Lübcke cho biết tài xế đã dừng xe và vẫn ở trong xe khi bị bắt giữ.
Các công tố viên cho biết một nghi phạm đang bị điều tra vì nghi ngờ giết người và âm mưu giết người. Hiện chưa có thông tin nào về động cơ gây án.
Vụ việc xảy ra trong bối cảnh bạo lực chính trị đang trở thành tâm điểm chú ý trên toàn thế giới, bao gồm cả ở Mỹ, nơi các vụ đâm xe đã xảy ra ở nhiều thành phố trong những năm gần đây, trong đó có các vụ việc gây chú ý ở Charlottesville, Virginia, Minneapolis và New Orleans.
Trong những năm gần đây, Đức đã phải đối mặt với một số vụ đâm xe vào đám đông gây chấn động dư luận. Vào tháng 12 năm 2024, hai người thiệt mạng và 68 người khác bị thương khi một chiếc xe lao vào đám đông tại chợ Giáng Sinh ở Magdeburg. Thông thường, các nhà chức trách sẽ phản ứng hết sức thận trọng cho đến khi động cơ và hoàn cảnh của người lái xe được làm rõ.
Theo hãng tin AP, Armin Schuster, bộ trưởng nội vụ bang Saxony, cho biết các nhà điều tra tin rằng tài xế đã hành động một mình.
Thị trưởng Leipzig, Burkhard Jung, nói với AP rằng ba người bị thương nặng và đã được đưa đến bệnh viện sau vụ việc. Schuh nói thêm rằng 20 người khác cũng bị “ảnh hưởng” nhưng không cung cấp thêm chi tiết, theo AP đưa tin.
Ông Jung cho biết chưa rõ động cơ gây án, nhưng nói thêm rằng “hiện không còn nguy hiểm nữa…tình hình đã được kiểm soát. Cảnh sát đã bắt giữ nghi phạm.”
Theo hãng tin AP, cảnh sát trưởng René Demmler cho biết nghi phạm đã lái xe từ Augustusplatz, một quảng trường lớn, dọc theo đường Grimmaische Strasse vào khu mua sắm dành cho người đi bộ ở trung tâm thành phố.
Đài phát thanh Leipzig xác định chiếc xe là một chiếc SUV hiệu Volkswagen và cho biết nó đã được nhìn thấy chạy quá tốc độ qua khu vực dành cho người đi bộ trước khi xảy ra vụ tai nạn. Theo báo cáo của Reuters, các nhân chứng nói với đài phát thanh rằng một số thi thể đã được phủ bằng khăn. Hình ảnh từ hiện trường cho thấy một chiếc xe bị hư hỏng nặng phần đầu và một gương chiếu hậu bị vỡ.
Leipzig, nằm cách Berlin khoảng 240 km về phía tây nam, có dân số hơn 630.000 người, trở thành một trong những thành phố lớn nhất ở miền đông nước Đức.
Source:Newsweek
2. Giáo phận Rôma thông báo về cuộc gặp gỡ giữa Kitô giáo và Hồi giáo tại Thánh đường Hồi giáo lớn.
Tòa Giám mục Rôma đã thông báo rằng Thánh đường Hồi giáo lớn ở Rôma sẽ tổ chức một cuộc gặp gỡ liên tôn giáo mang tên “Cristiani e musulmani in dialogo alla Grande Moschea” vào thứ Năm, ngày 7 tháng 5 năm 2026, lúc 5 giờ chiều. Động thái này đã làm dấy lên cuộc tranh luận về cách ứng xử đúng mực trong các cuộc gặp gỡ liên tôn và đại kết.
Sự kiện này do Trung tâm Văn hóa Hồi giáo Ý (Centro Islamico Culturale d'Italia) và Giáo phận Rôma phối hợp tổ chức. Những người tham gia thuộc Giáo Hội Công Giáo bao gồm Giám Mục Phụ Tá Marco Valenti của Khu vực phía Bắc, Đức Cha Marco Gnavi, phụ trách Văn phòng Đại kết, đối thoại liên tôn và các tín ngưỡng mới, và Giáo sư Wasim Salman của PISAI (Viện Giáo hoàng về Nghiên cứu Ả Rập và Hồi giáo). Về phía Hồi giáo sẽ có sự tham gia của Tiến sĩ Abdellah Redouane, tổng thư ký Trung tâm Văn hóa Hồi giáo Ý, và Imam Nader Akkad, người sẽ hướng dẫn tham quan đền thờ Hồi giáo.
Trong cuộc gặp gỡ, Hội đồng Giám mục Ý và PISAI sẽ giới thiệu “Thẻ tìm hiểu về Hồi giáo” – những tờ thông tin về Hồi giáo do một ủy ban hỗn hợp Kitô giáo-Hồi giáo cùng biên soạn. Sự kiện này mở cửa miễn phí cho công chúng. Trong thông cáo báo chí chính thức ngày 30 tháng 4 năm 2026, Đức Cha Gnavi nhấn mạnh cam kết lâu dài của Giáo phận Roma đối với đối thoại, dẫn chứng tấm gương của Đức Thánh Cha Lêô XIV và đề cập đến thông điệp Fratelli Tutti của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Ngài nhắc lại chuyến thăm của Hồng Y Baldassare Reina đến cùng đền thờ Hồi giáo này vào ngày 10 Tháng Giêng năm 2025 và mô tả cuộc gặp sắp tới là cơ hội để mở rộng “không gian hòa bình” trong một thế giới đầy xung đột và bạo lực.
Phản ứng chỉ trích đã diễn ra nhanh chóng. Nhiều tiếng nói Công Giáo truyền thống đã đặt câu hỏi về sự khôn ngoan của việc tổ chức các sự kiện đối thoại cao cấp bên trong một đền thờ Hồi giáo lớn trong khi các Kitô hữu đang phải đối mặt với sự đàn áp trên khắp thế giới Hồi giáo.
Những nhà quan sát đáng chú ý đã chỉ ra sự bất đối xứng: Các nhà lãnh đạo Công Giáo thường xuyên thể hiện những cử chỉ huynh đệ bên trong các thể chế Hồi giáo, trong khi việc tiếp cận hoặc sự tương hỗ mang tính biểu tượng tương tự đối với việc thờ phượng của người Kitô giáo ở nhiều khu vực đa số theo đạo Hồi vẫn bị hạn chế hoặc không thể thực hiện được.
Source:Catholic Herald
3. Giáo Hội Công Giáo Mexico huy động lực lượng phản đối dự luật an tử.
Giáo Hội Công Giáo Mexico đang huy động sự phản đối đối với dự luật an tử đang được ủng hộ mạnh mẽ tại Thượng viện nước này, khi các nhà lập pháp, nhà hoạt động và lãnh đạo Giáo hội xung đột về vấn đề chăm sóc cuối đời sau cuộc tranh luận mới vào tháng 4 năm 2026.
Ít nhất 2.000 người biểu tình đã tập trung tại Thành phố Mexico vào ngày 25 tháng 4 cho cuộc Tuần hành vì Sự sống thường niên, nơi những người tham gia phản đối cả di sản của việc phi hình sự hóa phá thai ở thủ đô và viễn cảnh hợp pháp hóa an tử. Tổng giáo phận Thành phố Mexico đã kêu gọi các tín hữu Công Giáo tham dự, cảnh báo trong một bài xã luận rằng “phá thai, an tử và tự sát là những tai họa tấn công nhân loại dưới vỏ bọc là những lựa chọn hợp lý khi đối mặt với đau khổ”, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải có lòng thương xót đối với những người đang gặp khó khăn.
Nỗ lực lập pháp hiện tại tập trung vào dự luật do nhà hoạt động Samara Martínez đệ trình. Bà mắc nhiều bệnh nan y và đã trải qua hai ca ghép thận thất bại. Đề xuất của bà, thu hút sự ủng hộ của hơn 128.000 công dân và 2.000 chuyên gia chăm sóc sức khỏe, sẽ cho phép an tử trong điều kiện được quy định, yêu cầu sự chấp thuận từ cả thành viên gia đình và ủy ban đạo đức sinh học. Dự luật cũng quy định việc tiếp tục cung cấp chăm sóc giảm nhẹ song song với bất kỳ thủ tục được cho phép nào.
Sự ủng hộ đối với biện pháp này dường như đang ngày càng tăng trong giới lập pháp. Thượng Nghị Sĩ Emmanuel Reyes Carmona thuộc đảng cầm quyền Morena cho biết hầu hết các đồng nghiệp của ông đều ủng hộ dự luật, dẫn chứng nghiên cứu cho thấy có tới 70% người Mexico ủng hộ việc trợ tử về nguyên tắc.
Tuy nhiên, các đại diện của Giáo hội lại phản bác đánh giá đó và cho rằng truyền thống văn hóa và gia đình của Mexico vẫn kiên quyết phản đối việc này. Cha Alejandro Álvarez, thuộc Bộ Mục vụ Quốc gia về Sự sống, cho biết cấu trúc xã hội của đất nước bắt nguồn từ việc chăm sóc người già và người bệnh, và khẳng định rằng Giáo hội sẽ tiếp tục bảo vệ sự sống đồng thời thúc đẩy các giải pháp thay thế như chăm sóc giảm nhẹ.
Các nhà vận động chăm sóc sức khỏe Công Giáo cũng bày tỏ lo ngại về tình trạng chăm sóc cuối đời ở Mexico. Sơ Susana Lúa, một bác sĩ và chuyên gia chăm sóc giảm nhẹ ở Guadalajara, cho biết hiện chỉ có khoảng 1,5% những người cần được tiếp cận với các dịch vụ này. Bà lập luận rằng việc kiểm soát cơn đau và hỗ trợ không đầy đủ có thể khiến bệnh nhân cân nhắc đến việc an tử, đồng thời lưu ý rằng nhiều người ban đầu yêu cầu điều này đã thay đổi ý định sau khi được chăm sóc đúng cách.
Cuộc tranh luận diễn ra sau nỗ lực bất thành trong việc hợp pháp hóa an tử ở Mexico năm 2023 và theo xu hướng rộng hơn trong khu vực, với việc hợp pháp hóa tự sát có hỗ trợ ở Colombia năm 2022 và an tử được chấp thuận ở Ecuador năm 2024. Mặc dù chưa có cuộc bỏ phiếu nào được lên lịch, nhưng động lực lập pháp mới cho thấy vấn đề này sẽ vẫn là tâm điểm của các cuộc tranh luận chính trị và đạo đức trong những tháng tới.
Source:Catholic Herald
4. Các giám mục Anh giáo bội giáo đã tạo điều kiện cho việc ban hành Đạo luật phá thai.
Đầu năm nay, Thượng viện đã tranh luận về một sửa đổi đối với Dự luật Tội phạm và Cảnh sát, theo đó sẽ ngăn chặn việc hợp pháp hóa hoàn toàn việc phá thai tự nguyện. Đáng khen là, Tổng Giám Mục Canterbury đã phát biểu ủng hộ sửa đổi này, và bà cùng chín giám mục khác có mặt đã bỏ phiếu tán thành. Điều này thật tốt. Tuy nhiên, quá ít người nhớ rằng các vị giám mục tiền nhiệm của bà đã đóng vai trò lớn trong việc soạn thảo và thông qua Đạo luật Phá thai ngay từ đầu, và do đó đã góp phần tạo nên thực trạng kinh hoàng, đen tối hiện nay, nơi chúng ta giết chết một phần ba số trẻ em trong bụng mẹ. Một số sự thật từ hồ sơ công khai cho thấy cần được xem xét ở đây, và hy vọng rằng điều này có thể thúc đẩy – hoặc thậm chí là khiến – Nữ Tổng Giám Mục và các đồng nghiệp của bà có lập trường kiên quyết hơn về vấn đề này.
Chiến dịch vận động nghị viện cho việc hợp pháp hóa phá thai bắt đầu với hai dự luật được đệ trình tại Hạ viện vào năm 1961 và 1965, nhưng cả hai đều thất bại trước khi đến Thượng viện. Dự luật phá thai đầu tiên được trình lên các giám mục và các đồng nghiệp thế tục của họ là Dự luật Phá thai năm 1965 của Lord Silkin, đề xuất cho phép phá thai dựa trên các lý do như “nguy cơ nghiêm trọng” gây “tổn thương nghiêm trọng” đến sức khỏe tinh thần hoặc thể chất của người mẹ; nguy cơ dị tật; người mẹ không đủ khả năng nuôi con; hoặc nếu người mẹ mang thai khi chưa đủ 16 tuổi, hoặc do bị cưỡng hiếp.
Hai giám mục đã phát biểu trong lần đọc thứ hai của dự luật này. Đầu tiên, Giám mục Southwark, Mervyn Stockwood, đã “lên án” những nỗ lực nhằm phá hoại dự luật và ca ngợi nỗ lực của tác giả trong việc giải quyết vấn đề phá thai một cách “thông minh, phù hợp với một xã hội trưởng thành”. Sau đó, Giám mục Exeter, Robert Mortimer – từng là Giáo sư danh dự về Thần học Luân lý và Mục vụ tại Oxford – cũng phát biểu, lập luận rằng “Có thể nói rằng thai nhi, đứa trẻ chưa sinh, không phải là một thành viên của loài người theo nghĩa thông thường của những từ đó, nhưng nó có tiềm năng trở thành như vậy… Trong trường hợp có mối đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe thể chất hoặc sức khỏe tinh thần của đứa trẻ, chúng tôi cho rằng phá thai có thể là hợp pháp.” Nếu chúng ta nhớ rằng phần lớn trong số khoảng 250.000 ca phá thai hàng năm ở Anh hiện nay được thực hiện vì lý do “sức khỏe tâm thần”, chúng ta sẽ có lý do để nghi ngờ lập luận lộn xộn, mang hơi hướng triết học Thomistic này.
Kết thúc cuộc tranh luận lần đọc thứ hai, các giám mục đã bỏ phiếu với tỷ lệ ba phiếu thuận và không có phiếu chống để dự luật được chuyển sang giai đoạn ủy ban, cùng với sáu mươi bốn quý tộc thế tục không theo Công Giáo trong nhóm vận động “Nội dung”. Chỉ có tám Thượng Nghị Sĩ bỏ phiếu chống lại dự luật, bảy trong số đó là người Công Giáo. Một trong số đó là Nam tước Vaux thứ 9 của Harrowden, được biết đến nhiều hơn với tên gọi Linh mục Dom Gabriel Gilbey OSB của Tu viện Ampleforth. Trong suốt các cuộc tranh luận của Thượng viện về vấn đề phá thai, các bài phát biểu của ngài đã bảo đảm rằng Thượng viện được nghe ít nhất một tiếng nói chân chính của giới linh mục (“Dự luật mở ra viễn cảnh tàn sát hàng loạt trẻ sơ sinh… đừng thêm tiếng nói của các vị vào tiếng nói của kẻ cám dỗ nguyên thủy bằng cách nói với toàn bộ giới y khoa: “Các bạn sẽ có quyền hạn như thần thánh”.”).
Những lời cảnh báo của Dom Gabriel đã không được lắng nghe, và dự luật năm 1965 này đã được đưa vào giai đoạn ủy ban. Tại đó, các giám mục của Exeter và Southwark đã bày tỏ sự ủng hộ thận trọng đối với việc phá thai dựa trên lý do dị tật thai nhi. Giám mục Southwark nói về chuyến thăm của ông đến một khu dành cho trẻ em bị dị tật nghiêm trọng: “Việc chúng có phải là con người hay không là một vấn đề thần học vượt quá sự hiểu biết của tôi. Tất cả những gì tôi có thể nói là nếu có thể biết trước rằng người ta có thể ngăn chặn sự ra đời của những đứa trẻ đó, tôi chắc chắn rằng người ta nên ngăn chặn điều đó.” Giám mục Leicester có quan điểm thẳng thắn hơn: ông tuyên bố sẵn sàng ủng hộ điều khoản cho phép phá thai trong trường hợp dị tật, theo lời ông, “có nhiều khả năng xảy ra hơn là không”.
Các giám mục của Southwark và Leicester cũng đã bỏ phiếu giữ lại điều khoản trong dự luật của Lord Silkin, theo đó việc thụ thai trước 16 tuổi sẽ tự động được coi là lý do để phá thai. Về những trường hợp như vậy, Leicester nói: “Cho dù chúng ta phá thai hay nhận con nuôi, trong cả hai trường hợp có lẽ đều sẽ có một số trải nghiệm đau thương, nhưng đối với tôi, tôi cảm thấy rằng quá trình ngắn hơn có nhiều khả năng mang lại lợi ích hơn, hoặc ít nhất là không gây hại bằng, quá trình dài hơn.”
Thượng viện đã gửi dự luật của Lord Silkin đến Hạ viện vào tháng 3 năm 1966, ngay trước khi Quốc hội giải tán, và Hạ viện không có thời gian để xem xét. Tuy nhiên, trong cuộc tranh luận về lần đọc thứ hai vào tháng 11 năm 1965, giám mục Exeter đã đưa ra một đề xuất rất quan trọng. Ông nói rằng Giáo hội Anh đã soạn thảo một dự luật về phá thai; liệu Lord Silkin có xem xét việc yêu cầu một số giám mục giúp ông đưa ra một dự luật mới theo hướng đó hay không?
Exeter đang đề cập đến dự thảo luật được nêu trong báo cáo “Phá thai: Một cuộc thảo luận về đạo đức”, do Ủy ban Trách nhiệm Xã hội của Giáo hội Anh vừa công bố. Báo cáo này, được viết bởi một nhóm gồm mười nhà đạo đức học và bác sĩ y khoa, trong đó có bốn người thuộc dòng tu Anh giáo, khuyến nghị cho phép phá thai trong trường hợp “đe dọa nghiêm trọng” đến “sức khỏe thể chất và tinh thần” của người mẹ. Mối đe dọa này sẽ được đánh giá dựa trên “môi trường tổng thể” của người mẹ, bao gồm các yếu tố như số con, tình hình tài chính và những yếu tố tương tự. Báo cáo và dự thảo luật kèm theo đã ảnh hưởng rất lớn đến những nỗ lực của quốc hội dẫn đến Đạo luật Phá thai năm 1967, và nhiều từ ngữ trong báo cáo này vẫn còn vang vọng trong đạo luật đó.
Trở lại với Thượng viện năm 1966: Dự luật đầu tiên của Lord Silkin đã hết thời hạn nghị viện vào tháng 3 năm đó. Một tháng sau, trong kỳ họp Quốc hội tiếp theo, ông đã trình một dự luật mới, sao chép văn bản cuối cùng của dự luật đầu tiên sau khi được Thượng viện sửa đổi và thông qua. Dự luật này cũng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các Thượng Nghị Sĩ tinh thần, điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì họ đã đóng góp rất nhiều vào việc định hình phiên bản trước đó.
Tuy nhiên, dự luật thứ hai của Lord Silkin cũng không được thông qua tại Hạ viện. Dự luật tiếp theo, dự luật năm 1967, là dự luật được thông qua thành luật, trở thành Đạo luật Phá thai năm 1967. Nó bắt đầu tại Hạ viện, nơi nó được David Steel giới thiệu. Sau khi được thông qua tại Hạ viện, nó nhanh chóng được xem xét tại Thượng viện. Ở dạng cuối cùng, nó cho phép phá thai khi hai bác sĩ đồng ý rằng:
(a) việc tiếp tục thai kỳ sẽ gây ra rủi ro đến tính mạng của người phụ nữ mang thai, hoặc gây tổn hại đến sức khỏe thể chất hoặc tinh thần của người phụ nữ mang thai hoặc bất kỳ đứa con nào hiện có trong gia đình cô ấy, lớn hơn so với việc chấm dứt thai kỳ; hoặc
(b) 'có nguy cơ đáng kể là nếu đứa trẻ được sinh ra sẽ mắc phải những dị tật về thể chất hoặc tinh thần đến mức bị khuyết tật nghiêm trọng'.
Như Lord Vaux đã nhận xét, trên thực tế, điều này sẽ sớm trở thành giấy phép cho việc phá thai theo yêu cầu.
Vào giai đoạn cuối của quá trình thông qua dự luật tại Thượng viện, các giám mục đã bỏ phiếu bốn phiếu chống lại một sửa đổi mang tính hủy hoại. Vào thời điểm đó, Ian Ramsey, người từng là Giáo sư Nolloth về Triết học Tôn giáo Kitô tại Oxford và đồng tác giả của cuốn sách “Phá thai: Một cuộc thảo luận về đạo đức”, đang là giám mục của Durham tại Thượng viện. Trong cuộc tranh luận về dự luật đã được thông qua, ông nói về bào thai người: “Tôi không nói về sự sống của nó; tôi nghĩ rằng về mặt ngữ nghĩa, điều đó cũng tai tiếng và có vấn đề như bất cứ điều gì khác.”
Với thái độ như vậy của Giáo hội Anh, vốn thực tế đã soạn thảo một phần không nhỏ của đạo luật này, Đạo luật Phá thai năm 1967 đã được Thượng viện thông qua và trở thành luật. Giờ đây, sau 58 năm, khoảng một phần tư triệu ca phá thai được thực hiện ở Anh mỗi năm theo chính đạo luật đó. Ngày nay, các giám mục Anh giáo thường tránh nói về vấn đề phá thai, vì họ sợ làm phật lòng phe Tin Lành bảo thủ đang rất mạnh mẽ trong Giáo hội Anh, phe đã ủng hộ phong trào bảo vệ sự sống vào cuối những năm 1970 và hiện đang hết sức kiên định với nó. Nhưng sự im lặng của các giám mục ngày nay không nên khiến chúng ta quên rằng các giám mục của những năm 1960 đã xây dựng, ủng hộ và bỏ phiếu cho chính đạo luật đã cho phép nền văn minh của chúng ta tự hủy diệt bằng một cuộc diệt chủng do chính mình gây ra. Vào thời điểm đó, khi người ta biết rất ít về phá thai và những ảnh hưởng của nó, chỉ có các vị giám mục Công Giáo – những nô lệ mù quáng của giáo điều trong mắt người Anh giáo – mới có tầm nhìn để thấy trước thảm họa.
Bài phát biểu và lá phiếu của Tổng Giám Mục Canterbury vào ngày 18 tháng 3 đáng được khen ngợi. Câu hỏi đặt ra là liệu Giáo hội Anh có thể đưa ra những nhận định sáng suốt về vấn đề phá thai ngày nay theo cách mà họ đã hoàn toàn thất bại vào những năm 1960 hay không?
Source:Catholic Herald