Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.
14 “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. 15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. 16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”
Đó là Lời Chúa

“Anh em là muối cho đời; nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại được?”.
Một đứa trẻ bị bắt cóc đem vào rừng từ thuở bé. Lớn lên giữa bầy khỉ, em sống như khỉ cho đến ngày được tìm thấy. Phải mất nhiều năm để giúp em nhận ra mình là người.
Kính thưa Anh Chị em,
Bi kịch không phải là sống trong rừng, nhưng là quên mình là người. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu gọi các môn đệ là muối; nhưng muối có thể nhạt. Lời Chúa cảnh báo một nguy cơ tương tự: quên mình là ai. Đó là lúc người môn đệ trở nên ‘ngơ như muối’.
Khi nói “muối nhạt đi”, Matthêu dùng động từ mōranthē. Thật thú vị, trong nguyên ngữ Hy Lạp, động từ này không chỉ có nghĩa là mất vị, nhưng còn là “trở nên ngốc nghếch”, “mất khôn ngoan”. Điều đáng sợ không phải là thế giới thiếu muối, nhưng là muối quên mình là muối. Khi đó, muối vẫn còn đó, nhưng không còn là chính mình. Đó cũng là điều xảy ra khi người môn đệ quên mình là ai: vẫn hiện diện, nhưng không còn ướp mặn trần gian bằng Tin Mừng. Tan biến là quên mình là ai; tan ra là nhớ mình được sai đi để làm gì. “Hãy từ bỏ bản thân, và bạn sẽ tìm thấy con người đích thực của mình. Hãy mất mạng sống mình, và bạn sẽ cứu được nó!” - C. S. Lewis.
Điều làm muối mất vị không phải là sự hiện diện giữa thế gian, nhưng là sự đồng hoá với thế gian. Người môn đệ được sai vào đời để ướp mặn đời, chứ không phải để tan biến trong đời. Mỗi lần chúng ta đánh đổi sự thật lấy an toàn, đánh đổi lương tâm lấy thuận lợi, hay đánh đổi điều đúng đắn để giữ sĩ diện, vị mặn Kitô hữu lại nhạt đi. Khi ấy, bạn và tôi tự tước mất vị mặn của đời mình. Nói cách khác, khi việc làm không còn phản ánh điều mình tin, khi đời sống không còn mang hương vị của Tin Mừng, người môn đệ bắt đầu trở nên ‘ngơ như muối’.
Bà goá Sarepta là mẫu gương của một đức tin chưa nhạt. Dù chỉ còn một nắm bột và chút dầu cuối cùng, bà vẫn dám tin lời ngôn sứ - bài đọc một. Thay vì để sự khan hiếm quyết định tương lai, bà để ánh sáng của Thiên Chúa dẫn đường. Vì thế, điều kỳ diệu không bắt đầu từ hũ bột không cạn hay bình dầu không vơi, nhưng từ một trái tim biết ngước nhìn lên Thiên Chúa. “Lạy Chúa, xin toả ánh tôn nhan Ngài trên chúng con!” - Thánh Vịnh đáp ca.
Anh Chị em,
Đức Kitô là Muối Thiên Chúa gửi vào thế gian. Ngài đã đi vào một nhân loại đang nhạt dần tình yêu, nhạt dần sự thật và nhạt dần lòng thương xót. Bằng cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của mình, Ngài trả lại cho con người hương vị nguyên thuỷ của đời sống làm con Thiên Chúa. Chỉ khi ở lại trong Chúa Kitô, chúng ta mới không trở nên nhạt nhẽo giữa một thế giới đang quen dần với sự tầm thường. Môn đệ không được gửi vào đời để hòa tan, mà để làm biến đổi thực tại từ bên trong. “Người Kitô hữu không biết trao ban chính mình sẽ trở nên cằn cỗi!” - Phanxicô.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin giữ đức tin con luôn mặn mà; lương tâm con luôn thức tỉnh; và đừng để con ‘ngơ như muối’ mà quên mình thuộc về Ngài!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
11. Thiên Chúa yêu thích nhất là người vui vẻ.
(Thánh Philip Neri)Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")
--------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Khách đến một nhà của người quen, ông chồng luôn miệng la lớn “đem trà lại đây”, vợ nói:
- “Cuối năm không bán trà lá, nước trà đâu mà có”.
Chồng nói:
- “Nước đun sôi cũng được”.
Vợ trả lời:
- “Củi rơm không có một cọng, lấy gì đun sôi?”.
Chồng liền chửi:
- “Đồ dâm phụ chó, lẽ nào trong bao gối không có vài cọng rơm?”
Vợ chửi lại:
- “Đồ rùa thúi, đó là mấy cục đá làm gối, lẽ nào đốt được?”
(Tiếu lâm quảng ký)
Suy tư 46:
Vì sĩ diện mà đôi lúc làm cho con người ta mất đi cả…sĩ diện, và có lúc làm cho vợ chồng bất hòa vì cái sĩ diện của chồng (vợ).
Có những gia đình nghèo, nhưng cha mẹ luôn dạy con giấy rách phải giữ lấy lề, đó là cái sĩ diện đáng trân trọng, bởi vì nó dạy cho con người ta có một tâm hồn cao thượng và liêm khiết; có những người dù nghèo nhưng vẫn luôn đói cho sạch rách cho thơm, đó là cái sĩ diện của người quân tử, thà đói chứ không ăn cắp ăn trộm, không tham lam hối lộ…
Có một vài người Ki-tô hữu làm quan, vì sĩ diện cái chức quan nên không có “đám” nào mà không có mặt, nhưng họ lại làm mất sĩ diện mình là người Ki-tô hữu: họ không đi dự thánh lễ, họ không đọc kinh trước khi ăn cơm, họ không đi xưng tội rước lễ.v.v…bởi vì họ sợ mất sĩ diện với người đời, nhưng người đời có thể che chở họ trước mặt Thiên Chúa trong ngày phán xét không?
Cái sĩ diện chỉ che mắt được người đời mà thôi, chứ không che được mắt của Thiên Chúa.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
---------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info

Daniel Esparza, trong bản tin ngày 08/06/2026 của Aleteia, cho hay: Trong bài phát biểu lịch sử trước Quốc hội Tây Ban Nha, bài phát biểu đầu tiên của một vị Giáo hoàng, Đức Leo XIV đã đặt ra một tiêu chuẩn khắt khe cho việc lập pháp — một tiêu chuẩn mà không một cuộc bỏ phiếu đa số nào có thể tự mình đáp ứng được.
Trong một trong những khoảnh khắc được mong đợi nhất trong chuyến tông du đến Tây Ban Nha, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã đứng trước Quốc hội (Cortes Generales) hôm thứ Hai và đưa ra cho các nhà lập pháp một thước đo thầm lặng nhưng đầy thách thức về công việc của chính họ. Một đạo luật, ngài nói với phiên họp chung của các đại biểu và thượng nghị sĩ, “không đạt được sự vĩ đại thực sự của nó chỉ bằng việc được chính thức thông qua. Nó đạt được điều đó khi, vượt ra ngoài tính hợp lệ về hình thức, nó có thể đứng vững trước phẩm giá của con người và vượt qua thử thách đó mà không bị hổ thẹn.”
Câu nói này được thốt ra gần cuối bài phát biểu dài 30 phút tại Salón de Plenos của Palacio de las Cortes — lần đầu tiên trong lịch sử một vị Giáo hoàng phát biểu trước Quốc hội Tây Ban Nha. Nhưng chính điều đó đã tạo nên xương sống cho bài phát biểu.
Mọi điều khác mà Leo XIV nói – về gia đình, về di cư, về trí tuệ nhân tạo, về tái vũ trang, về bí mật xưng tội – đều xuất phát từ cùng một sự nhấn mạnh: rằng phẩm giá con người có trước nhà nước, có trước đa số, và không thể được ban cho hay tước bỏ bởi bất cứ đạo luật nào.
Sự nhấn mạnh đó, Đức Giáo Hoàng cẩn thận lưu ý, không chỉ là một tuyên bố thần học. “Đức tin Kitô giáo tuyên bố điều đó từ Mặc Khải,” ngài nói, “nhưng lý trí con người có thể nhận ra đó là một yêu cầu được ghi khắc trong chân lý của con người.” Ngài trích dẫn bài phát biểu năm 2011 của Benedict XVI trước Quốc hội Đức về cùng một điểm – một sự lặp lại có chủ ý, và là một tín hiệu cho thấy ngài đang đặt mình trong một dòng liên tục của sự tham gia của Giáo hoàng với các định chế dân chủ, chứ không phải là ứng khẩu cho một khán giả Tây Ban Nha.
Ngài kết thúc bằng một cử chỉ hướng lên – theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Ngài nhận xét rằng giếng trời phía trên phòng họp cho ánh sáng chiếu vào từ trên cao. Chính trị cũng cần phải nhận ra một thước đo có trước và vượt lên trên nó.

Khung lịch sử mà ngài chọn là Salamanca. Ngài nhắc lại, cách đây 500 năm, khi những thế giới mới đang mở ra và quyền lực đang tìm kiếm vỏ bọc pháp lý cho những tham vọng của mình, các bậc thầy của trường đại học đó đã đưa vào lý luận lịch sử câu hỏi về giá trị không thể thiếu của mỗi con người và giới hạn đạo đức của quyền lực. Francisco de Vitoria và các nhà thần học dòng Đa Minh và dòng Tên xung quanh ông đã tạo nên những gì sẽ trở thành nền tảng của luật quốc tế—không phải vì Giáo hội hay xã hội Tây Ban Nha luôn sống theo những trực giác đó, Đức Leo thẳng thắn thừa nhận, mà vì chính những trực giác đó đã chứng tỏ tầm quan trọng vượt thời đại. “Di sản đó vẫn sống trong các phiên họp Quốc hội này,” ngài nói, “mỗi khi nhà lập pháp hỏi làm thế nào để biến những gì có thể thành công bằng, những gì hợp pháp trở nên thực sự nhân bản.”
Từ nền tảng đó, ngài đã chuyển sang một loạt các mối quan tâm cụ thể. Ngài bảo vệ gia đình như là nơi đầu tiên học hỏi ngữ pháp của đời sống cộng đồng, và viện dẫn quyền của cha mẹ trong việc định hướng giáo dục con cái theo niềm tin đạo đức và tôn giáo của riêng họ - một vấn đề gây tranh cãi ở Tây Ban Nha, nơi vai trò của các trường Công Giáo trong hệ thống giáo dục công vẫn còn gây tranh cãi. Ngài kêu gọi các tuyến đường an toàn và hợp pháp cho người di cư, nhưng cũng kêu gọi các điều kiện cho phép người dân được ở lại đất nước của họ. Ngài cảnh báo chống lại sự bình thường hóa âm thầm của việc tái vũ trang như một phản ứng trước sự bất ổn quốc tế, và nhấn mạnh rằng các quyết định về sinh tử không bao giờ được giao cho các hệ thống tự động - một sự ám chỉ trực tiếp đến việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong bối cảnh quân sự.
Về tự do tôn giáo, ngài đã thẳng thắn. Ngài lập luận rằng bí mật của việc xưng tội cần được bảo vệ pháp lý tương tự như các thông tin đặc quyền trong các ngành nghề khác - một nhận xét ngầm đề cập đến các cuộc tranh luận lập pháp đang diễn ra ở một số quốc gia châu Âu về nghĩa vụ báo cáo bắt buộc đối với giáo sĩ.
Ngài kết thúc bằng một cử chỉ hướng lên - theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Ông nhận xét rằng giếng trời phía trên phòng họp cho ánh sáng chiếu vào từ trên cao. Chính trị cũng cần phải nhận ra một thước đo có trước và vượt lên trên nó. Những bức tranh trên các bức tường phía trên của bán nguyệt, mô tả việc đón nhận Tin Mừng và Mười Điều Răn, không phải là sự lẫn lộn giữa trật tự chính trị và tôn giáo, ngài nói, mà là lời nhắc nhở rằng nền tự do hiện đại đã được chuẩn bị bởi một quá trình giáo dục lương tâm lâu dài—một quá trình dạy dỗ, trong số những điều khác, rằng người nghèo hoàn toàn thuộc về cộng đồng, rằng người nước ngoài phải được đón tiếp theo phẩm giá của họ, và rằng mạng sống con người không bao giờ có thể bị coi như một món hàng.
Bài phát biểu đã nhận được tràng vỗ tay kéo dài. Sau đó, Đức Leo XIV lập tức đến trụ sở của Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, nơi ngài gặp gỡ các giám mục của đất nước nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập cơ quan này.

Kathleen N. Hattrup, trong bản tin ngày 08/06/2026 của Aleteia, cho hay: Trong một bài phát biểu sâu sắc, Đức Thánh Cha đã nói chuyện với các giám mục anh em của mình về nhiều khía cạnh của sự hiệp thông và lãnh đạo.
Tại vùng đất có con đường hành hương nổi tiếng và được nhiều người đi nhất thế giới, Camino Santiago, Đức Giáo Hoàng Leo đã nói chuyện với các giám mục bằng hình ảnh của một người hành hương.
Trong bài phát biểu sâu sắc, Đức Thánh Cha đã nói chuyện với các giám mục anh em của mình về nhiều khía cạnh của sự hiệp thông và lãnh đạo, kêu gọi họ dựa trên truyền thống Công Giáo sâu sắc của Tây Ban Nha và thúc giục họ hướng tới sự đổi mới.
Ý tưởng về cuộc hành trình đã mang lại cho Ngài một cấu trúc tổng thể:
Một cám dỗ có thể nảy sinh khi đi du lịch là việc tập trung vào những gì chúng ta bỏ lại phía sau — những địa điểm, đồ vật, lối sống — mà không mở lòng mình, trong sự vâng phục Thánh Linh, đối với sự mới mẻ của những gì chúng ta gặp phải. Cùng với cám dỗ này, còn có cám dỗ từ hành lý của chúng ta, mà vì những lý do tương tự, chúng ta chất đầy những thứ vô dụng cuối cùng lại trở thành gánh nặng.
Đức Giáo Hoàng Leo nói rằng cần có “lòng can đảm và sự tự do”, “để chúng ta có thể bỏ lại phía sau những cấu trúc không giúp ích gì cho chúng ta, không đáp ứng nhu cầu của chúng ta, hoặc thậm chí dẫn chúng ta đi lạc khỏi mục tiêu, đồng thời có sức mạnh để trân trọng những gì tạo điều kiện thuận lợi cho việc đó.”
Trong một khoảnh khắc cụ thể, Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi việc đào tạo tốt cho các chủng sinh; ngài nói rằng, “Các chủng sinh có quyền được đào tạo tốt nhất có thể, và Giáo Hội, về phần mình, có quyền có những linh mục được đào tạo tốt.”
Ngài đưa ra ba tiêu chuẩn cho việc đào tạo tốt:
-- kinh nghiệm đầy đủ về đời sống cộng đồng;
-- các nhà đào tạo hoàn toàn tận tâm với việc học tập và giảng dạy, có kinh nghiệm trong việc đồng hành tâm linh;
-- các trung tâm học tập thần học cao cấp, được trang bị các phương tiện cần thiết để hoàn thành sứ mệnh của mình.
Ở đây, Đức Giáo Hoàng nói với các giám mục, “điều thiết yếu không chỉ là hợp lực mà còn phải học cách làm việc cùng nhau để giải quyết những thách thức này.”
Trên thực tế, một phong trào giáo dân phổ biến ở Tây Ban Nha, Phong trào Tân Giáo lý (Neocatechumenal Way), cung cấp khoảng 20% số chủng sinh của nước này, với 212 người đang được đào tạo tính đến năm 2026.
Vào tối Chúa nhật, Đức Giáo Hoàng Leo đã gặp gỡ các thành viên trong gia đình tâm linh của ngài, dòng Augustinô. Phát biểu trước khoảng 220 cha dòng Augustinô từ nhiều cộng đồng khác nhau và một số thành viên của gia đình Augustinô ở Madrid, ngài đã nói về việc "sự hiệp thông và thống nhất trong tâm hồn giữa các tu sĩ dòng Augustinô có thể đóng vai trò như một thông điệp gửi đến thế giới vào thời điểm lịch sử này."
Bản ghi đầy đủ của sự kiện đó vẫn chưa được công bố.
Đức Ông Stephen Rossetti, Nhà Trừ Tà của giáo phận Syracuse, phó giáo sư nghiên cứu tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ vừa có bài viết nhan đề “Exorcist Diary #398: 15 Signs A House has Demons”, nghĩa là “Nhật ký trừ tà #398: 15 dấu hiệu cho thấy một ngôi nhà có ma quỷ”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.
Một số người sẽ cho rằng nhà của họ bị ma quỷ ám. Điều đó có thể đúng. Điều này đặc biệt đúng nếu một tội ác tày trời nào đó đã xảy ra trong nhà, giống như khi ma quỷ chiếm hữu một người đã phạm tội trọng. Nhà cửa có thể bị ma quỷ xâm chiếm sau những sự việc như các nghi lễ huyền bí, nghi lễ triệu hồi ma quỷ, thờ phượng quỷ Satan và phù thủy, phá thai, lạm dụng trẻ em, giết người và diệt chủng, nhà chứa ma túy, buôn người và nghĩa địa ngoại giáo, đó là chỉ kể một vài ví dụ.
Điều quan trọng là không nên nhìn thấy ma quỷ “ở khắp mọi nơi”. Những điều kỳ lạ và tiếng động lạ có thể xảy ra trong nhà, đặc biệt là những ngôi nhà cũ. Tuy nhiên, có một số dấu hiệu phổ biến cho thấy sự hiện diện của ma quỷ:
*Mùi kinh khủng như mùi xác động vật đang phân hủy
*Nhiệt độ giảm mạnh ở một số khu vực trong nhà; hay hầu hết các khu vực trong nhà đều lạnh lẽo
Nhiệt độ dễ chịu, nhưng một số khu vực riêng lẻ lại lạnh lẽo.
*Cửa và cửa sổ tự động đóng mở một cách khó hiểu
*Thiết bị điện tử bị trục trặc
*Tiếng chó tru lên trong sợ hãi
*Các đối tượng tự di chuyển hoặc biến mất không rõ nguyên nhân
*Tiếng đập thình thịch không rõ nguồn gốc
*Những quả cầu ánh sáng băng qua căn phòng
*Những bóng hình tối tăm hoặc thậm chí là có “bóng người” xuất hiện
*Mọi người bị xô đẩy một cách không rõ lý do, kể cả trên cầu thang.
*Tiếng huýt sáo hoặc những giọng nói khó nghe gọi người khác
*Cảm giác sợ hãi tột độ và/hoặc buồn nôn khi bước vào
*Có thể truyền đạt những thông điệp như “Dừng lại” (nếu đang cầu nguyện) hoặc “Hãy rời đi” được viết nguệch ngoạc trên gương hoặc được nghe bằng lời nói
*Cảm giác như thể cơ thể mình đang bị chạm vào, thậm chí bị trầy xước hoặc bầm tím.
*Cảm giác như có ma quỷ đè nặng lên ngực và làm tê liệt người đó.
Đây chỉ là một vài ví dụ. Một lần nữa, điều quan trọng là không nên phản ứng thái quá. Một số triệu chứng này có thể do nguyên nhân tự nhiên. Nhưng nếu có một nhóm các triệu chứng này cùng với lịch sử xấu của ngôi nhà, thì tình hình cần được điều tra thêm.
Các linh mục cần được đào tạo để chẩn đoán và nhận biết các dấu hiệu của sự hiện diện ma quỷ thực sự. Trong một trường hợp, một ngôi nhà bị nhiễm đầy các triệu chứng ma quỷ và vị linh mục đã đáp lại lời cầu xin đầy sợ hãi của gia đình bằng cách hỏi xem họ có chuột không. Đó không phải là một phản ứng mục vụ. Không ai có quyền năng hơn một linh mục Công Giáo trong việc giải thoát một không gian bị nhiễm ma quỷ và chúng ta nên chuẩn bị để làm điều đó. Một dấu hiệu chắc chắn cho thấy ngôi nhà đó thực sự bị nhiễm ma quỷ là khi vị linh mục trừ tà cho ngôi nhà và tất cả các triệu chứng đột ngột và vĩnh viễn biến mất.
Nhưng nếu trong nhà có người bị quỷ ám nặng, các triệu chứng tương tự cũng có thể xảy ra. Trong trường hợp này, người đó mang quỷ vào nhà. Thử thách trong việc phân định là: vấn đề nằm ở ngôi nhà hay ở người đó? Chúng ta sẽ đặt ra những câu hỏi như: những vấn đề tương tự có xảy ra ở những nơi khác mà người đó đến không? Vấn đề bắt đầu khi người đó đến nhà hay chủ nhà trước đó cũng gặp phải vấn đề tương tự? Đôi khi thực tế là cả hai: người đó bị quỷ ám và ngôi nhà có quỷ.
Tin vui là kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy rằng trong hầu hết các trường hợp, nhà cửa có thể được giải thoát khỏi sự xâm nhập của ma quỷ khá nhanh chóng. Lý tưởng nhất là nhờ một linh mục trừ tà cho ngôi nhà bằng nghi thức của Giáo hội để giải phóng không gian. Việc ban phước cho ngôi nhà là tốt, nhưng tôi thấy việc ban phước và trừ tà cho không gian đó thì tốt hơn. Tôi thường không thấy cần thiết phải cử hành Thánh lễ trong nhà. Và tất nhiên, mọi hành vi xấu xa trong nhà phải chấm dứt, cộng với việc xưng tội và tha tội cho bất kỳ tội lỗi liên quan nào là rất quan trọng, nếu điều này có thể thực hiện được. Điều này không thể thực hiện được khi những chủ sở hữu trước đây, những người đã mời ma quỷ vào nhà, đã qua đời.
Trên ứng dụng/trang web của chúng tôi, trong mục “Lời cầu nguyện giải thoát cho giáo dân”, hãy xem “Lời cầu nguyện giải thoát cho gia đình”. Nghi thức này được các anh em trừ tà ở Phi Luật Tân cung cấp để sử dụng khi không có linh mục. Họ khuyên chủ nhà hay người lãnh đạo gia đình nên đọc lời cầu nguyện này, cùng với các thành viên khác trong gia đình. Nghi thức này sử dụng các vật thánh thường dùng như: nước thánh, dầu thánh, muối, nến, thánh giá và nhiều thứ khác. Như mọi khi, hiếm khi chỉ cần “một lần là đủ”. Thường cần nhiều lần cầu nguyện với sự kiên trì và tin tưởng vào Chúa.
Cuối cùng, không gian từng bị quỷ ám nay đã thuộc về “Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế của chúng ta!” Nó không thuộc về Ác Quỷ. Nó thuộc về Chúa Giêsu và chúng ta cầu xin các thiên thần thánh của Ngài đến canh giữ nhà cửa và gia đình chúng ta.
Source:Catholic Exorcism
Linh mục Raymond J. de Souza, là chủ bút tập san Công Giáo Convivium của Canada. Ngài vừa có bài viết nhan đề “The Calculated Spectacle Behind Magnifica Humanitas”, nghĩa là “Cách thức trình bày Magnifica Humanitas đã được suy tư kỹ lưỡng”. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Thông điệp giáo hoàng đầu tiên của Đức Thánh Cha Lêô XIV đã được bàn luận rộng rãi về nội dung, nhưng cách thức trình bày cũng rất đáng chú ý—và có lẽ đã góp phần vào việc nó nhận được nhiều sự quan tâm đến vậy.Thông thường, các thông điệp giáo hoàng được các trưởng bộ phận liên quan của Vatican trình bày trước các nhà báo tại phòng họp báo. Thông điệp Magnifica Humanitas không được trình bày tại một cuộc họp báo như vậy, mà trước một khán giả chủ yếu là các quan chức Tòa Thánh, giống như việc trình bày một bài nghiên cứu tại một hội nghị học thuật. Các Hồng Y Tòa Thánh thường lệ đã trình bày, cùng với khách mời Chris Olah của tổ chức Anthropic, dưới sự chủ trì và phát biểu của Đức Thánh Cha.
Không có câu hỏi nào từ các nhà báo, những người chắc chắn sẽ cảm thấy bắt buộc phải hỏi Đức Lêô về Iran, hoặc những lời lăng mạ từ Ông Donald Trump trên mạng xã hội, hoặc các chủ đề khác có thể làm chuyển hướng sự chú ý khỏi trí tuệ nhân tạo, trọng tâm của thông điệp. Kết quả là, một số câu hỏi khá thú vị cũng không được đặt ra, chẳng hạn như: Các trường học Công Giáo có nên cho phép học sinh sử dụng AI không? Các trường đại học giáo hoàng ở Rôma thì sao? Các “trợ lý” giảng đạo đã xuất hiện hàng thập niên qua thư từ và internet - vậy AI có phải là một thứ khác biệt, cần tránh đối với các nhà thuyết giáo trong quá trình chuẩn bị bài giảng không?
Những câu hỏi đó cuối cùng sẽ được đặt ra, và có lẽ Đức Thánh Cha nghĩ rằng những người khác nên trả lời chúng; thông điệp Magnifica Humanitas thường xuyên đề cập đến nguyên tắc bổ trợ.
Ngoài ra, phần trình bày Magnifica Humanitas còn đáng chú ý ở những điểm nào khác?
Đức Thánh Cha, khi trình bày thông điệp đầu tiên của mình cho thế giới, đã nói hoàn toàn bằng tiếng Anh. Hồng Y Olah và một trong các Hồng Y của tòa thánh cũng vậy. Đó là ngày sau Lễ Ngũ Tuần, nhưng người kế vị Thánh Phêrô không thể được tất cả mọi người hiểu bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của các ngài, vì vậy ngài phải chọn một ngôn ngữ. Thường thì đó là tiếng Ý, ngôn ngữ địa phương ở Rôma và do đó là ngôn ngữ làm việc của Tòa Thánh. Và đó không phải là một ngôn ngữ quốc tế, không cho thấy sự ưu ái cho những người Anh, người Tây Ban Nha hay người Pháp.
Thế giới công nghệ và thương mại quả thực có một ngôn ngữ chung, và đó lại chính là tiếng mẹ đẻ của Đức Thánh Cha, vì vậy việc sử dụng tiếng Anh là hoàn toàn hợp lý. Tuy vậy, đây vẫn là một sự thay đổi lớn so với thông lệ của Vatican. Điều đó có nghĩa là mọi đoạn video đều có Đức Giáo Hoàng nói tiếng Anh — không cần phiên dịch cho khán giả mà ngài muốn tiếp cận.
Đoạn phim được chiếu nhiều nhất là đoạn Đức Thánh Cha Lêô nói rằng trí tuệ nhân tạo cần phải được “giải giáp”. Sau đó, Ngài đã bình luận về cách lựa chọn từ ngữ và chiến lược truyền đạt của mình: “Tôi biết từ ngữ này mạnh mẽ, nhưng tôi đã lựa chọn một cách có chủ ý vì thời điểm này cần những từ ngữ có khả năng thu hút sự chú ý, thức tỉnh lương tâm và chỉ ra con đường tiến lên phía trước cho nhân loại.”
Nếu mục đích của bài phát biểu Magnifica Humanitas là thu hút sự chú ý—và sự chú ý tích cực, sâu sắc—thì nó đã thành công. Trong nhiều năm, Đức Robert Prevost giữ thái độ khiêm nhường dù nắm giữ nhiều chức vụ cao cấp. Chỉ trong một năm làm Giáo hoàng, ngài đã hiểu rõ về môi trường truyền thông của Giáo hoàng.
Điều này có điểm tương đồng với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, người khi đến Rôma nổi tiếng vì không trả lời phỏng vấn ở Buenos Aires. Nhưng khi lên ngôi Giáo Hoàng, ngài nhanh chóng bắt đầu trả lời phỏng vấn và trả lời rất nhiều cuộc phỏng vấn thường xuyên đến nỗi thậm chí có những cuộc phỏng vấn dài như sách mà không ai để ý. Cũng vậy, tại Lễ Ngũ Tuần, dường như Phêrô nhận được ơn nói, nếu không phải là nói tiếng lạ.
Thông điệp Magnifica Humanitas tiếp tục một sự đổi mới do Đức Phanxicô khởi xướng. Nhìn chung, các thông điệp giáo hoàng thường được gửi đến Giáo hội, thường bắt đầu với các giám mục và kết thúc với “giáo dân”, mặc dù Thánh Gioan Phaolô II đã gửi hai thông điệp giáo hoàng quan trọng—Veritatis Splendor và Fides et Ratio—chỉ đến các giám mục anh em của ngài. Thánh Gioan XXIII đã gửi thông điệp giáo hoàng mang tính bước ngoặt năm 1963 về hòa bình—Pacem in Terris—đến “tất cả những người thiện chí”, một sự đổi mới thường được lặp lại đối với các thông điệp giáo hoàng về giáo huấn xã hội của Giáo hội.
Ba thông điệp của Đức Giáo Hoàng Phanxicô—Laudato Si', Fratelli Tutti và Dilexit Nos—không được gửi đến bất kỳ ai cụ thể. Điều đó không quá quan trọng, nhưng đó là một phong cách giáo hoàng mới. Hình thức thư tín, ngay cả với hơn 40.000 từ, ngụ ý một mối quan hệ giữa mục tử và giáo dân, giữa người chăn chiên và đàn chiên. Phải chăng trong Magnifica Humanitas, Đức Giáo Hoàng Lêô đang cố gắng tiếp cận những người mà ngài không có mối quan hệ nào, và những người mà “thiện chí” của họ không thể được giả định?
Lời mời dành cho Chris Olah của Anthropic, một trong những gã khổng lồ về trí tuệ nhân tạo, đã nhận được sự chú ý rất lớn. Anthropic nổi tiếng vì đã từ chối cho phép Ngũ Giác Đài sử dụng sản phẩm của mình cho chiến tranh tự động, trong đó các quyết định có khả năng gây chết người được đưa ra bởi trí tuệ nhân tạo chứ không phải con người. Kể từ khi trình bày về Magnifica Humanitas, Anthropic đã kêu gọi làm chậm lại quá trình phát triển trí tuệ nhân tạo nói chung, chính xác là để bảo đảm rằng nó không phát triển mà không có sự giám sát của con người.
Việc mời khách là một rủi ro—đặc biệt là những người vô thần như Olah. Ông ấy đã nói thẳng thắn, gợi ý rằng trí tuệ nhân tạo, gọi tắt là AI có thể có một ý thức nhất định, thậm chí là một dạng nhân cách, là điều mà chính Đức Lêô đã bác bỏ trong Magnifica Humanitas. Olah tỏ ra tôn trọng và thừa nhận cần có người khác chỉ ra những điều mà các nhà phát triển AI không thể nhìn thấy từ bên trong. “Tôi sẽ thành thật,” Olah nói. “Chúng tôi liên tục tìm thấy những điều bí ẩn, thậm chí đáng lo ngại. Chúng tôi tìm thấy những cấu trúc phản ánh kết quả từ khoa học thần kinh của con người. Chúng tôi tìm thấy bằng chứng về sự tự phản tỉnh. Chúng tôi tìm thấy những trạng thái nội tâm phản ánh chức năng của niềm vui, sự hài lòng, nỗi sợ hãi, nỗi buồn và sự bất an. Tôi không biết điều đó có nghĩa là gì, nhưng tôi nghĩ nó cần được tiếp tục xem xét.”
Bài phát biểu của Olah là một trong những bài phát biểu quan trọng nhất từ giới công nghệ về những tác động đạo đức và văn hóa, chứ không chỉ đơn thuần là kinh tế, của trí tuệ nhân tạo. Nếu bài phát biểu này được đưa ra tại một cuộc họp đầu tư ở Thung lũng Silicon, có lẽ nó đã bị bỏ qua. Nhưng nếu được trình bày tại Vatican—thành thị và vũ trụ—nó có thể nhận được sự chú ý xứng đáng.
Một lưu ý cuối cùng về cách thức trình bày của thông điệp Magnifica Humanitas: Thông điệp này bao gồm hai chương dài về lịch sử học thuyết xã hội Công Giáo, tương tự như các bài giảng về toàn bộ học thuyết được đưa ra ở đầu một khóa học trước khi đề cập đến một chủ đề cụ thể. Điều đó phù hợp với ý định rõ ràng của Đức Giáo Hoàng Lêô là trở thành một nhân vật kế thừa, đề cao tất cả những người tiền nhiệm của ngài, thậm chí cả hình ảnh khó tin nhất trong lịch sử đó, “hình đa diện” mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã đưa vào từ vựng.
Những hình ảnh chủ đạo mà Đức Lêô sử dụng đều mang tính Kinh Thánh, đối lập việc xây dựng Tháp Babel với việc Nehemia xây dựng lại Giêrusalem. Các thông điệp giáo hoàng thường chứa đầy những trích dẫn Kinh Thánh, nhưng hiếm khi tập trung vào những khoảnh khắc Kinh Thánh để làm nền tảng cho toàn bộ cuộc thảo luận. Thông điệp gần đây nhất được trình bày theo cách đó là Veritatis Splendor, trong đó Gioan Phaolô Đệ Nhị đã sử dụng cuộc gặp gỡ với người thanh niên giàu có làm bối cảnh để hiểu đúng về thần học luân lý.
Vị truyền giáo trầm lặng đến từ Peru đã thể hiện bản lĩnh của mình bằng việc trình bày bài ca Magnifica Humanitas, một dấu hiệu cho thấy Thánh Phêrô vẫn có thể nói chuyện với các dân tộc.
Source:First Things
Bà Yago de la Cierva, người giám sát việc tổ chức chuyến thăm Tây Ban Nha của Giáo hoàng, cho biết Đức Giáo Hoàng Lêô đã phá vỡ bầu không khí ngại ngùng trước khi chúc phúc cho bữa ăn bằng một lời nhận xét khiến những người có mặt bật cười.
“Ngài kể rằng trước khi lên đường, ngài đã liên lạc với trí tuệ nhân tạo để hỏi: Giáo hoàng nên nói gì với các giám mục Tây Ban Nha? Và trí tuệ nhân tạo đã trả lời: Giáo hoàng Phanxicô sẽ nói… Thế là ngài dừng lại và nói: ‘Tôi nghĩ có một vị giáo hoàng khác.’ Rồi trí tuệ nhân tạo lại nói: ‘À, đúng rồi, bây giờ là Đức Giáo Hoàng Lêô,’” bà de la Cierva kể lại với nụ cười.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV được bầu làm người kế vị Thánh Phêrô vào ngày 8 tháng 5 năm 2025, mặc dù trí tuệ nhân tạo đôi khi dường như chậm chạp trong việc ghi nhận sự thay đổi này. Nhà báo Jonah McKeown của tờ National Catholic Register đã chứng kiến điều này tận mắt khi, giống như nhiều người dùng khác, ngài đã hỏi ChatGPT, công cụ trí tuệ nhân tạo được sử dụng rộng rãi của OpenAI, về Giáo hoàng Lêô XIV.
“Có vẻ như có sự nhầm lẫn về tên gọi, vì chưa từng có Giáo hoàng nào tên là Lêô XIV. Tuy nhiên, trong lịch sử đã có một số vị Giáo hoàng tên là Đức Lêô,” chatbot trả lời trong một lần thử nghiệm.
Sau câu nói đùa, Đức Giáo Hoàng — người không hề sợ công nghệ và đã nhiều lần khuyến khích việc sử dụng trí tuệ nhân tạo một cách đúng đắn, kể cả trong thông điệp Magnifica Humanitas ngày 25 tháng 5 về con người trong thời đại AI — đã chuyển sang sử dụng một hình ảnh công nghệ để truyền tải một thông điệp sâu sắc hơn tới các giám mục.
“Rồi ngài nói với các giám mục rằng chúng ta có một thuật toán khác, và thuật toán đó dẫn chúng ta đến việc yêu thương mọi người, đồng hành cùng họ và trở thành những người phục vụ lời Chúa”, de la Cierva nói.
Ngay sau khi phát biểu trước Quốc hội Tây Ban Nha tại Đại hội Đại biểu, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã gặp gỡ các giám mục của nước này tại trụ sở Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, nơi ngài kêu gọi Giáo hội, “trong thời điểm phân cực và đối lập ngày càng gay gắt này”, hãy “làm chứng cho sự thống nhất trong đa dạng”.
Đức Giáo Hoàng nói rằng sự hiệp thông đó đến từ nhận thức rằng Giáo hội cùng đồng hành với Chúa, “như những thành viên của một thân thể”. Ngài cũng nói thêm rằng sự hiệp thông như vậy còn có “sức sống truyền giáo”.
“Một Giáo hội bình an nội tâm có thể tự do hơn trong việc trò chuyện với anh chị em thuộc các giáo phái Kitô giáo khác và các tôn giáo khác, với những người không tin, với chính quyền dân sự và với tất cả những người thiện chí làm việc vì lợi ích chung,” Đức Giáo Hoàng Lêô nói.
Đức Giáo Hoàng nói với các giám mục Tây Ban Nha rằng sứ vụ của họ mang một trách nhiệm đặc biệt trong công việc hiệp thông này.
Ngài nói: “Chúng ta được mời gọi trở thành dấu hiệu hữu hình của sự hiệp thông”, trước hết là với Chúa Kitô, sau đó là với “người kế vị Thánh Phêrô và với Giáo hội hoàn vũ”, cũng như với các linh mục, các cộng đồng giáo phận, đời sống thánh hiến, các phong trào, các hiệp hội và mọi đặc sủng đích thực được Chúa Thánh Thần ban cho vì lợi ích chung.
Ngài nói: “Nhiệm vụ của các chư huynh là bảo vệ sự đoàn kết, thúc đẩy đối thoại, hàn gắn những chia rẽ và đồng hành cùng những người dân được giao phó cho sự chăm sóc của các bạn”.
Source:EWTN
Theo tin Tòa Thánh, ngày 8 tháng 6, 2026, Đức Leo XIV đã tới thăm Lưỡng viện Quốc hội Tây Ban Nha. Tại đây, ngài đã được đón tiếp nồng hậu, với tràng pháo tay, có người cho, kéo dài cả 8 phút sau khi ngài chấm dứt bài phát biểu.
Sau đây là nguyên văn bài phát biểu ấy, dựa vào bản tiếng Anh của Tòa Thánh

Thưa Thủ tướng,
Thưa bà Chủ tịch Quốc hội,
Thưa ông Chủ tịch Thượng viện,
Thưa ông Chủ tịch Tòa án Hiến pháp,
Thưa bà Chủ tịch Tòa án Tối cao và Hội đồng Tư pháp,
Các thành viên Quốc hội và Thượng viện,
Thưa quý bà và quý ông,
Tôi xin cảm ơn bà Chủ tịch về những lời tốt đẹp, cũng như lời mời mà Tòa Thánh đã nhận được nhân dịp chuyến thăm đất nước này của tôi. Tôi cũng rất biết ơn sự đón tiếp nồng hậu dành cho tôi tại Cung điện Quốc hội lịch sử này, một trung tâm nổi bật của đời sống định chế, pháp luật và dân chủ của Vương quốc Tây Ban Nha. Tôi đến trước quý vị với tư cách là Giám mục Rôma và Mục tử của Giáo Hội Công Giáo, nhận thức được rằng sứ mệnh được giao phó cho Người kế vị Thánh Tông đồ Phêrô, như nguyên tắc và nền tảng của sự hiệp nhất giữa các Giám mục và các tín hữu (xem Lumen Gentium, 23), đặt Tòa Thánh, một cách đặc biệt, vào cuộc đối thoại với các dân tộc và các quốc gia.
Sự hiện diện của tôi giữa quý vị nhắm một sự gần gũi với Tây Ban Nha, trong khuôn khổ hợp tác song phương, và như một thông điệp được gửi gắm trong tinh thần phục vụ con người. Giáo hội “đồng hành cùng nhân loại”, chia sẻ hy vọng và nỗi đau của nhân loại, lắng nghe những câu hỏi của mọi thời đại và cho phép mình được thách thức bởi “mọi điều liên quan đến cuộc sống của nam nữ đương thời”. Vì lý do này, khi Giáo hội đề cập đến bất cứ điều gì liên quan đến đời sống công cộng, Giáo hội làm như vậy trong khi tôn trọng sứ mệnh thích hợp của các định chế và trách nhiệm chính đáng của những người được giao nhiệm vụ lập pháp. Giáo hội nhận thức được “tính tự chủ của thực tại trần thế” và “sự phân biệt giữa cộng đồng Giáo hội và cộng đồng chính trị”; và chính từ nhận thức này, Giáo hội đưa ra một suy tư xuất phát từ mong muốn phục vụ lợi ích chung và nhắc nhở về điều làm cho sự chung sống giữa con người thực sự mang tính nhân bản (xem Magnifica Humanitas, 18, 19, 22).
Trong diễn đàn này, sự chung sống xã hội mang hình thức pháp lý. Tại đây, những khác biệt được lắng nghe, được phân loại và, khi có thể, được chuyển hóa thành những quyết định chung. Vì lý do này, vượt ra ngoài sự đa dạng chính đáng về quan điểm, mỗi nhiệm vụ lập pháp cuối cùng đều phải đối diện với một câu hỏi quyết định: quan niệm nào về con người đã truyền cảm hứng cho luật pháp, và những luật pháp đó xây dựng nên loại xã hội nào?
Về khía cạnh này, Tây Ban Nha có một di sản đặc biệt phong phú. Bản sắc địa lý và chính trị của quốc gia này gắn liền với một lịch sử trong đó đức tin và lý trí, nghệ thuật và luật pháp, truyền thống và tư tưởng đã hòa quyện với nhau một cách hữu hiệu. Trong các nhà thờ và trường đại học, trong nền văn học bất hủ, trong các định chế pháp luật và trong chính tinh thần của người dân, vẫn còn lưu giữ một di sản đã định hình cách sống tự do, thực thi công lý và tổ chức đời sống cộng đồng của đất nước này.
Từ những trang sách bất hủ của Don Quixote, nơi Cervantes tuyên bố rằng “tự do… là một trong những món quà quý giá nhất mà trời ban cho loài người” (Don Quixote de la Mancha, II, 58), đến chiều sâu tâm linh của Thánh Teresa thành Ávila, và từ truyền thống pháp luật vĩ đại của Tây Ban Nha đến sự trăn trở siêu hình của Unamuno, người đã nhắc lại rằng con người “không cam chịu cái chết hoàn toàn” (Ý nghĩa bi thảm của cuộc sống, I), Tây Ban Nha đã biết cách nhìn nhận con người không chỉ là một mắt xích trong trật tự xã hội, kinh tế hay chính trị. Đất nước này đã nhận ra con người là một sinh vật mở lòng đón nhận chân lý, được ban tặng tự do và được thúc đẩy bởi khát vọng vĩnh cửu mà không thực tại tạm thời nào có thể dập tắt – nói tóm lại, như một con người mà phẩm giá được ưu tiên hơn mọi lợi ích và hành động lập pháp phải phục vụ cho phẩm giá đó.
Vì lý do này, khi nói về con người ngày nay, sự suy gẫm này tự nhiên dẫn đến Salamanca và tư tưởng đã chín muồi ở đó. Sự hiện diện mang tính biểu tượng của Vua Ferdinand và Hoàng hậu Isabella trong hội trường này gợi nhớ lại thời điểm Tây Ban Nha phải đối diện với những trách nhiệm lịch sử mang tầm vóc hoàn cầu. Vài năm sau, Salamanca sẽ tiến hành, với sự rõ ràng đặc biệt, những suy tư về đạo đức và pháp luật mà tình hình đòi hỏi. Tại trường đại học đó, cách đây 500 năm, khi những thế giới mới và những khả năng to lớn đang mở ra trong mối quan hệ giữa các dân tộc, một số nhà giáo dục đã hiểu rằng lý trí không thể được viện dẫn để hợp pháp hóa bất cứ thế lực hay lợi ích cá nhân nào có vẻ thuận tiện. Do đó, họ đã đưa vào sự nhận thức lịch sử câu hỏi về giá trị không thể thiếu của mỗi con người và giới hạn đạo đức của quyền lực. Phải thừa nhận rằng xã hội và chính Giáo hội không phải lúc nào cũng sống theo những hiểu biết này được tìm thấy trong truyền thống Kitô giáo của chính họ.
Tuy nhiên, câu hỏi đó đã mở ra một chân trời trí thức và đạo đức vượt ra ngoài thời điểm lịch sử của nó. Trực giác về totus orbis [toàn thể địa cầu]— về một cộng đồng nhân loại rộng lớn hơn bất cứ quyền lực cụ thể nào — đã giúp người ta có thể khẳng định sự hiện hữu của các mối dây pháp lý và đạo đức nối kết các dân tộc. Từ Tây Ban Nha, những suy tư của Trường Salamanca — và đặc biệt là của Cha Francisco de Vitoria, cùng với các tu sĩ Dòng Đa Minh và Dòng Tên khác — đã giúp định hình một ý thức pháp lý và đạo đức có khả năng ghi nhớ rằng quyền lực luôn đi kèm với trách nhiệm và rằng mỗi con người phải được công nhận là chủ thể của các quyền lợi và nghĩa vụ. Khát vọng đó vẫn tiếp tục vang vọng đến ngày nay: rằng phẩm giá, công lý và lợi ích chung nên là thước đo của các mối quan hệ xã hội, cả ở bình diện quốc gia lẫn quốc tế.
Đây là một trong những di sản vĩ đại của Tây Ban Nha: đã kết hợp hành động lịch sử với sự rõ ràng của lý trí đạo đức. Đóng góp đó, được sinh ra bên bờ sông Tormes, đã vượt ra ngoài phạm vi lớp học và thư viện, và trở thành một phần của ý thức rộng lớn hơn, được chia sẻ bởi cộng đồng quốc tế, vốn tiếp tục tự hỏi làm thế nào để xây dựng hòa bình trên sự công nhận con người chứ không phải trên sự áp đặt vũ lực. Di sản đó vẫn tiếp tục hiện hữu trong Nghị viện này, mỗi khi các nhà lập pháp tự hỏi làm thế nào để đảm bảo rằng những gì khả hữu là công bằng, những gì hợp pháp là thực sự nhân đạo, và ý chí của đa số bảo vệ những giá trị thuộc về tất cả mọi người và tôn trọng những gì mà không một đa số nào có thể vi phạm một cách hợp pháp.
“Vấn đề Salamanca” tiếp tục định hướng công việc của những người phục vụ trong đời sống công cộng. Ngày nay, những thế giới mới mở ra trước mắt chúng ta không còn được đánh dấu trên bản đồ nữa: chúng mở ra trong kỹ thuật, kinh tế, y sinh học và lĩnh vực kỹ thuật số, nơi quyền lực con người vươn tới những lĩnh vực ngày càng nhạy cảm của đời sống bản thân và xã hội.
Sự tiến bộ mang lại những khả thể đáng ngưỡng mộ, và ngày nay chúng ta thấy điều này một cách độc đáo trong sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và các kỹ thuật mới. Như tôi đã nhắc lại trong Thông điệp gần đây của tôi, bản thân kỹ thuật không trung lập vì nó mang hình hài của những người hình thành, tài trợ, điều chỉnh và sử dụng nó (xem Magnifica Humanitas, 9); Do đó, trước những biến đổi của thời đại, sự phân định của chúng ta phải tập trung vào vị trí của con người trong quá trình ra quyết định và vào cách thức mà phẩm giá của lao động, tình liên đới, chính sách xã hội và lợi ích chung đang được giải quyết theo những cách thức mới hiện nay.
Sự phân định này bắt đầu bằng một khẳng định cơ bản: mọi xã hội công bằng thực sự đều được xây dựng trên sự thừa nhận phẩm giá bất khả xâm phạm của con người. Phẩm giá đó có trước bất cứ sự nhượng bộ nào của Nhà nước và không thể bị lệ thuộc vào sự đồng thuận xã hội hay thay đổi hay những ý thích nhất thời của đa số tại bất cứ thời điểm nào (xem Benedict XVI, Bài phát biểu trước Quốc hội Liên bang Đức, ngày 22 tháng 9 năm 2011). Phẩm giá đó thuộc về mỗi con người bởi chính sự hiện hữu của họ, và vì lý do này, nó phải là kim chỉ nam cho mọi hệ thống pháp luật tích cực. Đức tin Kitô giáo tuyên bố điều đó dựa trên Mặc Khải; lý trí con người có thể nhận ra đó là một yêu cầu được ghi khắc trong chân lý của con người (xem ibid.). Khi niềm tin này vẫn còn sống động, pháp luật trở thành một sự bảo vệ cho tất cả mọi người và là một sự đảm bảo chống lại sự áp đặt các lợi ích và chương trình nghị sự riêng.
Trên cơ sở đó, hôm nay tôi có trách nhiệm nói lên một vài lời bình tĩnh và kiên quyết với những người gánh vác trọng trách thiết lập trật tự pháp lý cho sự chung sống xã hội. Sự chung sống này có thể bị đe dọa bởi văn hóa vứt bỏ, như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhiều lần cảnh báo (xem Bài phát biểu trước Hội nghị toàn thể của Học viện Giáo hoàng về Sự sống, ngày 27 tháng 9 năm 2021). Theo nghĩa này, nếu sự sống không còn được công nhận là một giá trị cơ bản, thì xã hội của chúng ta sẽ có tương lai nào? Liệu một cộng đồng bỏ mặc những đứa trẻ chưa sinh, người già, người bệnh, những người chịu đựng trong im lặng, hay những người hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của người khác có thể được gọi là hoàn toàn công bằng? Việc bảo vệ sự sống con người không phải là vấn đề đảng phái hay lợi ích tôn giáo: đó là mục tiêu của nền văn minh. Mỗi sự sống con người phải được công nhận và bảo vệ từ khi thụ thai đến khi kết thúc tự nhiên, trong mọi hoàn cảnh hiện hữu của nó. Khi sự chắc chắn này bị che khuất, những người dễ bị tổn thương nhất sẽ là nạn nhân đầu tiên, và luật pháp sẽ mất đi ý nghĩa sâu sắc nhất của nó: phục vụ và bảo vệ mọi người. Vì lý do này, sự vĩ đại về mặt đạo đức của một quốc gia được thể hiện trên hết ở khả năng đồng hành, bảo vệ và yêu thương những sinh mạng yếu đuối nhất.
Lợi ích chung, theo một nghĩa nào đó, là “biểu thức xã hội của phẩm giá được công nhận trong mỗi con người” (Magnifica Humanitas, 59). Nó không chỉ đơn thuần là tổng số các lợi ích riêng lẻ, mà là “tổng số những điều kiện trong đời sống xã hội cho phép các nhóm xã hội và các thành viên cá nhân của chúng tiếp cận một cách tương đối đầy đủ và dễ dàng đến sự hoàn thiện của chính mình” (Gaudium et Spes, 26). Khi lợi ích chung không còn là một chân trời chung, hành động công cộng có nguy cơ bị phân mảnh thành các lợi ích cục bộ, không có khả năng bảo vệ những gì thuộc về tất cả mọi người.
Trong bối cảnh này, gia đình — hiện thực nhân sinh cơ bản và nền tảng tự nhiên của cộng đồng — mang một tầm quan trọng đặc biệt. Trong gia đình, các thế hệ đan xen và một ký ức sống động được truyền lại, mang lại sự liên tục nội tại cho xã hội. Nơi nào gia đình được đề cao, nơi đó sự ổn định về tinh thần và xã hội của các quốc gia cũng được củng cố. Gia đình sẽ luôn là trường học đầu tiên của nhân loại, nơi người ta học được, trước hết, những nguyên tắc cơ bản của cuộc sống chung: đón nhận cuộc sống, quan tâm đến người khác, tha thứ, phục vụ và thuộc về nhau.
Các cơ sở giáo dục cũng đóng vai trò quyết định trong nhiệm vụ này. Tại đó, các thế hệ mới có thể học cách tìm kiếm và yêu mến chân lý, suy gẫm về ý nghĩa của cuộc sống và phẩm giá của mỗi người. Vì lý do này, nhiều bậc cha mẹ mong muốn con cái mình học cách giao tiếp với người khác, tư duy phản biện và tiếp thu những giá trị vững chắc đặt nhiều hy vọng vào các cơ sở giáo dục này, coi chúng là những đồng minh quý giá trong việc giáo dục con cái. Sự hợp tác này phải luôn tôn trọng “quyền cơ bản và bất khả xâm phạm” của cha mẹ trong việc “lựa chọn loại hình giáo dục và hình thành nhân cách cho con cái, theo cách phù hợp với niềm tin đạo đức, văn hóa và tôn giáo của họ” (xem Magnifica Humanitas, 143; xem Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị, điều 18.4).
Việc khẳng định phẩm giá con người không thể chỉ là những khái niệm trừu tượng khi quá nhiều người buộc phải bỏ lại tất cả mọi thứ để tìm kiếm hòa bình, an ninh và tương lai. Bi kịch của cuộc di cư cũng thách thức lương tâm của các quốc gia và nền tảng đạo đức của trật tự quốc tế hiện nay. Vô số đàn ông, bàn bà và trẻ em, trong những hoàn cảnh thường rất bi thảm, buộc phải rời bỏ cộng đồng của mình và bỏ lại những người thân yêu, lịch sử và các mối liên hệ. Thực tế này vượt ra ngoài bất cứ phân tích thuần túy về nhân khẩu học hay kinh tế nào: nó cấu thành một vấn đề đạo đức và pháp lý quan trọng. Bất cứ nơi nào con người bị phân biệt đối xử vì nguồn gốc quốc gia, dân tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ, hoặc vì địa vị kinh tế hoặc xã hội của họ, nguyên tắc phổ quát về phẩm giá bình đẳng của tất cả con người đều bị vi phạm nghiêm trọng.
Tình hình của người di cư và người tị nạn đòi hỏi một phản ứng tập trung vào con người, giải quyết các nguyên nhân gốc rễ buộc họ phải rời bỏ quê hương, và vượt ra ngoài việc chỉ quản lý dòng di cư. Điều này làm nảy sinh yêu cầu kép về công bằng xã hội: cung cấp các con đường an toàn và hợp pháp, sự chào đón tôn trọng và cơ hội hội nhập thực sự; đồng thời, thúc đẩy quyền được ở lại trên đất nước mình, nỗ lực đảm bảo không ai phải rời bỏ nhà cửa vì thiếu hòa bình, an ninh hoặc điều kiện sống tử tế, bao gồm bất bình đẳng kinh tế và ảnh hưởng của khủng hoảng khí hậu (xem Magnifica Humanitas, 81).
Trong những năm gần đây, các tuyến đường ngày càng nguy hiểm đã làm nổi bật cái giá cực kỳ đắt đỏ của thực tại này, vốn thường bị che giấu hoặc làm ngơ. Nhiều người vẫn là nạn nhân của những kẻ buôn người và buôn lậu lợi dụng sự tuyệt vọng của họ. Cần tăng cường công tác phòng ngừa, cứu hộ và hỗ trợ nạn nhân, đặc biệt là trong khuôn khổ hợp tác khu vực và đa phương.
Không một quốc gia nào có thể tự mình đối diện với thách thức tầm cỡ này. Do đó, một phản ứng phối hợp, hỗ trợ và hữu hiệu là điều không thể thiếu, một phản ứng có khả năng đảm bảo sự bảo vệ, chào đón và cơ hội hội nhập thực sự cho những người di cư. Khi phản ứng của các định chế dễ tiếp cận, công bằng và phối hợp, biên giới sẽ không còn là nơi bị bỏ rơi mà có thể trở thành không gian bảo vệ phẩm giá con người một cách có trách nhiệm.
Thưa quý bà và quý ông:
Thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần và văn hóa sâu sắc, biểu hiện dưới nhiều hình thức bạo lực, phân cực và mất lòng tin lẫn nhau. Trong bối cảnh này, hòa bình nổi lên như một khát vọng chính trị và hơn thế nữa, như một mệnh lệnh đạo đức thực sự. Nó đòi hỏi một cuộc đối thoại công khai tôn trọng những người có quan điểm khác biệt, các định chế chuyên trách phát huy đối thoại, một ký ức lịch sử tìm kiếm sự thật và hòa giải, và một đời sống xã hội có khả năng duy trì tình hữu nghị công dân và sự tôn trọng lẫn nhau giữa những bất đồng.
Ở bình diện quốc tế, hòa bình đòi hỏi lòng can đảm ngoại giao, trách nhiệm đạo đức và một tầm nhìn cho tương lai dựa trên sự tôn trọng bản sắc của mỗi dân tộc và nghĩa vụ của các quốc gia trong việc giải quyết tranh chấp của họ thông qua các biện pháp hòa bình do luật pháp quốc tế cung cấp. Mỗi cuộc chiến tranh, xét cho cùng, đều là một thất bại đau đớn đối với khả năng đàm phán và cả ý thức chung của nhân loại về mối liên kết công bằng giữa các quốc gia. Vũ khí có thể tạo ra sự im lặng tạm thời; nhưng chúng không bao giờ có thể xây dựng một nền hòa bình thực sự và lâu dài.
Do đó, thật đáng lo ngại khi ở nhiều nơi trên thế giới — và cả ở châu Âu — việc tái vũ trang lại một lần nữa được coi là phản ứng gần như không thể tránh khỏi trước sự mong manh của tình hình quốc tế. Tuy nhiên, an ninh thực sự bắt nguồn từ công lý, đối thoại kiên nhẫn, tôn trọng luật pháp quốc tế và một chính sách có khả năng đặt tính mạng con người lên trên lợi ích thu được từ chiến tranh. Việc phát triển các kỹ thuật mới và trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực quân sự cũng đòi hỏi sự giám sát đạo đức nghiêm ngặt, để các quyết định được đưa ra dựa trên cơ sở đạo đức vững chắc. Những vấn đề liên quan đến sinh tử không bao giờ được giao phó cho các hệ thống tự động hóa, cũng không thể tách rời khỏi trách nhiệm đạo đức của con người (xem Bài phát biểu tại Đại học La Sapienza, ngày 14 tháng 5 năm 2026).
Cộng đồng quốc tế được kêu gọi tái khám phá giá trị không thể thiếu của đối thoại như một con đường kiên nhẫn hướng tới các thỏa thuận công bằng và lâu dài, được xây dựng trên sự tôn trọng các hiệp ước, trên sự minh bạch của hành động ngoại giao và trên ý chí chân thành ưu tiên hòa bình hơn việc sử dụng vũ lực. Từ đó nảy sinh niềm tin và hy vọng.
Như khẩu hiệu của Liên minh châu Âu, "In varietate concordia" (Trong sự đồng thuận đa dạng), nhắc nhở chúng ta, sự thống nhất thực sự không phải là sự chuẩn hóa, mà là sự thống nhất trong đa dạng, biến các nền văn hóa, mẫn cảm và truyền thống thành cơ hội làm giàu lẫn nhau.
Tương tự, trong chính các xã hội, việc xây dựng một nền văn hóa hỗ tương là vô cùng cấp thiết. Chủ nghĩa đa nguyên chính trị không nên thoái hóa thành sự coi thường đối thủ liên tục. Trong một xã hội trưởng thành, ngay cả xung đột cũng có thể trở thành con đường dẫn đến hòa bình, khi những khác biệt được xoa dịu bằng cách lắng nghe và hướng tới việc công nhận nhu cầu, khát vọng và khả năng của tất cả mọi người.
Nhưng hòa bình không chỉ đơn thuần là một thực tại chính trị hay định chế. Nó còn là kết quả của lương tâm, nơi sự oán giận, thờ ơ và thù hận nhường chỗ cho sự hòa giải. Vì lý do này, nó cũng được thiết lập và bảo vệ thông qua ngôn ngữ. Lời nói có thể mở ra những con đường hoặc đóng lại chúng; chúng có thể soi sáng thực tại hoặc bóp méo nó đến mức khiến cho sự gặp gỡ trở nên bất khả hữu. Do đó, những người nắm giữ chức vụ công có nghĩa vụ đặc biệt phải cẩn trọng với lời nói của mình để làm giảm bớt sức mạnh của ngôn từ (xem Thông điệp Mùa Chay 2026, ngày 13 tháng 2 năm 2026). Sự kiên định không đòi hỏi sự khinh miệt; sự bất đồng không dẫn đến sự sỉ nhục.
Từ sự tôn trọng người khác này cũng nảy sinh nghĩa vụ bảo vệ không gian nơi niềm tin, lương tâm và mối quan hệ của họ với Thiên Chúa được trưởng thành. Chú trọng đến lĩnh vực nội tâm này cho phép hiểu rõ hơn một vấn đề quyết định đối với mọi xã hội dân chủ thực sự: tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo, một quyền cơ bản bảo vệ phạm vi riêng tư nhất của con người. Tự do mà nhà nước đương thời được xây dựng dựa trên đó, nếu nó chân chính, sẽ công nhận chiều kích tôn giáo của con người, tôn trọng nó và bảo vệ nó về mặt pháp lý; và điều đó đảm bảo rằng đức tin không phải là lý do để một người phải từ bỏ sự đóng góp của mình cho xã hội.
Không nên nhầm lẫn lĩnh vực pháp luật với lĩnh vực đạo đức, cũng cần nhớ rằng tự do phải được hiểu một cách trọn vẹn. Tự do không chỉ đơn giản có nghĩa là được tự do khỏi sự cưỡng bức hoặc có nhiều lựa chọn; nó có nghĩa là có khả năng nhận ra điều tốt và cam kết thực hiện nó một cách có trách nhiệm. Vì lý do này, mọi xã hội thực sự tự do cũng đòi hỏi sự hạn chế thích đáng đối với quyền lực nhà nước, để tự do của các cá nhân, cộng đồng và hiệp hội không bị hạn chế một cách bất hợp lý (xem Dignitatis Humanae, 1). Từ quan điểm này, quyền tự chủ hợp pháp của trật tự thế tục không bao giờ được coi là thù địch với tôn giáo. Đức tin không tìm cách áp đặt bản thân thông qua đặc quyền hay sự cưỡng bức; tuy nhiên, nó cũng không thể bị im lặng như thể nó không liên quan đến đời sống công cộng.
Trong bối cảnh này, ấn tích của bí tích xưng tội có tầm quan trọng đặc biệt đối với Giáo Hội Công Giáo. Đây là một phần của phạm vi rộng lớn hơn của tự do tôn giáo, đảm bảo cho các cộng đồng tín ngưỡng không gian riêng cho cuộc sống, tổ chức và kỷ luật nội bộ (xem Hội nghị An ninh và Hợp tác châu Âu, Văn kiện Helsinki, ngày 1 tháng 8 năm 1975, Nguyên tắc VII). Bảo vệ nó về mặt pháp lý, như cách làm tương tự trong một số ngành nghề, có nghĩa là bảo tồn một không gian thiêng liêng của tự do nội tâm, nơi tín hữu có thể mở lòng mình với Thiên Chúa mà không sợ áp lực bên ngoài, như các chuẩn mực quốc tế cũng công nhận (xem Tòa án Hình sự Quốc tế, Quy tắc tố tụng và bằng chứng, Quy tắc 73.3).
Thưa quý bà và quý ông:
Cho phép tôi dừng lại một chút để suy gẫm về một số hình ảnh trang trí trong Phòng họp này. Trong Phòng họp này, ánh sáng tự nhiên chiếu vào qua giếng trời trên đỉnh phòng. Ánh sáng từ trên cao đó có thể nhắc nhở chúng ta rằng chính trị cũng phải thừa nhận một sức mạnh hiện hữu trước và vượt lên trên nó.
Tương tự, những bức tranh ở phần trên của bức tường chính, mô tả việc đón nhận Tin Mừng và Mười Điều Răn, nhắc nhở chúng ta về một điều thiết yếu. Không nên nhầm lẫn trật tự chính trị với trật tự tôn giáo, những biểu tượng này mời gọi chúng ta nhận ra rằng nền tự do hiện đại cũng được hình thành bởi một quá trình giáo dục lương tâm lâu dài, mang đậm dấu ấn của truyền thống Kitô giáo. Trong ngôi trường nội tâm đó, con người đã học được rằng luật pháp phải phục vụ điều thiện, công lý đặt ra giới hạn cho bạo lực, quyền lực đòi hỏi tính hợp pháp, người nghèo thuộc về cộng đồng một cách trọn vẹn, người nước ngoài phải được chào đón theo phẩm giá của họ, và mạng sống con người không bao giờ có thể bị coi như một món hàng.
Một đạo luật không đạt được sự vĩ đại thực sự chỉ bằng việc được ban hành chính thức; nó đạt được điều đó khi, ngoài việc có giá trị về hình thức, nó còn có thể đứng vững trước phẩm giá con người và vượt qua bài kiểm tra đó mà không hổ thẹn.
Vì vậy, tôi mời quý vị hướng tầm nhìn của mình ra thế giới xung quanh, không phải để quay lưng lại với thực tại, mà để nhớ rằng mọi quyết định của chính quyền đều ảnh hưởng đến những người dân thực sự, đặc biệt là những người có ít quyền lực để lên tiếng. Tầm nhìn rộng lớn của một người chính là ở việc nhìn sâu hơn vào những gì đang bị đe dọa trong mỗi quyết định công cộng. Đó là lý do tại sao, bên cạnh các giải pháp kỹ thuật và cải cách pháp luật, một sự đổi mới về mặt đạo đức cũng rất cần thiết.
Tây Ban Nha có rất nhiều điều để đóng góp trên hành trình này. Nơi đây sở hữu một ngôn ngữ bắc cầu giữa các châu lục; một truyền thống văn hóa, pháp luật và tâm linh đã thành công trong việc nuôi dưỡng cuộc đối thoại giữa đức tin và lý trí, luật pháp và lương tâm, sự thống nhất và đa dạng. Kinh nghiệm lịch sử này cũng nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự hài hòa và nỗ lực kiên nhẫn để xây dựng một xã hội hòa bình và công bằng.
Mong rằng quốc gia cao quý này sẽ không bao giờ quên đi cội nguồn của mình cũng như lòng can đảm để hướng tới tương lai. Mong rằng Tây Ban Nha sẽ tiếp tục là vùng đất của sự gặp gỡ, của văn hóa, của tình liên đới và của hy vọng. Và nguyện xin đời sống công cộng của đất nước luôn biết cách kết hợp sự vững chắc của niềm tin với sự cao thượng của đối thoại và sự vĩ đại của phục vụ.
Nguyện xin Thiên Chúa ban bình an cho mọi quốc gia trên trái đất, sự hòa thuận cho các gia đình và sự thanh thản cho lương tâm. Và nguyện xin những ngày thịnh vượng, công lý và hòa bình lâu dài đổ xuống Vương quốc Tây Ban Nha, được đánh dấu bởi dấu ấn tông đồ của Thánh Giacôbê và sự hiện diện từ mẫu của Đức Mẹ Cột Trụ. Xin chân thành cảm ơn.
Hình ảnh:
Lm JB Nguyễn Đức Vượng o.p
1. Ukraine đánh sập cây cầu nối Crimea với miền nam Ukraine trong một cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa.
Một cây cầu gần làng Chonhar, nối liền Crimea bị tạm chiếm với các khu vực phía nam Ukraine do Nga kiểm soát, đã bị phá hủy trong một cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Ukraine vào đêm 7 tháng 6. Phát ngôn nhân Bộ Quốc phòng Ukraine, Chuẩn tướng Oleksii Hromov, cho biết như trên hôm Thứ Hai, 08 Tháng Sáu.
Vài giờ sau tuyên bố của Chuẩn tướng Oleksii Hromov, Volodymyr Saldo, nhà lãnh đạo khu vực bị tạm chiếm ở tỉnh Kherson do Nga dựng lên, tuyên bố cây cầu đã bị hư hại do máy bay điều khiển từ xa của Ukraine.
Vụ tấn công được báo cáo diễn ra trong bối cảnh Ukraine đang tăng cường nỗ lực nhằm phá vỡ các tuyến đường hậu cần của Nga cung cấp cho Crimea bị tạm chiếm và các lực lượng tiền tuyến ở miền nam Ukraine.
Theo thông báo của quân đội Ukraine, cuộc tấn công vào cầu Chonhar là một chiến dịch phối hợp giữa đơn vị máy bay điều khiển từ xa Code 9.2 và Tiểu đoàn xung kích độc lập số 1. Mục tiêu chiến lược là cắt đứt tuyến đường duy nhất vận chuyển binh lính, đạn dược và nhiên liệu của quân đội Nga đến tiền tuyến gần Huliaipole từ Crimea bị tạm chiếm.
“Việc này được thực hiện nhằm mục đích chặn các tuyến đường tiếp tế nhiên liệu và chất bôi trơn cho Lữ đoàn Bộ binh Cơ giới số 37”, Dmytro Filatov (biệt danh “Perun”), chỉ huy Tiểu đoàn Xung kích Độc lập số 1, cho biết.
Theo quân đội Ukraine, cuộc tấn công được thực hiện bằng máy bay điều khiển từ xa Fire Point do nước này tự sản xuất và máy bay điều khiển từ xa tầm xa Behemoth mới. Cuộc tấn công gây thiệt hại đáng kể cho cây cầu, và việc thay thế nó sẽ đòi hỏi “một khối lượng công việc khổng lồ”, theo lời chỉ huy đơn vị Code 9.2, Oleksandr Nastenko (mật danh “Flint”).
“Theo nguồn tin của chúng tôi, kẻ thù đang rất lo lắng”, Filatov nói.
Theo Saldo, vụ tấn công đã làm hư hại nhiều đoạn trên mặt cầu gần Chonhar. Ông cho biết giao thông qua trạm kiểm soát đường bộ Dzhankoi, nằm trên ranh giới hành chính giữa Crimea bị tạm chiếm và phần Kherson bị tạm chiếm, đã bị đình chỉ vì “lý do an ninh”.
Cửa khẩu Dzhankoi là một phần của tuyến đường bộ quan trọng nối liền Crimea bị tạm chiếm với các vùng lãnh thổ trên đất liền do Nga kiểm soát và đóng vai trò là hành lang hậu cần quan trọng cho việc cung cấp hàng hóa của Nga.
Vụ tấn công được báo cáo diễn ra trong bối cảnh những khó khăn về hậu cần ngày càng gia tăng trên bán đảo.
Trong những tuần gần đây, Crimea bị tạm chiếm đã trải qua tình trạng thiếu nhiên liệu mà chính quyền Nga cho là do sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng, trong khi các cuộc tấn công của Ukraine ngày càng nhắm vào cơ sở hạ tầng nhiên liệu và các tuyến đường vận chuyển.
Ukraine đã liên tục mở rộng chiến dịch tấn công tầm trung của mình, thường xuyên nhắm vào các cơ sở quân sự và trung tâm hậu cần của Nga nằm cách tiền tuyến từ 20 đến 300 km (12 đến 186 dặm), cả ở các vùng lãnh thổ Ukraine bị tạm chiếm và bên trong lãnh thổ Nga.
Nhiều cuộc tấn công này tập trung vào hành lang đường bộ nối Nga với Crimea thông qua các khu vực bị tạm chiếm của các tỉnh Zaporizhzhia và Kherson, một tuyến đường quan trọng để duy trì các hoạt động quân sự của Nga ở miền nam Ukraine.
Máy bay điều khiển từ xa Behemoth mới của Ukraine, một UAV kiểu Shahed có thể mang hai đầu đạn, thuộc lớp máy bay điều khiển từ xa “tấn công tầm trung” và có tầm hoạt động lên đến 300 km. Nó có thể bay ở độ cao thấp, khiến hệ thống phòng không Nga khó phát hiện và đánh chặn hơn.
Ngày 6 tháng 6, quân đội Ukraine thông báo rằng các binh sĩ điều khiển máy bay điều khiển từ xa thuộc Trung đoàn Đặc nhiệm số 3 đã thiết lập quyền kiểm soát trên không đối với một phần mạng lưới tiếp tế của Nga dẫn đến Crimea.
Khi đưa tin về vụ tấn công cầu Chonhar, quân đội Ukraine cho biết vụ tấn công này “không phải là một sự việc đơn lẻ” mà là một phần của nỗ lực có hệ thống nhằm làm suy yếu các hoạt động của Nga trên tiền tuyến.
“Đây chắc chắn chỉ là sự khởi đầu, các bạn sẽ thấy điều đó thôi,” Nastenko nói.
“Điều gì sẽ xảy ra? Tôi chỉ đơn giản đề nghị mọi người mua một ít bỏng ngô. Ngồi xuống, xem và thưởng thức. Đây mới chỉ là khởi đầu.”
[Kyiv Independent: Bridge linking Crimea to southern Ukraine damaged in drone strike, Ukrainian military confirms]
2. Trong lúc tuyệt vọng, Putin đã sơn các xe tải quân sự bằng các sọc ngựa vằn nhằm đánh lừa các máy bay điều khiển từ xa AI của Ukraine đang gây thiệt hại nặng nề cho quân Nga.
Vladimir Putin đã ra lệnh sơn các xe tải quân sự của Nga theo kiểu ngựa vằn nhằm đánh lừa máy bay điều khiển từ xa AI của Ukraine.
Người ta cho rằng lớp ngụy trang này nhằm mục đích ngăn chặn máy bay điều khiển từ xa của Ukraine xác định mục tiêu tấn công.
Trong Thế chiến thứ nhất, các thiết giáp hạm – bao gồm cả của Anh – được sơn màu ngựa vằn để đánh lừa các chỉ huy tàu ngầm địch.
Blogger chiến trường Kirill Federov nói: “Giải pháp như vậy chỉ có tác dụng nếu chiếc xe Kamaz đang di chuyển giữa một đàn ngựa vằn.”
Chiến thuật này xuất phát từ lo ngại của Nga rằng Putin đang mất dần quyền kiểm soát bán đảo Crimea.
Điều này diễn ra trong bối cảnh Ukraine đạt được thành công đáng kinh ngạc trong việc tấn công vào các tuyến đường tiếp tế và nhà máy lọc dầu. Các máy bay điều khiển từ xa của Ukraine bay dọc theo xa lộ Novorossiya và sẵn sàng lao vào các quân xa của Nga và các xe bồn chở nhiên liệu. Quyết định tấn công xe nào là do Trí Tuệ Nhân Tạo, gọi tắt là AI, quyết định.
Điều này đã khiến hàng chục xe tải bị phá hủy trên xa lộ Novorossiya, tuyến đường bộ huyết mạch dẫn đến Crimea.
Do mức độ nguy hiểm cực kỳ cao đối với người lái xe, con đường này hiện được mệnh danh là “con đường trò chơi may rủi của Nga”.
Tình trạng này đã dẫn đến việc áp dụng chế độ phân phối xăng dầu nghiêm ngặt.
Cựu Trung Tướng Andrei Gurulev, nguyên Tư Lệnh Tập Đoàn Quân số 58 của Nga và hiện nay là một Dân biểu Duma, thành viên Ủy ban Quốc phòng và An ninh, thừa nhận Ukraine đã “kiểm soát hỏa lực” trên xa lộ Novorossiya bằng máy bay điều khiển từ xa tầm xa và mìn để phá hủy hàng trăm xe bồn và xe tải chở hàng.
Ông cảnh báo: “Chiến dịch quân sự đặc biệt đã hoàn toàn biến thành một thế bế tắc cực kỳ khốc liệt.”
“Lý do chính và đáng sợ nhất cho điều này là máy bay điều khiển từ xa của kẻ thù.”
Ông cảnh báo rằng Ukraine “đã thực sự tràn ngập tiền tuyến và hậu phương bằng máy bay điều khiển từ xa.”
“Do đó, các nhóm tấn công của chúng ta thậm chí không thể ngẩng đầu lên, chứ đừng nói đến chuyện tấn công.”
“Ngay khi một người lính rời khỏi vị trí ẩn nấp hoặc trang thiết bị bắt đầu di chuyển, máy bay điều khiển từ xa FPV sẽ lập tức tấn công.”
“Bộ binh đang bị tiêu diệt hàng loạt trên các tuyến đường tiếp cận, và tiến độ được đo bằng mét và các vành đai rừng, điều mà chúng ta đang phải trả giá rất đắt.”
Gurulev mô tả tình hình hiện tại của các trạm xăng ở Crimea là một “cơn ác mộng thực sự” đối với cả người dân địa phương và quân đội.
Vị chính trị gia này cũng cáo buộc các chỉ huy tại hiện trường “nói dối” về việc kiểm soát cuộc khủng hoảng bằng cách gửi các báo cáo sai sự thật cho các lãnh đạo quân đội.
[The Sun: Desperate Putin paints military trucks in ZEBRA stripes in bid to dazzle Ukrainian AI drones wreaking havoc on Russians]
3. Tổng thống Zelenskiy và các nhà lãnh đạo E3 nêu ra các điều kiện cho ‘hòa bình công bằng và lâu dài’ trong cuộc đàm phán song phương tại Luân Đôn.
Ngày 7 tháng 6, các nhà lãnh đạo của Vương quốc Anh, Pháp, Đức và Ukraine đã đưa ra một tuyên bố chung, nêu rõ năm điều kiện mà Kyiv và Mạc Tư Khoa phải đáp ứng để chấm dứt cuộc chiến của Nga tại Ukraine.
Tuyên bố này — phù hợp chặt chẽ với bức thư ngỏ mà Tổng thống Volodymyr Zelenskiy đã gửi cho Putin vài ngày trước đó, đề nghị hai nhà lãnh đạo thúc đẩy các cuộc đàm phán hòa bình song phương trực tiếp — được đưa ra sau chuyến thăm Luân Đôn của Tổng thống Zelenskiy để hội đàm song phương với Thủ tướng Anh Keir Starmer và các cuộc thảo luận theo khuôn khổ E3 với các nhà lãnh đạo của Vương quốc Anh, Pháp và Đức.
Tuyên bố chung “hoan nghênh” những tiến bộ gần đây của Ukraine trên chiến trường, cũng như “việc sử dụng công nghệ máy bay điều khiển từ xa mang tính đột phá” – một phần đề cập đến những tiến bộ gần đây của Ukraine trong các cuộc tấn công tầm trung vào hệ thống hậu cần của Nga phía sau chiến tuyến. Các nhà lãnh đạo đã thảo luận về cách “phối hợp tốt nhất để hỗ trợ thêm cho Ukraine dựa trên các nhu cầu ưu tiên của nước này” trước một số cuộc họp quốc tế sắp tới, bao gồm cả Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo G7.
Tuyên bố này liệt kê năm điều kiện “cần phải được đáp ứng để đạt được một nền hòa bình công bằng và lâu dài”, bao gồm lời kêu gọi Putin chấp nhận “một lệnh ngừng bắn ngay lập tức và hoàn toàn”, cũng như việc bắt đầu đàm phán tại “đường ranh giới tiếp xúc hiện tại” — hoàn toàn trùng khớp với bức thư ngỏ của Tổng thống Zelenskiy.
“Thứ ba, Ukraine phải có những bảo đảm an ninh mạnh mẽ và ràng buộc về mặt pháp lý khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực”, tuyên bố chung tiếp tục, đồng thời kêu gọi triển khai một lực lượng đa quốc gia để thực thi lệnh ngừng bắn.
Điều kiện thứ tư yêu cầu bồi thường thiệt hại do Nga gây ra trong suốt cuộc chiến, với việc các nhà lãnh đạo cam kết rằng tài sản của Nga sẽ vẫn bị phong tỏa cho đến khi Mạc Tư Khoa chấm dứt chiến tranh và bồi thường.
“Thứ năm, các lợi ích an ninh của Âu Châu phải được bảo vệ trong bất kỳ thỏa thuận nào. Các yếu tố của bất kỳ cuộc đàm phán nào liên quan đến Liên Hiệp Âu Châu và NATO đều cần sự đồng thuận của Liên Hiệp Âu Châu và các quốc gia thành viên cũng như các đồng minh NATO.”
Bất chấp nhiều tháng đàm phán hòa bình do Mỹ làm trung gian, Putin đã nhiều lần từ chối thực hiện lệnh ngừng bắn ở Ukraine. Tổng thống Nga đã bác bỏ bức thư ngỏ của Tổng thống Zelenskiy một ngày sau khi nó được công bố.
Trước thềm cuộc đàm phán, Tổng thống Zelenskiy nói rằng “Âu Châu nên được tham gia vào các cuộc đàm phán và nên đóng vai trò mạnh mẽ”. Tổng thống cũng sẽ gặp Quốc vương Charles III của Anh vào ngày 8 tháng 6.
Bức thư ngỏ nêu rõ Nga và Ukraine nên bắt đầu đàm phán trực tiếp, nhưng cũng lưu ý rằng “các bên tham gia cụ thể khác có thể tham gia vào con đường đàm phán song phương đã được khởi xướng giữa hai bên”.
Tổng thống Zelenskiy viết: “Chúng tôi tin rằng Âu Châu cần phải tham gia - những người thực sự có khả năng tác động đến tình hình.”
Trong một cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình Sky News của Anh vào ngày 7 tháng 6, Tổng thống Zelenskiy nhắc lại lời kêu gọi trong bức thư của mình về việc bắt đầu một lệnh ngừng bắn bằng cách đóng băng các chiến tuyến dọc theo vị trí hiện tại của họ.
“Chúng tôi muốn chấm dứt chiến tranh theo cách mà chiến tranh sẽ không tái diễn”, ông nói với Sky News.
“Vấn đề không chỉ là đóng băng, mà cách nhanh nhất là đóng băng và chuyển nó sang bối cảnh ngoại giao.”
Ngày 5 tháng 6, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cho biết các cuộc họp E3 sẽ tập trung vào cách thức xây dựng các cuộc đàm phán hòa bình trong tương lai.
Tổng thống Macron nói: “Với tư cách là những người đóng góp lớn nhất cho nỗ lực chiến tranh của Ukraine, chính người Âu Châu phải có mặt tại bàn đàm phán để lập kế hoạch hòa bình vào một thời điểm nào đó”.
Macron và Starmer đã hợp tác với tư cách là những nhà lãnh đạo “liên minh các nước sẵn sàng”, một nhóm các quốc gia đang nỗ lực phối hợp các bảo đảm an ninh hậu chiến cho Ukraine. Tuy nhiên, họ phần lớn bị gạt ra ngoài lề trong các cuộc đàm phán hòa bình do Mỹ làm trung gian giữa Kyiv và Mạc Tư Khoa.
Trong khi sự can thiệp của Mỹ vào tiến trình hòa bình bị đình trệ do cuộc chiến chống Iran, Tổng thống Zelenskiy đã tìm cách khôi phục các cuộc đàm phán ngoại giao bằng cách trực tiếp kêu gọi Nga và tạo thêm không gian cho sự tham gia của Âu Châu.
Điện Cẩm Linh gần đây đã thể hiện sự cởi mở đối với vai trò của Âu Châu trong ngoại giao nhưng đề xuất Gerhard Schroder làm người trung gian tiềm năng. Các quan chức Kyiv và Âu Châu đã bác bỏ ý tưởng này vào tháng 5, viện dẫn mối quan hệ lâu dài của Schroder với Putin và Nga.
Trước đó, vào ngày 3 tháng 6, Starmer đã có cuộc điện đàm với Tổng thống Zelenskiy, bày tỏ lời chia buồn về các vụ tấn công quy mô lớn gần đây của Nga vào Kyiv và thảo luận về loạt lệnh trừng phạt mới nhất của Luân Đôn đối với Mạc Tư Khoa.
Trong cuộc điện đàm, thủ tướng Anh cho biết Vương quốc Anh “sẽ phối hợp chặt chẽ với Tổng thống Zelenskiy và các đối tác quốc tế để bảo đảm một nền hòa bình công bằng và lâu dài cho người dân Ukraine”.
[Kyiv Independent: Zelensky, E3 leaders name conditions for 'just and lasting peace' at bilateral talks in London]
4. Tổng thống Trump nói sẽ “cho chúng tan xác” nếu không đạt được thỏa thuận với Iran.
Tổng thống Trump cho biết Hoa Kỳ sẵn sàng nối lại các hoạt động quân sự chống lại Iran nếu các nỗ lực ngoại giao hiện tại thất bại. Phát biểu trên chương trình Meet the Press của đài NBC News với người dẫn chương trình Kristen Welker, tổng thống tuyên bố chính quyền sẽ hoặc đạt được một thỏa thuận toàn diện để ngăn chặn tham vọng hạt nhân của Tehran hoặc “phá hủy hoàn toàn chúng”.
Cuộc phỏng vấn, được ghi hình vào thứ Sáu nhưng phát sóng vào Chúa Nhật để kỷ niệm 100 ngày kể từ khi chiến tranh bắt đầu, đã nêu bật chiến lược hai hướng: ngoại giao đầy rủi ro được hỗ trợ bởi mối đe dọa sử dụng vũ lực áp đảo. Trong khi Tổng thống Trump cho biết Washington “rất gần đạt được thỏa thuận” với giới lãnh đạo Iran, ông cảnh báo rằng việc quay trở lại hành động quân sự sẽ là con đường ít phức tạp hơn nếu các cuộc đàm phán bế tắc.
“Thành thật mà nói, tôi sẽ giải quyết vấn đề này bằng cách đàm phán hoặc là cho chúng một trận tơi tả,” ông nói. “Đó thực ra là con đường dễ dàng hơn.”
Những phát biểu của tổng thống được đưa ra trong bối cảnh địa chính trị đầy biến động, đặc trưng bởi lệnh phong tỏa hải quân kéo dài của Mỹ, các cuộc không kích có mục tiêu vào cơ sở hạ tầng của Iran và các hành động trả đũa trong khu vực. Tổng thống Trump bảo vệ cách giải quyết tình hình của mình, mô tả cuộc xung đột là có phạm vi hạn chế và bác bỏ những so sánh với các cuộc chiến tranh kéo dài trong quá khứ. “Tôi không thích những cuộc chiến tranh không hồi kết. Đây không phải là một cuộc chiến tranh không hồi kết”, ông nói, đồng thời cho biết thêm Mỹ đã tham gia vào cuộc xung đột này khoảng ba tháng.
Tổng thống Trump đã xác định ngưỡng mà chính quyền của ông đặt ra để nối lại các hoạt động quân sự tấn công, viện dẫn việc thiếu động lực ngoại giao là nguyên nhân chính dẫn đến leo thang.
Tổng thống Trump tuyên bố: “Giới hạn đỏ của tôi là nếu tôi nghĩ mình sẽ không đạt được thỏa thuận, hoặc nếu tôi không đạt được thỏa thuận đủ nhanh”.
Mặc dù Tổng thống Trump khẳng định rằng một khuôn khổ ngoại giao thành công sẽ chứng kiến Mỹ tích cực hỗ trợ Iran tháo dỡ cơ sở hạ tầng hạt nhân của nước này, ông vẫn nhắc lại rằng hành động quân sự vẫn là một lựa chọn. Tổng thống đã coi nỗ lực hiện tại là một bước đi cần thiết để ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân, nhiều lần nói rằng kịch bản như vậy sẽ gây ra mối đe dọa trực tiếp đối với Mỹ và các đồng minh của nước này.
“Nếu chúng ta không đạt được thỏa thuận, chúng ta sẽ dùng biện pháp quân sự rất mạnh tay để tiêu diệt họ”, ông cảnh báo.
Kim Thúy xin tóm tắt với quý vị và anh chị em dòng thời gian của các sự kiện chính trong cuộc chiến tranh Iran
Ngày 28 tháng 2 năm 2026: Sau một loạt các cuộc tấn công do Iran hậu thuẫn nhằm vào các vị trí của Mỹ ở Iraq và Syria, Mỹ và Israel phối hợp tấn công các địa điểm phóng hỏa tiễn, cơ sở máy bay điều khiển từ xa và trung tâm chỉ huy của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, gọi tắt là IRGC của Iran. Iran đáp trả bằng cách bắn hỏa tiễn đạn đạo vào các căn cứ của Mỹ và huy động lực lượng hải quân gần eo biển Hormuz.
Đầu tháng 3: Mỹ tăng cường chiến dịch không kích nhằm vào hệ thống phòng không và các trung tâm hậu cần của Iran. Các cuộc đụng độ hải quân dữ dội đã nổ ra ở Vịnh Ba Tư khi các tàu khu trục của Mỹ chặn bắt các tàu tấn công nhanh của Iran. Đồng thời, Bộ Tư lệnh Mạng của Mỹ đã làm gián đoạn mạng lưới radar và theo dõi hỏa tiễn của Iran. Các hãng vận tải thương mại bắt đầu chuyển hướng các tàu chở dầu, khiến tỷ lệ bảo hiểm toàn cầu tăng vọt.
Giữa tháng 3 đến tháng 4: Ngũ Giác Đài đã triển khai thêm các nhóm Hàng Không Mẫu Hạm tấn công đến khu vực. Sau các hoạt động ngăn chặn trên biển của Mỹ nhằm chặn đứng các chuyến hàng vũ khí, Iran đã bắn hỏa tiễn chống hạm và tạm thời đóng cửa eo biển Hormuz. Mỹ đã đáp trả bằng đợt không kích lớn nhất trong chiến tranh, nhắm vào các nhà máy sản xuất hỏa tiễn và căn cứ hải quân. Hàng ngàn binh sĩ Mỹ bổ sung đã được triển khai để tăng cường phòng không khu vực khi Quốc hội gây áp lực lên Tòa Bạch Ốc về một chiến lược dài hạn trước thời hạn của Đạo luật Quyền lực Chiến tranh.
Tháng 5: Bước sang tháng thứ ba, cuộc chiến chứng kiến các cuộc đụng độ hải quân gần như hàng ngày và thương vong dân thường ngày càng gia tăng bên trong Iran. Giữa tháng 5, một thỏa thuận ngừng bắn mong manh do Pakistan làm trung gian đã tạo ra giai đoạn tạm lắng kéo dài đầu tiên trong giao tranh, mở đường cho các cuộc đàm phán ngoại giao gián tiếp.
Ngày 7 tháng 6: Cuộc xung đột bước sang ngày thứ 100, với lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ kéo dài 56 ngày trong khi các cuộc đàm phán vẫn đang tiếp diễn.
Tổng thống Trump cho biết 13 người Mỹ đã thiệt mạng trong cuộc xung đột hiện tại, và ông thừa nhận con số này là “quá nhiều”, nhưng ít hơn đáng kể so với các cuộc chiến tranh trước đây.
Theo thông tin từ Al Jazeera, hơn 7.000 người đã thiệt mạng trong cuộc xung đột ở nhiều quốc gia, bao gồm Jordan, Iran, Kuwait, Li Băng và Qatar.
Những gì Tổng thống Trump đang yêu cầu
Tổng thống Trump nói rằng bất kỳ thỏa thuận nào với Iran cũng phải vượt xa các thỏa thuận hạt nhân trước đây bằng cách đặt ra những giới hạn nghiêm ngặt không chỉ đối với việc phát triển vũ khí hạt nhân mà còn đối với việc sở hữu chúng thông qua các phương tiện khác.
Trong cuộc phỏng vấn hôm Chúa Nhật, ông nhấn mạnh rằng Iran phải bị cấm “phát triển hoặc mua, sở hữu hoặc mua” vật liệu hạt nhân, coi ngôn ngữ rộng hơn này là điều cần thiết để bịt kín những gì ông mô tả là kẽ hở trong các thỏa thuận trước đó như Kế hoạch Hành động Toàn diện chung năm 2015 dưới thời Tổng thống Barack Obama.
Ông nói rằng việc dỡ bỏ lệnh trừng phạt hoặc giải tỏa tài sản bị đóng băng của Iran sẽ không diễn ra ngay lập tức, mà chỉ sau khi Iran tuân thủ các điều khoản của Mỹ. “Nếu họ cư xử đúng mực, nếu họ làm tốt, chúng ta sẽ bắt đầu đàm phán”, Tổng thống Trump nói, ám chỉ rằng các biện pháp khuyến khích kinh tế sẽ được đưa ra sau, chứ không phải trước, các nhượng bộ.
Nếu một thỏa thuận được luật hóa, Tổng thống đã vạch ra một cơ chế thực thi theo đó nhân viên và thiết bị kỹ thuật của Mỹ có thể được triển khai trực tiếp đến Iran để giám sát việc khai thác và phá hủy uranium được làm giàu cao - mà ông gọi là “bụi hạt nhân”.
Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Iran, Esmail Baghaei, mới đây đã nói với truyền thông nhà nước Iran rằng “trọng tâm của các cuộc đàm phán là chấm dứt chiến tranh, và ở giai đoạn này chúng tôi không thảo luận chi tiết về vấn đề hạt nhân”.
Tehran tuyên bố họ có quyền “bất khả xâm phạm” đối với công nghệ hạt nhân, đồng thời khẳng định chương trình của họ là vì mục đích hòa bình.
Tuy nhiên, Tổng thống Trump bày tỏ sự lạc quan thận trọng về các đối tác ngoại giao hiện tại của mình ở Tehran, mô tả họ là “lý trí hơn” so với các chế độ trước đây. Ông kết luận bằng lời nhắc nhở thẳng thừng rằng cơ hội cho ngoại giao vẫn còn rất hẹp.
“Họ không thể có vũ khí hạt nhân,” Tổng thống Trump nói. “Hoặc chúng ta sẽ nhanh chóng giải quyết vấn đề, hoặc chúng ta sẽ kết thúc nó bằng biện pháp quân sự.”
[Newsweek: Trump Says He’ll ‘Blow the Hell Out of Them’ if Iran Deal Not Reached]
5. Lãnh đạo Bắc Hàn tuyên bố sẽ tăng cường lực lượng hạt nhân theo cấp số nhân.
Theo truyền thông nhà nước, Kim Chính Ân cho biết Bắc Hàn đã “tăng hơn gấp đôi” lượng vật liệu hạt nhân cấp độ vũ khí trong vòng 5 năm và tuyên bố sẽ tiếp tục phát triển lực lượng hạt nhân của mình “với tốc độ theo cấp số nhân”.
Những hình ảnh do hãng thông tấn nhà nước Bắc Hàn KCNA công bố cho thấy nhà lãnh đạo Bắc Hàn và các quan chức cao cấp đang thăm một cơ sở làm giàu uranium mới tại một địa điểm không được tiết lộ.
Việc Bình Nhưỡng muốn tăng cường kho vũ khí và các bệ phóng vũ khí diễn ra trong bối cảnh quan hệ với chính phủ Hán Thành, đồng minh của Mỹ, đang xấu đi nghiêm trọng. Bình Nhưỡng không còn coi Hán Thành là đối tác cho việc thống nhất Bán đảo Triều Tiên trong tương lai.
Một bức ảnh bị mờ một phần dường như cho thấy Kim đang xem xét thiết kế đầu đạn hạt nhân, tại một cuộc họp mà ông tái khẳng định sự cần thiết phải tăng cường khả năng răn đe hạt nhân.
Bắc Hàn đã học được gì từ cuộc chiến với Iran?
Theo các ước tính công khai, Bắc Hàn sở hữu ít nhất 60 đầu đạn hạt nhân, một con số nhỏ so với kho vũ khí hạt nhân của Nga và Mỹ, cả hai đều vượt quá 5.000 đầu đạn.
Chế độ này dường như đang rút kinh nghiệm từ số phận của các đồng minh không sở hữu vũ khí hạt nhân—bao gồm Venezuela và Iran, cả hai đều không thể ngăn chặn sự cưỡng ép quân sự và tấn công từ phía Hoa Kỳ.
Đối với Kim Chính Ân, việc Mỹ ném bom các địa điểm hạt nhân của Iran hồi tháng 6 năm ngoái và cuộc chiến đang diễn ra giữa Washington và Tehran trong năm nay có lẽ đã chứng minh thêm giá trị của khả năng răn đe hạt nhân.
“ Những mối đe dọa tiềm tàng và các cuộc khủng hoảng dài hạn khó lường càng làm nổi bật tính cấp bách và trách nhiệm của sứ mệnh lịch sử nhằm tăng cường cả về phẩm chất và số lượng, cũng như một cách bền vững và đẩy nhanh, khả năng răn đe chiến tranh hạt nhân”.
Ông nói: “Lập trường của Đảng và Chính phủ chúng ta rất rõ ràng… trong việc thực hiện chiến lược ngăn chặn chiến tranh và tiến hành chiến tranh, và phát huy triệt để vị thế của một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân”.
Theo một báo cáo đánh giá thường niên được Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế công bố tuần trước, Bắc Hàn sở hữu quân đội thường trực lớn thứ hai thế giới với 1,1 triệu binh sĩ, ít hơn so với Ấn Độ (1,24 triệu) nhưng nhiều hơn Trung Quốc (950.000).
Việc Bắc Hàn tăng cường vũ khí thông thường và hạt nhân đang thúc đẩy các phản ứng của Mỹ và khu vực ở Thái Bình Dương, bao gồm cả việc trang bị khả năng tấn công tầm xa và phát triển vũ khí siêu thanh cũng như hệ thống phòng thủ hỏa tiễn.
Hỏa tiễn siêu thanh nằm trong danh sách vũ khí hiện đại mà Kim Chính Ân mong muốn được công bố năm 2021, cùng với tàu ngầm hạt nhân. Ông ta có thể muốn sở hữu hỏa tiễn siêu thanh vì “lý do chiến lược và thể hiện uy tín”, Daniel Salisbury, một chuyên gia về kiểm soát vũ khí, viết trong báo cáo của IISS.
Salisbury nói: “Bắc Hàn, quốc gia hạt nhân trẻ nhất trong khu vực, mà các ước tính công khai từ bên ngoài cộng đồng tình báo Mỹ cho thấy đã sản xuất vật liệu cho tới 90 đầu đạn và có khả năng đã lắp ráp được 50 đầu đạn, cũng tiếp tục gia tăng kho vũ khí của mình, với nhiều điều chưa rõ ràng về quy mô tham vọng của nước này.”
Sự tồn tại của một nhà máy mới của Bắc Hàn để sản xuất uranium được làm giàu cao đã được cơ quan giám sát hạt nhân của Liên Hiệp Quốc tiết lộ lần đầu tiên cách đây một năm.
Ngày 9 tháng 6, Rafael Grossi, tổng giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, đã mô tả việc xây dựng một cơ sở mới ở Yongbyon, trung tâm nghiên cứu vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn và là một trong ba thành phố có địa điểm làm giàu uranium đã được biết đến, cùng với Kangson và Kusong.
IAEA không cung cấp hình ảnh về nhà máy mới này, nhưng các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Quốc tế Middlebury ở California cho biết ngày hôm sau rằng nó trùng khớp với một nhà máy mà họ đã theo dõi ở Yongbyon.
“Khi Bắc Hàn mở rộng sản xuất uranium làm giàu bằng cách xây dựng các cơ sở mới, Bắc Hàn đã bố trí nhiều máy ly tâm hơn vào một diện tích mặt bằng nhỏ hơn nhiều”, Jeffrey Lewis và Sam Lair thuộc Trung tâm Nghiên cứu Không phổ biến vũ khí hạt nhân tại MIIS đã viết vào thời điểm đó.
Lewis nói rằng những bức ảnh của KCNA dường như cho thấy một nhà máy có hai tầng.
Ông viết: “Chúng tôi cho rằng với 28 dây chuyền sản xuất, tương đương khoảng 4.600 máy móc, cùng với các khu phụ mới được xây dựng tại Kangson và địa điểm Yongbyon cũ, sản lượng uranium làm giàu cao, gọi tắt là HEU sẽ tăng gấp đôi”.
Cùng ngày tham quan cơ sở, ông Kim cũng chủ trì “một cuộc họp tham khảo ý kiến quan trọng nhằm tăng cường lực lượng hạt nhân”, theo hãng thông tấn KCNA.
“ Chúng tôi đã xác nhận thứ tự ưu tiên thực hiện kế hoạch tương lai đầy tham vọng nhằm tăng cường lực lượng hạt nhân của quốc gia với tốc độ theo cấp số nhân, cũng như sự bảo đảm cần thiết cho mục đích đó”, ông Kim nói.
Ông gọi đó là “một sự kiện lịch sử đã tạo nên một cột mốc mang tính bước ngoặt trong việc nâng cấp nhanh chóng năng lực hạt nhân của chúng ta.”
Tòa Bạch Ốc cho biết Tổng thống Trump và người đồng cấp Trung Quốc Tập Cận Bình “đã khẳng định mục tiêu chung là phi hạt nhân hóa Bắc Hàn” trong cuộc gặp thượng đỉnh tại Bắc Kinh tháng trước. Tuy nhiên, thông cáo của Trung Quốc về cuộc đàm phán không nêu rõ điều đó.
Tổng thống Trump có thể đang tìm kiếm một vòng đàm phán mới với ông Kim, nhưng nhà lãnh đạo tối cao của Bắc Hàn dường như ít quan tâm đến các cuộc đàm phán kiểm soát vũ khí hơn là việc tăng cường quan hệ chiến lược với ông Tập Cận Bình và Putin.
Tuần trước, Bình Nhưỡng tuyên bố rằng việc phi hạt nhân hóa Bắc Hàn “sẽ không bao giờ diễn ra mãi mãi là như vậy”.
[Newsweek: North Korea Leader Vows To Grow Nuclear Forces Exponentially]
6. Tổng thống Trump kết thúc cuộc phỏng vấn trên NBC vì thảo luận về cuộc bầu cử “gian lận”.
Tổng thống Trump đã bỏ ngang cuộc phỏng vấn với Kristen Welker của đài NBC sau một cuộc tranh luận gay gắt về cuộc bầu cử “gian lận”.
Trong cuộc phỏng vấn được ghi hình trước và phát sóng hôm Chúa Nhật trên chương trình “Meet the Press”, Tổng thống Trump cũng công kích tính liêm chính của giới báo chí, bao gồm cả chương trình mà ông đang tham gia.
Ông ta tuyên bố chính quyền Tổng thống Biden đã “bỏ tù những người không làm gì sai”. Welker phản bác, nói rằng không có bằng chứng nào để chứng thực những cáo buộc của tổng thống, trước khi cố gắng lái cuộc trò chuyện sang quyền Bộ trưởng Tư pháp Todd Blanche. Tuy nhiên, Tổng thống Trump vẫn giữ nguyên lập trường.
“Có rất nhiều bằng chứng,” ông nói. “Có vô số bằng chứng. Chẳng có gì ngoài bằng chứng cả.”
“Vâng, điều đó chưa được trình bày trước tòa án,” Welker đáp lại. Sau đó, Tổng thống Trump lập luận rằng cuộc bầu cử năm 2020 đã bị gian lận — một luận điệu thường thấy của tổng thống — khi ông cáo buộc các cuộc bầu cử gian lận hiện đang diễn ra ở California.
Tổng thống nói rằng đảng Cộng hòa đang “thất bại nhanh chóng vì đây là một cuộc bầu cử gian lận”. Welker đặt câu hỏi về bằng chứng mà tổng thống có để chứng minh cho tuyên bố “gian lận” trong cuộc bầu cử ở California.
Tổng thống Trump không đưa ra bằng chứng nhưng mắng Welker rằng: “Họ cũng gian xảo như cô, báo chí của cô cũng gian xảo. Và chương trình 'Meet the Press' cũng gian xảo”
“Thành thật mà nói, tôi không phải là người gian xảo,” Welker đáp. “Nhưng chúng ta hãy tiếp tục.”
Sau đó, Tổng thống Trump cáo buộc Welker đã “mắc bẫy của họ”.
“Cô đang vô tình tiếp tay cho họ với những trò này. Cô biết rõ cuộc bầu cử này đã bị gian lận. Đài truyền hình của cô cũng biết điều đó,” ông nói trước khi công kích uy tín của cô. “Đài truyền hình của cô là một đài truyền hình thiên vị và gian xảo. Xin lỗi. Chúng ta hãy dừng lại ở đây vì tôi đã chịu đựng hết nổi rồi.”
Welker nài nỉ Tổng thống Trump tiếp tục cuộc phỏng vấn, nhấn mạnh rằng cô và nhóm của mình đã đi một chặng đường dài đến Wisconsin để thực hiện cuộc phỏng vấn, nhưng Tổng thống Trump đã từ chối.
“Các bạn nên chấn chỉnh lại báo chí của mình, bởi vì các bạn biết đấy, một quốc gia không bao giờ có thể vĩ đại nếu có một nền báo chí thiếu trung thực,” ông nói.
Sau khi cuộc phỏng vấn được phát sóng, Welker cho biết cô đã nói chuyện với Tổng thống Trump vào thứ Bảy và ông ấy đã đồng ý quay lại để phỏng vấn tiếp theo. Cô không nói rõ địa điểm hoặc thời gian diễn ra cuộc phỏng vấn đó.
[Politico: Trump ends NBC interview over discussion of ‘crooked’ elections]
7. Theo các báo cáo, Nga đã hạn chế việc lưu thông xe buýt và xe hơi cá nhân trên các tuyến đường chính xuyên qua các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm, chấm dứt tình trạng tắc nghẽn hành lang đường bộ kéo dài hai tuần.
Theo hãng tin Espreso dẫn nguồn từ truyền thông Nga, chính quyền xâm lược của Nga đang hạn chế giao thông xe buýt thường xuyên và xe hơi cá nhân trên hai tuyến đường vận tải chính xuyên qua vùng Ukraine bị tạm chiếm, bắt đầu từ ngày 6 tháng 6, do cái mà họ gọi là “các cuộc tấn công vào phương tiện vận tải dân sự” của người Ukraine.
Các hạn chế này áp dụng cho xa lộ R-280 “Novorossiya” nối Rostov-on-Don qua Mariupol, Berdiansk và Melitopol đến Simferopol, và xa lộ R-150 nối Belgorod qua Starobilsk, Luhansk và Donetsk đến Mariupol, hai tuyến đường huyết mạch chính xuyên qua lãnh thổ bị Nga tạm chiếm ở Ukraine.
Nga sử dụng những tuyến đường này để tiếp tế cho lực lượng xâm lược của mình. Việc quân xâm lược viện dẫn lý do đóng cửa các tuyến đường này để bảo vệ chống lại các “cuộc tấn công vào phương tiện vận chuyển dân sự” của Ukraine diễn ra cùng tuần mà các đơn vị du kích Ukraine ghi nhận lực lượng Nga sử dụng xe cứu thương, xe chở bánh mì và xe tải bưu điện để vận chuyển nhiên liệu quân sự đến tiền tuyến trên chính những tuyến đường đó.
Xa lộ R-280 là tuyến đường bộ huyết mạch chính nối liền Nga với Crimea bị tạm chiếm, chạy từ Rostov-on-Don đến Mariupol, Berdiansk, Melitopol và Simferopol.
Xa lộ R-150 trải dài qua khu vực phía bắc: từ Belgorod đến Starobilsk, Luhansk, Donetsk và Mariupol.
Chính quyền xâm lược của Nga tại tỉnh Luhansk bị tạm chiếm khuyến cáo người dân địa phương không nên đi lại trên những tuyến đường này, đồng thời lưu ý rằng dịch vụ xe buýt nội địa sẽ tiếp tục hoạt động trên các tuyến đường đã được điều chỉnh.
Việc vận chuyển các nhóm trẻ em có tổ chức qua khu vực này tạm thời bị cấm và dịch vụ tàu hỏa ngoại ô bị đình chỉ.
Các biện pháp hạn chế ngày 6 tháng 6 là đỉnh điểm của chuỗi hai tuần gián đoạn hành lang giao thông do chiến dịch “phong tỏa hậu cần” của Ukraine gây ra.
Ngày 29 tháng 5, Tổng cục Tình báo Ukraine, gọi tắt là HUR công bố một video về các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa nhằm vào các xe chở nhiên liệu của Nga dọc theo đoạn Berdiansk-Melitopol-Crimea của cùng tuyến đường R-280.
Đến ngày 31 tháng 5, cư dân Mariupol đã báo cáo trong các nhóm trò chuyện địa phương rằng Nga đã đóng cửa xa lộ Manhush-Berdiansk, đoạn phía đông của tuyến đường huyết mạch này.
Đến ngày 3 tháng 6, cuộc khủng hoảng xăng dầu của Nga đã lan rộng đến St. Petersburg, Belgorod, Kursk và vùng Luhansk bị tạm chiếm, với 40% công suất lọc dầu của Nga phải ngừng hoạt động.
Ngày 5 tháng 6, Nga ra lệnh cho các tài xế chở nhiên liệu mặc thường phục. Ngày 6 tháng 6, Nga đóng cửa giao thông dân sự trên tuyến đường R-280 và R-150.
Việc phong tỏa các tuyến đường đã làm thay đổi cuộc sống thường nhật trên khắp miền nam Ukraine bị Nga tạm chiếm. Người dân không còn có thể di chuyển giữa các thành phố lớn bị tạm chiếm bằng xe buýt thông thường. Trong khi đó, xe hơi cá nhân bị hạn chế lưu thông trên các tuyến đường chính.
[Europe Maidan: Russia reportedly restricts bus and private car movement on main arteries through occupied territories, capping two weeks of land-corridor breakdown]
8. Anh phản bác sau bình luận của Vance về vụ sát hại thiếu niên người Anh.
Chính phủ Anh đã lên án “những kẻ đang cố gắng can thiệp vào nền dân chủ của chúng ta và tìm cách gây chia rẽ” sau những bình luận của Phó Tổng thống Mỹ JD Vance về cái chết của thiếu niên người Anh Henry Nowak.
Vance đổ lỗi cho cái chết của chàng trai 18 tuổi, người đã bị giết năm ngoái tại thành phố Southampton ở miền nam nước Anh, là do “chính sách tự thù hận” của phương Tây và “làn sóng di cư ồ ạt”.
Cái chết của Nowak đã làm dấy lên một cuộc tranh luận gay gắt về hoạt động của cảnh sát ở Anh, bắt nguồn từ đoạn video ghi lại cảnh các viên chức cảnh sát còng tay thiếu niên này sau khi kẻ giết người, Vickrum Digwa, vu cáo cậu ta tội phân biệt chủng tộc.
Một tuyên bố từ Phủ Thủ tướng cho biết gia đình ông Nowak “không muốn cái chết của ông bị lợi dụng để tạo ra thêm sự chia rẽ, thù hận hoặc căng thẳng”.
Các cuộc biểu tình bạo lực đã nổ ra hồi đầu tuần này khi thông tin chi tiết về cái chết của Nowak được tiết lộ và làm dấy lên những cáo buộc rằng Vương quốc Anh có một hệ thống tư pháp “hai cấp” thiên vị người da trắng.
Digwa, một người đàn ông theo đạo Sikh 23 tuổi, người đã đâm Nowak bằng con dao mà anh ta khai là mang theo vì lý do tôn giáo, đã bị kết án tù chung thân vào thứ Hai.
Trong bài đăng hôm thứ Sáu, Vance viết rằng “Henry Nowak đã chết theo cách mà một nền văn minh diệt vong: bị bỏ rơi, bị chính quyền còng tay… Vụ ám sát ông ấy vừa bi thảm vừa đáng phẫn nộ.”
Đầu tuần này, Thủ tướng Anh Keir Starmer đã cáo buộc Elon Musk can thiệp vào chính trường Anh sau khi chủ sở hữu nền tảng mạng xã hội X đăng tải hàng loạt bình luận về cái chết của Nowak.
Tuy nhiên, vấn đề là bạo lực ở Hoa Kỳ nghiêm trọng hơn ở các quốc gia Âu Châu. Congressional Research Service hay Dịch vụ Nghiên cứu Quốc hội đưa ra định nghĩa xả súng hàng loạt hay mass shooting là những vụ việc trong đó nhiều người bị thương hoặc thiệt mạng do bạo lực liên quan đến súng; cụ thể thuật ngữ này bao gồm tổng cộng bốn nạn nhân trở lên.
Nếu căn cứ theo định nghĩa của Congressional Research Service tính từ đầu năm 2026 đến ngày 31 tháng 5 năm 2026, có tổng cộng 175 người đã thiệt mạng và 695 người bị thương trong 170 vụ xả súng.
Trong bối cảnh bạo lực ở Mỹ nghiêm trọng như vậy, việc Vance chỉ trích tình trạng bạo lực ở Anh xem ra vô nghĩa.
“Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới? Sao anh lại có thể nói với người anh em: ‘Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh ra’, trong khi chính mình lại không thấy cái xà trong con mắt của mình? Hỡi kẻ đạo đức giả! Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em!” (Lc 6:41-42)
[Politico: UK hits back after Vance’s comments over murder of British teenager]
9. Chương trình Lương thực Thế giới, gọi tắt là WFP cho biết chiến tranh đang đẩy thêm hàng triệu người vào cảnh đói nghèo.
Theo dự báo của Chương trình Lương thực Thế giới, gọi tắt là WFP thuộc Liên Hiệp Quốc, cuộc chiến tranh kéo dài ở Trung Đông đang đẩy hàng triệu người ở một số quốc gia dễ bị tổn thương nhất trên thế giới vào cảnh đói nghèo.
Một báo cáo của Chương trình Lương thực Thế giới, gọi tắt là WFP hồi tháng 3 đã cảnh báo rằng nếu xung đột khu vực tiếp diễn và giá dầu duy trì ở mức khoảng 100 đô la một thùng, 45 triệu người có thể rơi vào tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng. Một báo cáo cập nhật hiện nay xác nhận kịch bản đó đang diễn ra.
Theo cơ quan này, các quốc gia đang phải đối mặt với xung đột và khó khăn kinh tế là những nước dễ bị tổn thương nhất trước cuộc khủng hoảng vì họ phụ thuộc rất nhiều vào hàng nhập khẩu trong bối cảnh giá nhiên liệu, thực phẩm, phân bón và viện trợ nhân đạo tiếp tục tăng cao.
Báo cáo cũng cho biết, do cuộc khủng hoảng, thêm 2,5 triệu người ở Somalia, 1,3 triệu người ở Sri Lanka và 2,3 triệu người ở Afghanistan đang phải vật lộn để đáp ứng nhu cầu lương thực cơ bản.
[CBSNews: War pushing millions more people into hunger, WFP says]
10. Theo một báo cáo, Nga đã cản trở việc di tản sau vụ vỡ đập Kakhovka, dẫn đến thương vong cho dân thường.
Theo một báo cáo do tổ chức nhân quyền Truth Hounds của Ukraine công bố ngày 6 tháng 6, sau khi đập Kakhovka bị phá hủy, Nga đã cản trở các hoạt động cấp cứu ở tỉnh Kherson, khiến việc di tản dân thường và cung cấp viện trợ trở nên khó khăn hơn.
Ngày 6 tháng 6 năm 2023, quân đội Nga đã cho nổ nhà máy thủy điện Kakhovka và đập liền kề ở tỉnh Kherson, gây ra thảm họa nhân đạo và môi trường quy mô lớn trên khắp miền nam Ukraine.
Lũ lụt do vụ vỡ đê gây ra đã khiến hơn 30 người thiệt mạng tại các vùng lãnh thổ do Ukraine kiểm soát và hàng chục đến hàng trăm người khác tại các khu vực bị Nga tạm chiếm.
Theo báo cáo, tại bờ tây sông Dnipro do Ukraine kiểm soát, các tình nguyện viên từ Hội Hồng Thập Tự, các tổ chức phi chính phủ địa phương và người dân sử dụng thuyền tư nhân đã bắt đầu di tản người dân chỉ vài giờ sau khi đập bị vỡ.
Thay vì tổ chức di tản, lực lượng Nga được tường trình đã tịch thu các thuyền dân sự để sử dụng cho mục đích quân sự và ngăn cản người dân rời đi.
Các nhân chứng nói với Truth Hounds rằng việc di tản được thực hiện có chọn lọc, ưu tiên những người mang hộ chiếu Nga. Một số người cũng cho biết họ bị đòi tiền. Báo cáo cho biết thêm, sự gián đoạn liên lạc càng làm phức tạp thêm nỗ lực di tản.
“Vụ án Kakhovka cho thấy việc sử dụng nước như một vũ khí có thể trở nên nghiêm trọng hơn thông qua các cuộc tấn công vào lực lượng cấp cứu khẩn cấp”, Roman Koval, trưởng bộ phận nghiên cứu tại Truth Hounds, cho biết.
“Lực lượng Nga và chính quyền xâm lược đã khiến việc tận dụng hiệu quả khoảng thời gian phản ứng – giai đoạn mà tình trạng khẩn cấp chưa đạt đến đỉnh điểm gây thiệt hại – trở nên khó khăn hơn đáng kể.”
Theo báo cáo, trong lúc các nỗ lực cấp cứu đang diễn ra, binh lính Nga đã nã pháo vào các điểm di tản và thuyền cấp cứu. Báo cáo cho biết các tình nguyện viên nói rằng các dấu hiệu nhân đạo và đồng phục không mang lại sự bảo vệ, và trong một số trường hợp thậm chí còn khiến họ trở thành mục tiêu dễ bị tấn công hơn.
Theo nghiên cứu, hơn 10 tình nguyện viên đã bị thương do các cuộc tấn công của Nga trong các hoạt động cấp cứu trên lãnh thổ do Ukraine kiểm soát. Một vụ tấn công bằng súng cối vào điểm di tản ở Kherson được tường trình đã làm bị thương 9 người, trong đó có hai nhân viên cấp cứu và một viên chức cảnh sát.
Năm trong số bảy tình nguyện viên từ bờ tây được Truth Hounds phỏng vấn cho biết họ đã chứng kiến hoặc bị trúng đạn trong các hoạt động cấp cứu.
Tình hình ở bờ đông bị Nga tạm chiếm thuộc tỉnh Kherson khó khăn hơn nhiều.
[Kyiv Independent: Russia obstructed evacuations after Kakhovka dam destruction leading to civilian casualties, report says]
1. 10 điều cần biết về Giáo Hội Công Giáo tại Tây Ban Nha trong bối cảnh chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đang thăm Tây Ban Nha từ ngày 6 đến 12 tháng 6, dừng chân tại Madrid, Barcelona, quần đảo Canary và Tenerife. Đây là lần thứ chín một vị giáo hoàng đến thăm đất nước này. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến thăm Tây Ban Nha năm lần và Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 đã đến đây ba lần.
Trong chuyến đi này, Đức Giáo Hoàng Lêô sẽ tham gia 20 sự kiện chính thức, trong đó một số khoảnh khắc được mong chờ nhất là buổi canh thức lớn với giới trẻ, Thánh lễ ngoài trời mừng Lễ Mình Thánh Chúa và cuộc rước kiệu qua các đường phố Madrid.
Dưới đây là 10 điều cần biết về Giáo hội tại Tây Ban Nha, đặc biệt tập trung vào các khu vực mà Đức Thánh Cha sẽ đến thăm.
Thứ nhất, Tây Ban Nha là quốc gia cử nhiều nhà truyền giáo nhất.
Hiện nay, Tây Ban Nha dẫn đầu thế giới về việc cử các nhà truyền giáo Công Giáo đến các quốc gia khác và cũng là một trong những nước tài trợ hàng đầu cho các Hội Giáo Hoàng Truyền giáo. Theo báo cáo năm 2024 của nhóm truyền giáo này, Tây Ban Nha có gần 10.000 nhà truyền giáo, trong đó khoảng 5.000 người đang hoạt động; hơn một nửa là phụ nữ và hầu hết phục vụ ở Mỹ Châu.
Thứ hai, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị gọi Tây Ban Nha là Tierra de María (“Vùng đất của Đức Mẹ”).
Thánh Gioan Phaolô II đã nhiều lần gọi Tây Ban Nha là “vùng đất của Đức Mẹ”, đặc biệt là trong các chuyến thăm năm 1982 và 2003, nhấn mạnh đến mạng lưới dày đặc các đền thờ và hoạt động sùng kính Đức Mẹ ở nước này. Tây Ban Nha thực sự có rất nhiều thánh địa Đức Mẹ — từ các vương cung thánh đường lớn đến những nhà nguyện nhỏ trên đỉnh đồi — đến nỗi hầu như mọi vùng miền đều có danh hiệu, lễ hội và cuộc hành hương riêng dành cho Đức Mẹ.
Thứ ba, Đây là nơi lưu giữ những chứng nhân và những vị tử đạo Kitô giáo.
Theo nhà sử học người Tây Ban Nha, Đức ông Vicente Carcel Orti, Nội chiến Tây Ban Nha đã để lại một trong những “dấu ấn tử đạo” lớn nhất trong lịch sử Giáo hội hiện đại, và nó đã định hình sâu sắc bản đồ các vị thánh và người được phong chân phước của Tây Ban Nha. Trong suốt cuộc chiến và thời kỳ bách hại rộng lớn hơn, khoảng 6.832 giám mục, linh mục, tu sĩ và nữ tu đã bị giết vì đức tin của họ, cùng với hàng ngàn tín hữu Công Giáo giáo dân đã liều mạng để bảo vệ giáo sĩ và tu sĩ.
Từ cuộc bách hại quy mô lớn này, Giáo hội đã dần dần công nhận một số lượng rất lớn các vị tử đạo: Năm 2007, lễ phong chân phước cho 498 vị tử đạo dưới thời Đức Bênêđíctô XVI là buổi lễ phong chân phước lớn nhất từng được tổ chức. Đến cuối những năm 2000, gần 1.000 vị tử đạo của Nội chiến Tây Ban Nha đã được phong chân phước hoặc phong thánh.
Thứ tư, Nhà thờ chính tòa Madrid được một giáo hoàng làm lễ thánh hiến.
Một trong những công trình Công Giáo quan trọng nhất ở Madrid là Nhà thờ Đức Mẹ Almudena, được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thánh hiến năm 1993. Việc thánh hiến nhà thờ bởi một vị Giáo hoàng là khá hiếm hoi bên ngoài Rôma, điều này mang lại cho nhà thờ ý nghĩa đặc biệt trong đời sống Công Giáo Tây Ban Nha. Công trình này vẫn là tâm điểm cho các lễ kỷ niệm tôn giáo lớn ở thủ đô Tây Ban Nha.
Việc xây dựng Nhà thờ Almudena bắt đầu vào năm 1883 và mãi đến năm 1993 mới hoàn thành. Dự án kéo dài cả thế kỷ này phản ánh tầm quan trọng lâu dài của Công Giáo ở Tây Ban Nha và sự phát triển kiến trúc của thời hiện đại. Ngày nay, nhà thờ nằm đối diện với Cung điện Hoàng gia Madrid, tượng trưng cho mối quan hệ lịch sử giữa nhà thờ và hoàng gia.
Thứ năm, Đức Mẹ Maria, vị thánh bảo hộ của Madrid, đã “ẩn mình trong những bức tường”.
Thánh bổn mạng của Madrid là Đức Mẹ Almudena, hình ảnh của Người gắn liền với một truyền thống lâu đời có từ thời Trung cổ của Tây Ban Nha. Theo truyền thuyết, khi quân Moor xâm chiếm vùng này vào năm 712, người dân Madrid đã bí mật giấu bức tượng Đức Mẹ Maria yêu quý của họ bên trong những bức tường đá dày của pháo đài thành phố, để lại hai ngọn nến đang cháy bên cạnh. Năm 1085, sau khi Vua Alfonso VI tái chiếm Madrid, những người Kitô giáo đã tìm kiếm bức tượng. Trong khi đi dọc theo tường thành, một phần tường đã sụp đổ một cách kỳ diệu, để lộ bức tượng được bảo tồn hoàn hảo với những ngọn nến vẫn cháy sau nhiều thế kỷ.
Bức ảnh thiêng liêng đó sẽ được rước qua sân vận động Santiago Bernabéu trong cuộc gặp gỡ của Đức Thánh Cha với cộng đồng giáo phận Madrid vào ngày 8 tháng 6.
Thứ sáu, Hoàng gia Tây Ban Nha có mối quan hệ mật thiết với Giáo hội.
Gia đình hoàng gia Tây Ban Nha duy trì mối quan hệ mật thiết với Giáo Hội Công Giáo, và một trong những ví dụ rõ ràng nhất là vào năm 2004 khi Thái tử Felipe kết hôn với Letizia Ortiz tại Nhà thờ Almudena ở Madrid. Buổi lễ đã nhấn mạnh vai trò tiếp tục của các truyền thống Công Giáo trong các sự kiện quốc gia quan trọng.
Thứ bẩy, Nhà thờ nổi tiếng nhất Barcelona là một giáo lý bằng đá.
Vương cung thánh đường Sagrada Família không chỉ là một kiệt tác kiến trúc mà còn được xây dựng như một công cụ truyền giáo. Những người sáng lập đã hình dung ra một nhà thờ có thể truyền đạt đức tin Kitô giáo thông qua nghệ thuật, biểu tượng và kiến trúc, biến nó trở thành một trong những biểu hiện độc đáo nhất của đức tin Công Giáo trên thế giới.
Du khách đến thăm Sagrada Família sẽ được chứng kiến một câu chuyện trực quan tái hiện lại cốt lõi của Kitô giáo. Các mặt tiền chính của vương cung thánh đường mô tả sự Giáng Sinh, cuộc Khổ nạn và vinh quang của Chúa Kitô — được dành riêng cho vinh quang, sự thăng thiên và sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa.
Nhà thờ Sagrada Família đã trở thành tòa nhà thờ cao nhất thế giới với chiều cao khoảng 162 mét. Mặc dù có quy mô đồ sộ, vương cung thánh đường này được thiết kế để hướng sự chú ý đến Chúa chứ không phải thành tựu của con người.
Vương cung thánh đường nổi tiếng này ban đầu được thiết kế bởi Francisco de Paula del Villar vào năm 1882. Tuy nhiên, kiến trúc sư người Catalan Antoni Gaudí đã tiếp quản dự án vào năm 1883 và hoàn toàn biến đổi thiết kế thành sự kết hợp giữa phong cách Gothic và Art Nouveau, giám sát việc xây dựng cho đến khi ông qua đời vào năm 1926. Sau khi ông mất, một số kiến trúc sư khác đã tiếp tục công việc của ông với mục tiêu hoàn thành tầm nhìn ban đầu của ông.
Gaudí cố tình thiết kế nhà thờ Sagrada Família sao cho nó thấp hơn một chút so với ngọn đồi Montjuïc gần đó ở Barcelona, bởi vì ông tin rằng không có công trình nào của con người được phép vượt qua tạo vật của Chúa.
Thứ tám, Kiến trúc sư của nhà thờ Sagrada Família có thể một ngày nào đó sẽ được phong thánh.
Antoni Gaudí nổi tiếng với đức tin cá nhân mãnh liệt và lòng tận tụy đối với việc xây dựng nhà thờ Sagrada Família. Ngày 14 tháng 4 năm 2025, Vatican thông báo rằng Giáo hoàng Phanxicô đã chính thức công nhận “đức hạnh anh hùng” của Gaudí, một bước quan trọng trong tiến trình phong thánh. Hiện nay, cần có hai phép lạ được tường trình nhờ sự cầu bầu của Gaudí để tiến hành phong thánh cho ông.
Thứ chín, Đền thờ Đức Mẹ vĩ đại ở Tenerife là địa điểm hành hương quan trọng nhất của quần đảo Canary.
Vương cung thánh đường Đức Mẹ Candelaria ở Tenerife là địa điểm hành hương Công Giáo quan trọng nhất ở quần đảo Canary. Từ nhiều thế hệ, nơi đây đã đóng vai trò là trái tim tâm linh của quần đảo và vẫn là điểm đến chính cho những người hành hương và du khách, thu hút khoảng 2 triệu lượt khách mỗi năm.
Vương cung thánh đường này được dành riêng cho thánh bổn mạng của quần đảo Canary — Đức Mẹ Candelaria. Truyền thuyết kể rằng hình ảnh Đức Mẹ Candelaria đã được người Guanche bản địa tôn kính trước khi Tây Ban Nha hoàn thành cuộc chinh phục Tenerife. Đức Mẹ Candelaria thường được liên kết với truyền thống Đức Mẹ Đen — những hình ảnh Đức Mẹ có làn da sẫm màu được tôn kính ở nhiều nơi trên thế giới.
Thứ mười, Quần đảo Canary là một trong những tiền đồn Công Giáo đầu tiên.
Quần đảo Canary được chia thành hai giáo phận Công Giáo: một giáo phận đặt tại Las Palmas và giáo phận còn lại ở San Cristóbal de La Laguna trên đảo Tenerife. Các giáo phận này được thành lập vào đầu thế kỷ 15, nhiều thập niên trước khi đạo Công Giáo được truyền bá rộng rãi ở phần lớn Mỹ Châu. Điều này đã biến quần đảo trở thành một tiền tuyến quan trọng trong quá trình bành trướng của đạo Công Giáo trong một giai đoạn then chốt của lịch sử thế giới.
Nhờ vị trí chiến lược ở Đại Tây Dương, quần đảo Canary trở thành điểm dừng chân quan trọng cho các nhà thám hiểm, nhà truyền giáo và người định cư trên hành trình giữa Âu Châu và Mỹ Châu. Do đó, các đảo này đóng vai trò đáng kể trong việc truyền bá đạo Công Giáo khắp Tân Thế giới.
Source:National Catholic Register
2. Diễn từ của Đức Thánh Cha với chính quyền dân sự và ngoại giao đoàn.
Kính thưa quý vị và anh chị em,
Lúc 8g sáng Thứ Bẩy, 06 Tháng Sáu, theo giờ địa phương Rôma, Đức Thánh Cha đã khởi hành bằng máy bay từ phi trường quốc tế Fiumicino của Rôma để bay đến Madrid.
Trên đường đến Madrid, Đức Thánh Cha nói với các ký giả tháp tùng rằng:
Chuyến hành trình tông đồ là cơ hội để gặp gỡ các tín hữu, để cử hành đức tin và loan truyền sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô. Nhưng đồng thời, đó cũng là dịp để chào đón tất cả mọi người, toàn thể xã hội, bởi vì Giáo hội có một sứ điệp dành cho tất cả mọi người, như các bạn có thể đã thấy, tôi tin là rất rõ ràng trong Thông điệp được công bố vào ngày 25 tháng 5.
Tôi hy vọng mọi người sẽ có một chuyến đi vui vẻ và đó sẽ là cơ hội để nuôi dưỡng lòng nhiệt thành lớn lao. Có rất nhiều người Công Giáo, và tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh sự hiện diện của giới trẻ. Theo những gì tôi được biết, một số lượng lớn giới trẻ sẽ tham gia với lòng nhiệt thành lớn lao. Bằng cách cùng nhau chia sẻ niềm vui đức tin, tôi tin rằng chúng ta có thể mang đến một thông điệp rất tích cực. Đó là một thông điệp sẽ mang ý nghĩa đặc biệt ở mọi nơi chúng ta đến thăm, dù là Madrid, Barcelona hay quần đảo Canary. Mong rằng mọi sự đều góp phần sống trọn đức tin của chúng ta và loan truyền sứ điệp về tình yêu thương, lòng bác ái và sự tôn trọng của Thiên Chúa dành cho mọi con người.
Những hình ảnh quý vị và anh chị em đang xem thấy đây là quang cảnh đón tiếp tại phi trường quốc tế Adolfo Suárez Madrid-Barajas của Thủ đô Madrid vào lúc 10:30 sáng giờ địa phương.
Sau lễ nghi đón tiếp, Đức Thánh Cha đã đi xe đến Cung điện Hoàng gia ở Madrid. Tại đây, lúc 12 giờ trưa, Đức Thánh Cha đã thăm xã giao Nhà Vua Và Hoàng Hậu Tây Ban Nha.
Lúc 12:30, Đức Thánh Cha đã gặp gỡ chính quyền dân sự và ngoại giao đoàn.
Trong diễn từ tại đây, Đức Thánh Cha nói:
Thưa Các Công Chúa
Thưa các vị Đại diện Danh dự của Xã hội Dân sự
Thưa các thành viên đáng kính của Đoàn Ngoại giao,
Thưa quý bà và quý ông,
Tôi tạ ơn Chúa vì dịp được gặp gỡ quý vị này, và bày tỏ lòng biết ơn về lời mời thực hiện Chuyến Tông du đến Tây Ban Nha. Chuyến đi này sẽ diễn ra qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn hé lộ một khía cạnh về sự phong phú đa diện của một đất nước vĩ đại, nơi đã đón nhận Tin Mừng trong gần hai thiên niên kỷ. Truyền thống luôn gắn liền việc truyền giáo ban đầu ở Bán đảo Iberia với lời rao giảng của Thánh Tông đồ Gia-cô-bê Cả. Mối liên hệ này có tầm quan trọng thần học đáng kể, vì nó thể hiện nhận thức của Giáo hội địa phương về sự tiếp nối của mình với sứ mệnh tông đồ bắt đầu từ Lễ Ngũ Tuần. Mặc dù không bao quát hết bản sắc đa diện của dân tộc quý vị, mối liên kết lâu đời giữa đức tin Kitô giáo và vùng đất này đã định hình sâu sắc nền văn hóa của quý vị và là nguồn hy vọng và định hướng giữa những thách thức mà chúng ta phải cùng nhau đối diện với tư cách là một gia đình nhân loại ngày nay. Tôi nghĩ đến những biểu hiện của lòng đạo đức bình dân, như một sự kịch hóa đích thực về ơn cứu độ ở mọi thành phố và thị trấn, phù hợp với nhịp điệu của năm và các bối cảnh khác nhau của cuộc sống. Cùng với di sản nghệ thuật và âm nhạc, cũng như nhiều hội đoàn và hiệp hội bác ái, chúng là minh chứng cho cuộc gặp gỡ hữu hiệu giữa Chúa Giêsu Kitô và dân tộc của quý vị, một dân tộc nhiệt huyết, yêu đời và thể hiện điều đó!
Tôi đến giữa quý vị để khẳng định, khuyến khích và vun đắp lòng trung thành mới mẻ với Tin Mừng trong vòng tín hữu, cũng như sự hòa giải và hợp tác sâu sắc hơn giữa các thành phần khác nhau của quốc gia này. Xét cho cùng, lịch sử của chính quý vị cho thấy rằng một nền văn hóa gặp gỡ, chứ không phải đối đầu, mới là điều thúc đẩy sự ổn định và thịnh vượng. Trên thực tế, thông điệp hòa bình, mà hiện nay thật không may đã bị một số người cho là ngây thơ và những người khác cho là đối đầu, lại được chào đón bởi những người không tự khép mình trong những ý thức hệ định kiến, mà cởi mở với sự thật. Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã dạy chúng ta, thực tế là có “một sự căng thẳng thường trực giữa ý tưởng và thực tại. Các thực tại đơn giản là hiện hữu, trong khi ý tưởng được xây dựng nên. Phải có sự đối thoại liên tục giữa hai điều này, nếu không ý tưởng sẽ tách rời khỏi thực tại. Thật nguy hiểm khi chỉ sống trong thế giới của ngôn từ, của hình ảnh và hùng biện” (Evangelii Gaudium, 231). Ngài kết luận rằng “thực tại vĩ đại hơn ý tưởng” (ibid.). Chân lý luôn vĩ đại hơn chúng ta, đó là lý do tại sao nó làm chúng ta kinh ngạc và dẫn dắt chúng ta đến những con đường thanh tẩy và hòa giải, trong đó đối thoại với người khác — và với Đấng Khác với chữ “K” viết hoa — trở nên vô cùng quan trọng.
Về vấn đề này, tôi muốn đề cập đến hai nhân vật nổi bật của đất nước này, những người đã làm phong phú đời sống của Giáo hội và hành trình tâm linh của nhiều người trong năm thế kỷ, thậm chí vượt ra ngoài biên giới Tây Ban Nha. Tôi đang nói đến Thánh Gioan Thánh Giá và Thánh Teresa Ávila, những người có niềm đam mê với Mầu nhiệm Thần Thiêng đã gắn kết họ lại với nhau như những người bạn. Chủ nghĩa huyền nhiệm của họ là chủ nghĩa huyền nhiệm “mắt mở”, nghĩa là không tách rời khỏi lịch sử, mà là thấu suốt đến tận gốc rễ của các vấn đề và trái tim của thực tại. Đặc biệt, khi giải thích những biến đổi và vượt qua những căng thẳng khiến thời đại chúng ta trở nên u tối, chúng ta có thể thấy hữu ích khi xem xét chủ đề về màn đêm, rất thân thuộc với Thánh Gioan Thánh Giá, người mà chúng ta đang cử hành Năm Thánh. Thật nghịch lý, trong cơn khát ánh sáng, ngài đã học cách trân trọng bóng tối — “đêm hạnh phúc” (Đêm Tối của Tâm Hồn, 3) — như là thời điểm mà tâm hồn được giải thoát khỏi những gì nó cho là đã biết và sở hữu. Ngay cả ngày nay, điều khiến chúng ta sợ hãi nhất, điều ở nhiều người khơi dậy bóng tối của lý trí và sự dữ dội của cảm xúc, chính là điều chưa biết, trước nó chúng ta có thể cảm thấy choáng ngợp bởi cảm giác lạc lối không có bản đồ, như thể chúng ta đã mất phương hướng. Đó là lý do tại sao, ngay cả trong đời sống công cộng, chúng ta cần những người đàn ông và đàn bà có thể nhận ra ánh sáng trong bóng tối: một khởi đầu mới, giống như bình minh của một chân lý mà cho đến nay vẫn còn làm chúng ta mù quáng, nhưng — nếu chúng ta tin tưởng và tìm thấy sự bình an — sẽ nhẹ nhàng dẫn dắt chúng ta đến với chính nó. “Ôi đêm đã dẫn lối! Ôi đêm đẹp hơn cả bình minh! Ôi đêm đã mang đến Đấng Yêu Dấu và người yêu dấu, người yêu dấu được biến đổi trong Đấng Yêu Dấu!” (ibid., 5).
Thời đại của chúng ta, dường như bị lung lay bởi những bất cân bằng và xung đột khủng khiếp, đang kêu gọi từ sâu thẳm lòng mình hòa bình, một sự hiểu biết mới về con người và phẩm giá bất khả xâm phạm của nó, một nền văn minh của tình yêu thương (xem Magnifica Humanitas, 186).
Thánh Teresa mô tả quá trình này bằng hình ảnh lâu đài nội tâm. Khi người ta di chuyển từ phòng này sang phòng khác hướng về căn phòng trong cùng — tức là hướng về trái tim mình, thánh địa của chân lý — không gian mở rộng, tâm trí rộng mở, những thách thức được vượt qua, căng thẳng tan biến, những người khác tìm thấy vị trí của họ, và vũ trụ trở thành một ngôi nhà. Đây không phải là sự trốn tránh vào bản ngã, mà là sự cởi mở triệt để đối với Totus Alius et Semper Novus [Trọn vẹn Đấng Khác và Luôn luôn Mới Mẻ] đạt được khi chúng ta trở về với chính mình. Chiều kích này của con người là lý do tại sao tự do tôn giáo và tự do lương tâm phải được bảo vệ.
Ngày nay, cám dỗ giành được sự nổi tiếng bằng cách thổi bùng ngọn lửa phân cực dường như ngày càng gia tăng chứ không hề giảm bớt, và phẩm giá con người tiếp tục bị xâm phạm. Đó là lý do tại sao chúng ta cần văn hóa, nội tâm và giáo dục phẩm chất miễn phí; chúng ta cần sự siêu việt. Tuy nhiên, ngay cả trong những đêm tối này, những người nam và nữ trung thành với chân lý vẫn được thúc đẩy tiến từ phòng này sang phòng khác cho đến khi công lý và hòa bình hòa quyện trong lương tâm họ. Chính nhờ sự tự do của họ mà chúng ta học được cách sống tự do.
Giáo Hội Công Giáo phục vụ cho khát vọng của trái tim con người. Đó là một sự phục vụ không mang tính áp đặt, mà là chứng nhân Tin Mừng được chứng thực bởi vô số các vị tử đạo và thánh nhân. Ngày nay, Giáo hội sẵn sàng đặt mình phục vụ cho tương lai của một dân tộc đang tìm kiếm sự hòa giải và hòa bình.
Vì tình yêu chân lý, tôi mời gọi mọi người hãy gạt bỏ những câu chuyện chia rẽ và phân cực về thực tại và lịch sử xã hội của mình, để vượt qua những sự đơn giản hóa vô ích bằng cách trân trọng sự phức tạp một cách hữu hiệu. Tôi thấy ở đây một ơn gọi đặc biệt phù hợp với Âu Châu, trong đó Tây Ban Nha đóng một vai trò độc đáo và cơ bản. Đây là món quà mà “Lục địa già” có thể dành tặng cho thế giới nếu muốn giữ mãi tuổi trẻ, bởi vì tuổi trẻ được tìm thấy ở những người cảm thấy họ có một tương lai và một sứ mệnh vẫn còn ý nghĩa. Trân trọng và nghiên cứu sự phức tạp, học cách không phủ nhận mà đón nhận nó như một phước lành, và tránh xa những đường lối dựa trên bản sắc dường như giải thích mọi thứ nhưng chỉ làm cho thế giới tràn ngập “bóng ma” và kẻ thù, đó là nhiệm vụ của những người thừa kế một lịch sử vĩ đại. Kỹ thuật mới đã tạo ra một môi trường nhân tạo, nơi những lựa chọn cơ bản của chúng ta bị thử thách, định kiến bị phóng đại, tư duy phản biện bị suy yếu và các lợi ích thống trị lan truyền những khát vọng hủy diệt. Tuy nhiên, điều tốt đẹp vẫn có thể chiến thắng và lan rộng.
Điều cần thiết, đặc biệt là đối với những người có trách nhiệm về kinh tế, chính trị và định chế, là phải tạo ra một bước nhảy vọt về phẩm chất — thay đổi hướng đầu tư vào trường học, đại học và nghiên cứu, cũng như vào cộng đồng địa phương và xã hội dân sự như một nền tảng nuôi dưỡng sự tham gia và hòa giải văn hóa. An ninh, điều mà chúng ta thường mong đợi tìm thấy trong vũ khí và những bức tường, trên thực tế lại đạt được tốt nhất bằng cách học cách tiến lên cùng nhau, cùng nhau phát triển, sát cánh bên nhau. Lịch sử của chính quý vị đã chứng minh điều này. Ví dụ, sự hiện diện của Hồi giáo trên bán đảo Iberia đã tạo nên một thực tế chính trị, văn hóa và tôn giáo lâu dài. Trong giai đoạn đó, không chỉ có sự đối đầu mà còn có nỗ lực tạo ra không gian tiếp xúc, trò chuyện và đối thoại về ý nghĩa của chân lý giữa Kitô giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo. Tại Trường Biên dịch được Alfonso X (Người Khôn ngoan) cải tổ, các chuyên gia từ cả ba tôn giáo đã hợp tác dịch thuật các văn bản thuộc di sản Ả Rập, Hy Lạp và Do Thái phong phú, góp phần phổ biến các văn bản như của các triết gia Averroes (1126-1198) và Maimonides (1138-1204), cùng nhiều tác giả khác. Đặc biệt, các thành phố Córdoba và Toledo đã trở thành trung tâm đối thoại giữa các ngôn ngữ, tôn giáo và tri thức. Đây là sự thật được kể bởi các thành phố Âu Châu: sự phân tầng lịch sử của chúng, tấm vải đoàn kết đã định hình nên những khác biệt của chúng qua nhiều thế kỷ. Trải qua nhiều thế kỷ, biến những xung đột không thể tránh khỏi thành những khởi đầu mới.
Như một người con ưu tú khác của vùng đất này đã dạy chúng ta, thử thách và thất bại mang đến cơ hội để đánh giá lại. Thánh Y Nhã sở hữu sự táo bạo này, tin tưởng vào những nỗi tuyệt vọng và niềm an ủi trong lòng mình thông qua việc vận dụng khả năng phân định và trí tưởng tượng, dẫn dắt ngài đến việc lựa chọn hòa bình hơn chiến tranh và các vị thánh hơn kẻ quyền lực. Ngài hiểu rằng điều tốt đẹp mà ngài hướng tới không phải là ảo tưởng, và vì vậy, khủng hoảng của ngài đã trở thành một ân sủng. Điều tương tự cũng có thể xảy ra với những “điều mới lạ” đang làm chúng ta bất ổn ngày nay và thường gây ra sự chia rẽ. “Chúng ta phải tránh những lời lẽ xúc phạm hoặc đối kháng, thay vào đó hãy chọn sự rõ ràng soi sáng và sự thẳng thắn mở ra những khả năng mới. Chúng ta không thể dung thứ cho sự nhiệt tình ngây thơ, cũng không thể nuôi dưỡng những nỗi sợ hãi vô căn cứ. Thay vào đó, chúng ta hãy thiết lập các tiêu chuẩn để phân định – phẩm giá con người, đích đến phổ quát của của cải, sự ưu tiên chọn người nghèo, chăm lo cho ngôi nhà chung và hòa bình – và hãy chuyển những tiêu chuẩn này thành các hoạt động thực tiễn như quy hoạch có trách nhiệm, đánh giá tác động xã hội và con người, sự tham gia của những người dễ bị tổn thương nhất, thúc đẩy khả năng đọc viết kỹ thuật số và hướng nghiên cứu và kỹ nghệ hướng tới công lý và hòa bình” (Magnifica Humanitas, 14).
Thưa Đức Vua, Hoàng thân, Quý Công Chúa, quý bà và quý ông, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với đất nước của quý vị vì sự tuân thủ trung thành luật pháp quốc tế và chủ nghĩa đa phương, được thể hiện qua cam kết tích cực đối với hòa bình và tình liên đới giữa các dân tộc. Đồng thời, tôi khuyến khích các bạn vun đắp đối thoại và tình hữu nghị công dân trong nước, lưu tâm đến quan điểm của người nghèo và người trẻ khi hình dung về tương lai, hài hòa các yêu sách về quyền tự chủ và thống nhất, và thúc đẩy sự nghiệp thống nhất ở Âu Châu — không phải để đối đầu với các cường quốc khác, mà như một món quà dành cho toàn thể nhân loại.
Xin Chúa phù hộ Tây Ban Nha!
Kính thưa quý vị và anh chị em,
Sau khi nghỉ trưa, lúc 6 giờ chiều, Đức Thánh Cha đã thăm các nhân viên và người hưởng lợi của dự án xã hội “Cedia 24 Horas” tại trung tâm thông tin và chào đón.
Lúc 8:30, Đức Thánh Cha đã có buổi cầu nguyện cùng giới trẻ tại quảng trường Lima.
3. Diễn từ của Đức Thánh Cha tại Sân vận động Movistar Arena
Như chúng tôi đã đưa tin sáng Chúa Nhật, 07 Tháng Sáu, Đức Thánh Cha đã cử hành thánh lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô tại quảng trường Cibles. Sau khi cử hành thánh lễ, Đức Thánh Cha đã chủ sự cuộc rước kiệu Corpus Christi.
Lúc 4:30 chiều cùng ngày, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với các thành viên dòng Augustinô tại tòa Sứ thần Tòa Thánh.
Lúc 6 giờ chiều, Đức Thánh Cha đã tham dự cuộc hội thảo “Xây Dựng Mạng Lưới Với Thế Giới Văn Hóa, Nghệ Thuật, Kinh Tế Và Thể Thao” tại Sân vận động Movistar Arena
Trong diễn từ tại đây, Đức Thánh Cha nói:
Thưa Đức Hồng Y,
Các bạn thân mến,
Thật hân hạnh được gặp gỡ các bạn tại nơi này, một không gian không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động thể thao, nghệ thuật và văn hóa, mà còn là nơi hội tụ những cảm xúc sâu sắc nhất của con người: niềm vui và sự ngưỡng mộ, sự nhiệt tình và hy vọng, cũng như nỗi buồn và sự thất vọng.
Ở đất nước tuyệt vời này, không thể không ngưỡng mộ dấu ấn của sự sáng tạo xuyên suốt lịch sử và định hình bản sắc của nó. Một vẻ đẹp hiện hữu trong các thành phố, đường phố và tượng đài, quảng trường và khu vườn, trường đại học và nhà thờ, trong âm nhạc, hội họa và vũ điệu, và trong ẩm thực của nó. Ở đây, chúng ta cũng tri nhận được linh hồn của những thế hệ từng biến đổi cảnh quan và cho nó một diện mạo riêng, bộc lộ trong từng đường nét trí tuệ và ý chí tiềm ẩn trong tâm hồn con người.
Sau khi quan sát kỹ lưỡng những kỳ quan do các thế hệ trước tạo ra, một câu hỏi không thể tránh khỏi nảy sinh, thách thức tất cả chúng ta: chúng ta đang để lại di sản gì cho tương lai và, do đó, chúng ta đang xây dựng một cộng đồng như thế nào?
Tôi đã lắng nghe với sự quan tâm sâu sắc từng bài thuyết trình của các diễn giả; tôi đồng ý với các bạn. Xã hội ta, trên thực tế, sở hữu khả năng phi thường trong sản xuất, đổi mới và truyền đạt; tuy nhiên, dường như chúng ta vẫn cần học cách bảo tồn linh hồn của những gì nó tạo ra. Nếu không, chúng ta có nguy cơ trở thành chuyên gia về phương tiện truyền thông và hiệu quả trong sản xuất, nhưng lại không chắc chắn về lý do, mục đích, với ai và cho ai chúng ta sản xuất. Trong bối cảnh này, Giáo hội, nhận thức được cả những thành công và sai lầm của mình trong suốt lịch sử, mong muốn duy trì đối thoại với thế giới đương thời.
Khát vọng về sự tốt lành, cái đẹp và chân lý bắt nguồn từ DNA của nhân loại; và chính từ khát vọng nhân bản sâu sắc này cùng kinh nghiệm hàng thế kỷ của chúng ta mà Giáo hội đề xuất những con đường hướng tới một cuộc sống phẩm giá và lợi ích chung. Về vấn đề này, Thánh Phaolô VI đã tuyên bố trước Liên Hiệp Quốc rằng, bất kể ý kiến của người ta về Giám Mục Rôma, sứ mệnh của ngài đều được biết đến rộng rãi. Là một “chuyên gia về nhân loại”, Giáo hội không thờ ơ với bất cứ điều gì thực sự thuộc về con người (xem Gaudium et Spes, 1). Vì lý do này, “thái độ đối thoại là một phần không thể thiếu trong ơn gọi của Giáo hội” (Magnifica Humanitas, 2). Ngày nay, chúng ta thấy rằng câu hỏi quan trọng vẫn như cũ: làm thế nào để thực sự là con người?
Giáo hội khiêm tốn nhưng cũng kiên định chia sẻ những gì mình đã khám phá được trong kinh nghiệm đức tin: rằng Chúa Giêsu Kitô trả lời những câu hỏi lớn về cuộc sống con người và sự viên mãn của nó, ngay trong thế giới này và cho đến khi đạt đến đỉnh cao trong cõi vĩnh hằng. “Vì lý do này, con người luôn luôn là 'con đường chính yếu và cơ bản của Giáo hội' và là trọng tâm của mọi hành trình đích thực trong sự phát triển toàn diện của con người” (ibid., 50). Do đó, Giáo Hội không thể phớt lờ văn hóa, bởi vì thông qua nó, con người với tư cách là con người “trở nên” trọn vẹn hơn (xem Tuyển tập Giáo lý Xã hội của Giáo hội, 554).
Và chính vì thuật ngữ “văn hóa” gợi lên khái niệm “vun trồng”, như nguồn gốc từ nguyên chung của cả hai thuật ngữ cho thấy, chúng ta được mời gọi tự hỏi mình đang gieo trồng điều gì ngày nay, điều gì đang nở rộ và điều gì đang âm thầm héo tàn trong xã hội ta; những giá trị nào chúng ta đang gìn giữ và những giá trị nào chúng ta đang để cho biến mất. Đây là những câu hỏi sâu sắc, cần thiết không thể bỏ qua.
Để trả lời những câu hỏi này, chúng ta cần một cuộc đối thoại xã hội mà chúng ta có thể so sánh với nghệ thuật dệt nên những mạng lưới, bao gồm sự gặp gỡ, lắng nghe, đối thoại và tôn trọng.
Trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người, chúng ta phải chú ý đến ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng: ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nói, và trong thế giới kỹ thuật số, thậm chí cả hình ảnh; bởi vì truyền thông không bao giờ trung lập. Mỗi biểu thức đều truyền đạt, chuyển tải; nó có thể làm tổn thương hoặc chữa lành, phá hủy kỳ vọng hoặc mở ra những chân trời mới, gieo rắc sự chia rẽ hoặc khơi dậy hy vọng về khả năng cùng nhau xây dựng một điều gì đó thực sự nhân bản.
Do đó, việc xây dựng mạng lưới là một cuộc đối thoại giữa các định chế lấy phẩm giá con người làm trung tâm. Điều này ngụ ý, ví dụ, rằng các trường đại học không nên quay lưng lại với thế giới việc làm hoặc từ bỏ chân lý; rằng các doanh nghiệp không nên coi nhân viên chỉ là những yếu tố phục vụ lợi ích của riêng họ; rằng nghệ thuật không nên chỉ hướng đến giới thượng lưu; rằng thể thao không nên bị thu hẹp thành một trò giải trí hoặc biến thành hoạt động kinh doanh đơn thuần; rằng tiến bộ kỹ thuật cần tính đến người già, người nghèo và những người không có tiếng nói.
Đóng góp của chúng tôi vào cuộc đối thoại, bắt đầu từ một tầm nhìn Kitô giáo về cuộc sống. Điều đó bắt đầu từ nhận thức rằng Đấng Tạo Hóa đã dệt nên con người bằng những sợi chỉ tình yêu; vì chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa là tình yêu (xem 1 Gioan 4:8). Đây là nền tảng của phẩm giá con người bất khả xâm phạm, sự tôn trọng tuyệt đối phẩm giá đó là cơ sở của đối thoại.
Thứ hai, việc dệt nên các mạng lưới có nghĩa là cùng nhau sáng tạo. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 đã tuyên bố: “Đức tin là tình yêu và do đó tạo ra thi ca và âm nhạc. Đức tin là niềm vui và do đó tạo ra vẻ đẹp” (Giáo lý, ngày 21 tháng 5 năm 2008). Tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm điều gì đó đẹp đẽ, đủ để thay đổi chúng ta từ bên trong: một bài hát, một bài thơ, một nhà thờ tĩnh lặng, một giọng nói, một ánh nhìn, thậm chí là một trận bóng rổ với bạn bè.
Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi việc loan báo Tin Mừng và ý thức về tình anh chị em được thể hiện dưới hình thức “saeta [ai ca ngẫu hứng]” trong Tuần Thánh, trong thi ca huyền nhiệm và sự tinh tế trong văn chương của các tác giả như Lope de Vega, Thánh Teresa của Ávila, Thánh Gioan Thánh Giá, Calderón de la Barca, hay trong văn xuôi thanh thản của Thánh Thomas Aquinas, người mà chúng ta được thừa hưởng những bài thánh ca tuyệt đẹp của Lễ Mình Thánh Chúa mà chúng ta cử hành hôm nay. Tất cả điều này chứng tỏ mối liên hệ giữa vật chất và tinh thần định hình nên sự hiện hữu của chúng ta.
Thứ ba, việc dệt nên các mạng lưới có nghĩa là phục vụ vô vị kỷ. Một cái nhìn khách quan cho thấy rằng những người nam và nữ được thúc đẩy bởi đức tin đã xây dựng bệnh viện và trường học, khởi xướng các sáng kiến liên đới và nói bằng một ngôn ngữ làm cao quý con người. Do đó, thật chính đáng khi đặt câu hỏi một cách thẳng thắn rằng liệu thế giới - và đặc biệt là Âu Châu - có thể hình thành bản sắc của mình nếu không có dấu ấn tinh thần đã thấm nhuần trong lịch sử của nó hay không. Đây không phải là một sự khiêu khích, mà là một lời mời gọi suy gẫm về việc liệu sự vĩnh hằng, điều đã bùng nổ trong thời gian và không gian thông qua sự nhập thể của Chúa Giêsu Kitô, có thể được dung hòa với cuộc sống thường nhật hay không.
Liệu thực sự có thể tin rằng Âu Châu—nơi chúng ta yêu mến biết bao—sẽ vẫn như vậy nếu thiếu đi dấu ấn của đức tin? Tại sao lại sợ hãi khi sự vĩnh hằng thấm đẫm vào cuộc sống thường nhật? Tiếng kêu của các vị tiền nhiệm của tôi vẫn còn vang vọng: Đừng sợ hãi! Hãy mở rộng cánh cửa cho Chúa Kitô! Chúa Giêsu Kitô không lấy gì của chúng ta nhưng ban cho chúng ta mọi sự.
Tôi muốn tự hỏi mình một cách công khai: Ai bị loại trừ bất chấp các nhân đức và khả năng của họ? Chúng ta không thể phớt lờ rằng hoàn cảnh khốn khổ của người nghèo đại diện cho một tiếng kêu mà xuyên suốt lịch sử nhân loại, liên tục thách thức cuộc sống của chúng ta, xã hội của chúng ta, hệ thống chính trị và kinh tế của chúng ta, và cả Giáo hội (xem Dilexi te, 9).
Thật vậy, Chúa Kitô đã khôi phục lại vị trí xứng đáng cho lợi ích chung như một trọng tài khôn ngoan, người xoa dịu lòng tham của một số người và nuôi dưỡng niềm hy vọng của những người khác, đồng thời mong muốn cứu rỗi mọi người.
Giáo hội này, am hiểu về nhân loại, dù đôi khi đi ngược lại với số đông, vẫn khẳng định rằng “các cấu trúc kinh tế và định chế chỉ công bằng khi chúng cổ vũ sự phát triển toàn diện của con người và khuyến khích sự tham gia có trách nhiệm của tất cả mọi người” (Magnifica Humanitas, 34).
Cuối cùng, cho phép tôi hướng sự chú ý của các bạn đến một thế giới mà như các bạn đã biết, không hề xa lạ với tôi: đó là thế giới thể thao. Hãy nghĩ xem có bao nhiêu người trong chúng ta đã học được sự tôn trọng đối thủ trên sân chơi hơn là bằng cách lắng nghe một bài diễn thuyết. Có bao nhiêu vận động viên dạy chúng ta cách thua mà không thù hận, cách thắng mà không làm nhục đối thủ, hoặc cách đứng dậy sau khi vấp ngã.
Về vấn đề này, Thánh Gioan Phaolô II, với tư cách là một vận động viên và một mục tử, đã tuyên bố: “Trong thời đại này, khi mà thật không may, nhiều hình thức bạo lực và do đó là hận thù đang có xu hướng xé nát nền tảng của tình liên đới xã hội, các bạn [vận động viên] góp phần, bằng phần mình, làm chứng sáng ngời cho sự gắn kết, hòa bình, thống nhất - nói tóm lại, là 'biết cách sống cùng nhau'“ (Bài phát biểu trước các vận động viên tham gia Giải vô địch trượt nước Âu Châu, Phi Châu và Địa Trung Hải lần thứ 33, ngày 31 tháng 8 năm 1979).
Những phát biểu này càng trở nên đương thời và kịp thời hơn so với khi chúng lần đầu tiên được vang lên.
Các bạn thân mến, vì vậy tôi mời các bạn hãy là những sợi chỉ mới, dệt nên những mạng lưới mới hòa hợp mọi lĩnh vực của cuộc sống, dệt nên một xã hội đổi mới, nơi thời gian được thấm đẫm sự vĩnh hằng, văn hóa lưu giữ ký ức và thúc đẩy đối thoại, giáo dục khuyến khích việc tìm kiếm chân lý một cách có phê phán, nghệ thuật truyền cảm hứng kỳ diệu và tạo ra những cảm xúc cao quý, kinh doanh nhận ra phẩm giá của con người, và lao động tiếp tục là động lực của hy vọng.
Chúng ta hãy trở thành những sợi chỉ mới, theo lời khuyên của Thánh Phaolô: “Hãy vui mừng với những người vui mừng, hãy khóc với những người khóc. Hãy đồng tâm đồng ý với nhau. Đừng tự cho mình là khôn ngoan. Đừng lấy ác trả ác. Hãy tìm làm điều đúng đắn trước mặt mọi người. Nếu có thể, tùy theo khả năng của mình, hãy sống hòa thuận với mọi người” (Rm 12:15-18). Vì điều đang bị đe dọa ở đây chính là Nhân tính Tuyệt diệu của chúng ta trong tương lai. Cảm ơn rất nhiều.
1. Tổng thống Trump nói ông chưa bao giờ hứa sẽ “không có chiến tranh mới”.
Trong bối cảnh cuộc chiến giữa Mỹ và Iran đang bị soi mói chặt chẽ, Tổng thống Trump hôm Chúa Nhật đã bảo vệ lập trường chính sách đối ngoại của mình - và phủ nhận việc ông từng tranh cử với lời hứa “không có chiến tranh mới”.
Trong một cuộc phỏng vấn sâu rộng với Kristen Welker của đài NBC được phát sóng trên chương trình “Meet the Press” hôm Chúa Nhật, Tổng thống Trump nói rằng ông đã xây dựng một “lực lượng quân đội hùng mạnh”.
“Trước hết, tôi không bảo đảm sẽ không có chiến tranh. Tại sao tôi lại phải xây dựng quân đội mạnh nhất thế giới?”, Tổng thống Trump nói. “Tôi đã xây dựng quân đội của chúng ta. Tôi thừa hưởng một quân đội tồi tệ. Chúng ta không có trang thiết bị. Chúng ta chẳng có gì cả. Tôi đã xây dựng một quân đội hùng mạnh. Khi các bạn nói tôi đã hứa, tôi không hứa hẹn điều gì cả.”
Tổng thống Trump nói ông không thích “những cuộc chiến tranh không hồi kết” nhưng nói thêm rằng cuộc xung đột hiện tại với Iran “không phải là một cuộc chiến tranh không hồi kết”, đồng thời khẳng định rằng chiến tranh Việt Nam kéo dài 19 năm “vì những người ngu ngốc”.
“Chúng tôi ở đó vài tháng và mối đe dọa phần lớn đã qua rồi,” Tổng thống Trump nói. “Chẳng mấy chốc, nó sẽ kết thúc. Nhưng bạn không thể để Iran sở hữu vũ khí hạt nhân, nếu không họ sẽ cho nổ tung bạn. Sẽ không còn Kristen nữa. Sẽ không còn NBC nữa. Sẽ không còn chương trình 'Meet the Press' nữa.”
Trong suốt các chiến dịch tranh cử tổng thống, Tổng thống Trump đã nhiều lần chỉ trích sự can thiệp quân sự kéo dài của Mỹ tại các quốc gia Trung Đông, bao gồm cả việc lên án cựu Tổng thống George W. Bush về cuộc chiến tranh Iraq trong một cuộc tranh luận của đảng Cộng hòa năm 2016.
Trong chiến dịch tranh cử ở Pennsylvania năm 2024, Tổng thống Trump nói với những người tham dự mít tinh: “Tôi sẽ không đưa các bạn đi chiến đấu và chết trong những cuộc chiến tranh nước ngoài ngu ngốc không bao giờ kết thúc.” Ông nhắc lại lời hứa này trong bài phát biểu chiến thắng năm 2024, tuyên bố vào thời điểm đó: “Tôi sẽ không bắt đầu một cuộc chiến. Tôi sẽ chấm dứt các cuộc chiến.”
Và tiểu sử chính thức của Tổng thống Trump tại Tòa Bạch Ốc cũng nêu rõ rằng một trong những ưu tiên hàng đầu của tổng thống là “chấm dứt các cuộc chiến tranh không hồi kết”.
Hôm Chúa Nhật, Tổng thống Trump đã phủ nhận việc Mỹ đang trong tình trạng chiến tranh với Iran, nói với Welker rằng ông không “coi” tình hình hiện tại là một cuộc chiến.
“Tôi không hề định nghĩa nó. Tôi không nghĩ về nó. Tôi chỉ làm những gì mình phải làm,” anh ta nói.
[Politico: Trump says he never promised ‘no new wars’]
2. Ukraine tấn công kho chứa dầu và bến hải cảng ở Crimea bị tạm chiếm, đồng thời công bố đoạn video về vụ tấn công.
Lực lượng Đặc nhiệm Ukraine báo cáo rằng máy bay điều khiển từ xa của nước này đã tấn công kho chứa dầu Semikolodyansk gần thị trấn Yedi Quyu ở Crimea bị Nga tạm chiếm vào đêm 7 tháng 6.
Cơ sở này, nằm ở phía đông Crimea, cách tiền tuyến khoảng 200 km (120 dặm), được sử dụng để lưu trữ nhiên liệu và đóng vai trò là trung tâm hậu cần khu vực. Kho chứa này đã bị đóng cửa từ những năm 1990, nhưng công ty BK-Terminal của Nga đã nối lại hoạt động tại đây vào năm 2015 sau khi Nga xâm lược bán đảo, theo Crimea Wind, một kênh Telegram ủng hộ Ukraine.
“Lực lượng xâm lược đang sử dụng nơi này làm điểm trung chuyển để lưu trữ và vận chuyển dầu nhiên liệu, dầu diesel, nhựa đường và các vật liệu khác”, Lực lượng Đặc nhiệm cho biết trong một tuyên bố.
Trang tin thân Ukraine Exilenova+ đưa tin rằng hình ảnh vệ tinh từ Hệ thống Thông tin Cháy rừng để Quản lý Tài nguyên, gọi tắt là FIRMS của NASA đã phát hiện một đám cháy tại kho chứa. Theo trang tin này, khu vực hoạt động nhiệt tiếp tục lan rộng sau vụ tấn công.
Theo thông báo của quân đội Ukraine, máy bay điều khiển từ xa của nước này cũng đã tấn công vào kho chứa dầu ngoài khơi ở Feodosia, cách tiền tuyến khoảng 250 km. Cơ sở này được tường trình bao gồm bảy bể chứa nhiên liệu với dung tích từ 10.000 đến 20.000 mét khối.
“Cảng này là một khu phức hợp đa chức năng dùng để trung chuyển dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ từ toa xe bồn hỏa xa sang tàu biển”, quân đội cho biết. “Lực lượng xâm lược sử dụng khu phức hợp này để cung cấp nhiên liệu cho Crimea bị tạm chiếm trong trường hợp khẩn cấp trên bán đảo.”
[Kyiv Independent: Ukraine strikes oil depot, marine terminal in occupied Crimea, releases footage of attack]
3. Tổng thống Zelenskiy đã yêu cầu tỷ phú người Nga Abramovich gửi thông điệp tới Putin về các cuộc đàm phán hòa bình.
Theo báo cáo của Financial Times, gọi tắt là FT ngày 7 tháng 6, dẫn lời bốn nguồn tin thân cận với vấn đề này, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy hồi tháng 5 năm 2026 đã yêu cầu tỷ phú người Nga bị trừng phạt Roman Abramovich nói chuyện với Putin về việc nối lại các cuộc đàm phán hòa bình song phương.
Tổng thống Zelenskiy đã xác nhận cuộc gặp với ông Abramovich trong cuộc phỏng vấn với Sky News vào ngày 7 tháng 6.
“Abramovich đã đến và muốn nhắn nhủ với tôi rằng người Nga muốn hiểu chúng tôi sẵn sàng làm gì,” ông nói.
Tổng thống Zelenskiy cho biết ông đã bảo Abramovich nói với Putin rằng Ukraine sẽ không bao giờ từ bỏ Donbas. Ông cũng yêu cầu Abramovich nói với Putin rằng ông sẵn sàng gặp trực tiếp ông ấy tại một thành phố bên ngoài Nga hoặc Belarus.
“Tôi đã nói rằng các bạn có thể chọn bất kỳ thời điểm nào kể từ ngày mai, bất kỳ ngày nào, bất kỳ hình thức nào,” Tổng thống Zelenskiy nói.
Theo nguồn tin của Financial Times, Kyiv hy vọng sẽ thể hiện cam kết tham gia đàm phán hòa bình, ngay cả khi Mỹ đang bận rộn với cuộc chiến ở Iran.
Tuy nhiên, Nga đã bác bỏ lời đề nghị đó.
Tại Diễn đàn Kinh tế St. Petersburg ngày 5 tháng 6, Putin cho biết ông đã gặp “một trong những đại diện của giới doanh nghiệp” vào ngày 21 tháng 5 sau chuyến thăm Kyiv. Putin nói ông đã nói với “đồng nghiệp” này rằng ông không thấy cần thiết phải gặp Tổng thống Zelenskiy.
Putin cho biết, doanh nhân giấu tên đó không hành động với tư cách chính thức.
Một nguồn tin trong chính phủ Ukraine đã tiết lộ với hãng tin Suspille một phiên bản sự kiện gần giống với quan điểm của Tổng thống Zelenskiy hơn. Nguồn tin này cho biết Nga đã chủ động sắp xếp cuộc gặp giữa Tổng thống Zelenskiy và ông Abramovich nhằm tìm hiểu các điều kiện của Ukraine để chấm dứt chiến tranh.
Abramovich là một tỷ phú người Nga, từng sở hữu câu lạc bộ túc cầu Chelsea. Ông buộc phải bán câu lạc bộ và bị cấm nhập cảnh vào Anh năm 2022, sau khi Nga phát động chiến tranh toàn diện, do có quan hệ với Putin.
Thông tin về nỗ lực làm trung gian hòa giải giữa Tổng thống Zelenskiy và Putin của Abramovich xuất hiện ba ngày sau khi Tổng thống Zelenskiy công bố một bức thư ngỏ thách thức Putin gặp trực tiếp ông và đàm phán chấm dứt chiến tranh. Bức thư đề nghị bắt đầu đàm phán bằng một thỏa thuận ngừng bắn và trao đổi tù binh — đồng thời gửi thông điệp tới người dân Nga rằng chiến tranh toàn diện là ngõ cụt đối với Mạc Tư Khoa.
Bức thư đánh dấu lần liên lạc trực tiếp đầu tiên giữa Tổng thống Zelenskiy và Putin kể từ năm 2022.
Một quan chức nói với tờ Financial Times rằng thông điệp mà Abramovich gửi cho Putin ít gay gắt hơn so với bức thư ngỏ, mặc dù nội dung cốt lõi là tương tự. Trong bức thư ngỏ, Putin cáo buộc Tổng thống Zelenskiy thô lỗ và một lần nữa từ chối sắp xếp cuộc gặp.
Abramovich đã đóng vai trò trung gian hòa giải giữa Nga và Ukraine kể từ những ngày đầu của cuộc xâm lược toàn diện năm 2022. Ông đã giúp dàn xếp các cuộc trao đổi tù binh và hỗ trợ các cuộc đàm phán cho Sáng kiến Ngũ cốc Hắc Hải.
Các nguồn tin thân cận với Abramovich cho biết ông trùm này vẫn tham gia vào việc liên lạc giữa Kyiv và Mạc Tư Khoa, mặc dù vai trò của ông đã bị giảm nhẹ kể từ khi Nga bắt đầu đàm phán trực tiếp với Mỹ sau khi Ông Donald Trump tái đắc cử.
“Họ cần ông ấy vì ông ấy là người Nga duy nhất (mà người Ukraine) có thể chấp nhận. Ông ấy hòa đồng với tất cả mọi người,” một nguồn tin nói với tờ Financial Times.
Việc Tổng thống Zelenskiy thúc đẩy một hội nghị thượng đỉnh cấp lãnh đạo diễn ra trong bối cảnh tổng thống gọi đây là “cơ hội” để Ukraine đàm phán với Nga — một cơ hội có thể sẽ khép lại khi mùa đông đến. Lực lượng Ukraine đã chặn đứng cuộc tấn công của Nga trên chiến trường và đã thay đổi được cục diện chiến tranh đối với thường dân Nga bằng cách leo thang chiến dịch tấn công sâu vào lãnh thổ đối phương.
[Kyiv Independent: Zelensky asked Russian oligarch Abramovich to send message to Putin on peace talks]
4. “Thảm họa môi trường tồi tệ nhất kể từ thảm họa Chernobyl”: Ba năm sau khi Nga phá hủy đập Kakhovka, số người chết thực sự vẫn chưa được xác định.
Ba năm sau khi lực lượng Nga phá hủy Nhà máy thủy điện Kakhovka vào ngày 6 tháng 6 năm 2023, số người chết thực sự vẫn chưa được biết. Theo số liệu chính thức, ít nhất 34 người đã thiệt mạng, 80 khu dân cư bị ngập lụt và gần 4.000 người đã phải di tản, Tổng thống Zelenskiy cho biết trong Lễ Tưởng Niệm các nạn nhân.
Tổng thống gọi sự tàn phá này là “một trong những tội ác chiến tranh lớn nhất của Nga đối với con người và môi trường”.
Lực lượng Nga đã chiếm giữ khu phức hợp đập vào thời điểm xảy ra vụ nổ. Theo cuộc điều tra của tờ The New York Times, vụ phá hủy đòi hỏi một lượng lớn thuốc nổ được đặt bên trong cấu trúc đập — điều mà chỉ lực lượng Nga mới có được. Viện trưởng Viện Kiểm sát Ukraine đã chuyển vụ việc lên Tòa án Hình sự Quốc tế, gọi tắt là ICC trong vòng vài ngày, nhưng ICC vẫn chưa đưa ra phán quyết cụ thể nào về nhà máy thủy điện Kakhovka.
Hậu quả của sự tàn phá — các làng mạc bị ngập lụt, hệ sinh thái Hắc Hải bị mất đi, khủng hoảng nước uống trên khắp các tỉnh Kherson và Mykolaiv, và sự biến mất của chính hồ chứa Kakhovka — tiếp tục định hình cuộc sống trên khắp miền nam Ukraine.
“Ba năm trước, lực lượng Nga đã phá hủy đập và hồ chứa Kakhovka. Ít nhất 34 người đã thiệt mạng, nhưng con số nạn nhân thực sự vẫn chưa được xác định”, Tổng thống Zelenskiy nói.
Số liệu thương vong ước tính có sự khác biệt đáng kể giữa các nguồn thông tin, một phần là do lực lượng Nga vẫn đang kiểm soát các khu vực thuộc tỉnh Kherson ở bờ trái sông Gironde, nơi bị tàn phá nặng nề nhất bởi lũ lụt.
Trong những ngày sau thảm họa, các dịch vụ khẩn cấp, cảnh sát, nhân viên y tế và tình nguyện viên của Ukraine đã làm việc suốt ngày đêm để di tản người dân khỏi các thị trấn bị ngập lụt. Hơn 500 công nhân đô thị từ nhiều vùng khác nhau của Ukraine đã hỗ trợ công tác khắc phục hậu quả cùng với các đội ngũ kỹ thuật viên điện lực và khí đốt.
Thiệt hại lên tới 14 tỷ đô la và hậu quả ở Hắc Hải.
Hồ chứa Kakhovka là hồ chứa lớn nhất trên sông Dnipro, có sức chứa 18 km³ nước, lượng nước này đã được xả ra trong vòng 3 đến 4 ngày do vỡ đập. Bản đánh giá nhu cầu sau thảm họa do Nội các Ukraine và Liên Hiệp Quốc cùng chuẩn bị ban đầu ước tính tổng thiệt hại lên tới hơn 11 tỷ đô la.
Tổng thống Zelenskiy gọi sự tàn phá này là “thảm họa môi trường tồi tệ nhất ở Âu Châu kể từ thảm họa Chernobyl”.
[Europe Maidan: “The worst environmental catastrophe since Chornobyl disaster”: Three years after Russia destroyed Kakhovka Dam, real death toll is still unknown]
5. Tổng thống Trump: Iran chưa đạt được thỏa thuận với Mỹ vì “họ kiêu hãnh” và “đó là một điều rất khó khăn đối với họ”.
Tổng thống Trump nói với đài NBC News rằng ông tin Iran vẫn chưa đồng ý một thỏa thuận với Hoa Kỳ vì “họ kiêu hãnh” và “cần một chút thời gian”.
Các nhà đàm phán Mỹ và Iran đã tiến hành ngoại giao gián tiếp nhằm gia hạn lệnh ngừng bắn, mở lại eo biển Hormuz và khởi động các cuộc đàm phán đầy khó khăn và phức tạp về số phận chương trình hạt nhân của Iran. Tổng thống Trump đã bày tỏ sự lạc quan về các cuộc đàm phán, thường xuyên khẳng định rằng Iran muốn đạt được thỏa thuận, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có thỏa thuận nào được ký kết.
Khi được đài NBC News hỏi tại sao Iran vẫn chưa đạt được thỏa thuận, ông lập luận rằng các chính quyền trước đây không yêu cầu nhiều điều như vậy từ chế độ này. Ông gọi áp lực hiện tại là “một điều rất khó khăn đối với họ”.
“Họ đã có được sự độc lập rất lớn. Họ đã phải đối phó với sự lãnh đạo yếu kém và thiếu hiệu quả từ phía Hoa Kỳ và các quốc gia khác, nói thẳng ra là vậy… điều đó đã cho phép họ thoát tội giết người,” ông nói với người dẫn chương trình Kristen Welker của “Meet the Press”. “Tôi nghĩ họ không thể tin rằng mình đang ở trong tình thế gần như bị chặt đầu.”
[CBSNews: Trump: Iran hasn't made a deal with U.S. yet because “they're proud” and “it's a very hard thing for them”]
6. Ukraine đã xây dựng 822 km đường hầm chống máy bay điều khiển từ xa. Mỗi km đường hầm này đồng nghĩa với việc di tản an toàn hơn và việc tiếp tế nhanh hơn.
Kể từ đầu năm 2026, Ukraine đã xây dựng 822 km hệ thống phòng thủ chống máy bay điều khiển từ xa dọc theo các tuyến đường hậu cần tiền tuyến và đã khôi phục hơn 170 km đường bộ thông thường bị hư hại ở các tỉnh tiền tuyến. Riêng trong tháng 5, Cục Vận tải Đặc biệt Nhà nước Ukraine đã xây dựng thêm 211 km hệ thống phòng thủ chống máy bay điều khiển từ xa mới. Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine Mykhailo Fedorov, cho biết như trên hôm Chúa Nhật, 07 Tháng Sáu.
Các máy bay điều khiển từ xa FPV và UAV trinh sát của Nga săn lùng các phương tiện của Ukraine trong phạm vi 15-30 km tính từ tiền tuyến đã buộc Ukraine phải xây dựng cơ sở hạ tầng quốc gia thường trực để bảo vệ việc di chuyển khỏi máy bay điều khiển từ xa ở phía bên mình.
Cơ chế bảo vệ hoạt động như thế nào?
Các biện pháp bảo vệ chống máy bay điều khiển từ xa trên các tuyến đường tiền tuyến của Ukraine thường bao gồm các đường hầm lưới trên cao, mái che bằng lưới thép và các rào chắn gia cố dọc theo các đoạn đường nằm trong tầm với của người điều khiển máy bay điều khiển từ xa FPV của Nga.
Các công trình này chặn các vật thể bay không xác định, gọi tắt là FPV trước khi chúng va chạm với các phương tiện, cho phép xe tải chở hàng, xe cứu thương và xe luân chuyển nhân sự di chuyển dọc theo những đoạn đường nguy hiểm chết người.
Vào tháng 5 năm 2026, Ukraine đã khôi phục 38 km đoạn đường được bảo vệ bị hư hại trước đó và xây dựng lại 115,5 km đường tiền tuyến tiêu chuẩn.
Sự kết hợp giữa việc xây dựng mới, bảo trì và sửa chữa đường sá thường xuyên phản ánh thực tế hoạt động rằng các cuộc tấn công của Nga liên tục làm suy yếu mạng lưới đường sá ngay cả khi Ukraine đang mở rộng nó.
Ông Fedorov cho biết: “Mỗi kilomet được bảo vệ đồng nghĩa với việc hậu cần an toàn hơn, tiếp tế nhanh hơn, di tản thương vong dễ dàng hơn và di chuyển quân sự an toàn hơn ngay cả khi luôn bị đe dọa bởi các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa”.
Trong khi đó, chiến dịch hậu cần tấn công của Ukraine đã buộc Nga phải hạn chế vận tải dân sự trên các tuyến xa lộ chính thuộc lãnh thổ bị tạm chiếm. Theo các báo cáo, Nga đang cấm các dịch vụ xe buýt thường xuyên trên tuyến đường R-280 “Novorossiya” và xa lộ R-150 Belgorod-Mariupol sau các vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Ukraine.
Về phía mình, Ukraine đang xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất, chẳng hạn như lưới, dây thép và rào chắn, để duy trì hoạt động hậu cần của mình trước áp lực từ máy bay điều khiển từ xa mà Nga đang không thể kiểm soát ở phía bên kia chiến tuyến.
Trong khi đó, Nga đã lắp đặt lưới chống máy bay điều khiển từ xa tại các cơ sở của mình, chẳng hạn như kho dầu Velikolukskaya ở Velikiye Luki, tỉnh Pskov.
[Europe Maidan: Ukraine has built 822 kilometers of anti-drone road tunnels. Each kilometer means safer evacuations and faster supply]
7. Phi công người Nga nhìn thấy một người đàn ông ở Kramatorsk, Ukraine và đã chọn cách giết chết anh ta. Máy bay điều khiển từ xa FPV được điều khiển trong thời gian thực.
Tổng Công Tố Ukraine, Ruslan Kravchenko, cho biết một vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa FPV của Nga gần một tòa nhà dân cư ở Kramatorsk vào sáng ngày 6 tháng 6 đã khiến một người đàn ông sinh năm 1976 thiệt mạng. Loại máy bay điều khiển từ xa này hoạt động trong thời gian thực, vì vậy phi công người Nga đã nhìn thấy mục tiêu trước khi phóng vũ khí vào người đó.
Cuộc tấn công này phù hợp với mô hình đã được ghi nhận về việc máy bay điều khiển từ xa FPV của Nga tấn công vào dân thường Ukraine tại các thành phố tiền tuyến, điều mà Ủy ban Điều tra Quốc tế Độc lập của Liên Hiệp Quốc về Ukraine đã chính thức phân loại là tội ác chống lại loài người vào tháng 5 năm 2025 trong báo cáo về tỉnh Kherson, và chính quyền Ukraine tiếp tục ghi nhận ở các khu vực tiền tuyến khác, bao gồm cả tỉnh Donetsk.
Ukraine đã ghi nhận hơn 11.000 vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa FPV của Nga nhằm vào dân thường, bao gồm cả các vụ tấn công “hai lần” nhắm vào cùng một địa điểm sau khi nhân viên y tế và cứu hỏa đến hiện trường vụ tấn công ban đầu.
“Mỗi tội ác như vậy sẽ được ghi nhận, và những kẻ phạm tội sớm muộn gì cũng sẽ phải chịu trách nhiệm về những gì chúng đã làm. Không có lời biện minh nào có thể bào chữa cho việc giết hại thường dân. Đây không phải là cách lực lượng quân đội hành động — đây là cách những kẻ khủng bố hành động, đối với chúng mạng sống con người không có giá trị gì cả,” chính quyền Ukraine tuyên bố.
Vào tháng 5 năm 2025, Ủy ban Điều tra của Liên Hiệp Quốc về Ukraine, được OHCHR hỗ trợ, đã kết luận rằng các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Nga nhằm vào thường dân ở tỉnh Kherson là “lan rộng, có hệ thống và được thực hiện như một phần của chính sách nhà nước phối hợp” và cấu thành tội ác chống nhân loại về tội giết người, cũng như tội ác chiến tranh.
Ủy ban đã ghi nhận các vụ tấn công tấn công của Nga trên hơn 100 km bờ phải sông Dnipro, dựa trên hơn 300 video, 600 bài đăng trên Telegram và 91 cuộc phỏng vấn với các nạn nhân, nhân chứng và quan chức địa phương.
Trong báo cáo tiếp theo gửi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào tháng 10 năm 2025, Ủy ban đã phát hiện ra rằng mô hình tương tự đã lan rộng trên hơn 300 km, bao phủ các tỉnh Dnipropetrovsk, Kherson và Mykolaiv. Các nhà điều hành FPV của Nga đã tấn công một cách có hệ thống vào các thường dân cụ thể dọc theo các tuyến đường đã định sẵn, bao gồm cả tại các trạm xe buýt, lối vào siêu thị, hàng chờ vào quỹ hưu trí và sân nhà dân.
Kramatorsk là mục tiêu tấn công chính của Nga trong suốt cuộc chiến, với nhiều cuộc tấn công liên tiếp, bao gồm cả các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa nhằm vào cơ sở hạ tầng dân sự và lực lượng cấp cứu. Vị trí của thành phố gần đường ranh giới tiếp xúc ở tỉnh Donetsk khiến nó nằm trong tầm hoạt động của máy bay điều khiển từ xa FPV.
[Europe Maidan: Russian pilot saw man in Ukraine’s Kramatorsk and chose to kill him. FPV drones are operated in real time]
8. Tổng thống Stubb của Phần Lan kêu gọi Âu Châu tăng cường vai trò và dẫn dắt các cuộc đàm phán hòa bình với Nga.
Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb cho biết trong một cuộc phỏng vấn với tờ báo Thụy Sĩ Neue Zurcher Zeitung được đăng tải ngày 8 tháng 6 rằng Âu Châu nên chủ động khởi động các cuộc đàm phán với Mạc Tư Khoa để chấm dứt cuộc chiến tranh toàn diện của Nga chống lại Ukraine.
Những phát biểu này được đưa ra trong bối cảnh các cuộc đàm phán hòa bình do Mỹ làm trung gian giữa Kyiv và Mạc Tư Khoa vẫn bị đóng băng kể từ tháng Hai, trong khi sự chú ý của Washington đã chuyển sang cuộc chiến với Iran.
Tổng thống Stubb cho rằng Âu Châu nên phối hợp chặt chẽ với Hoa Kỳ trong các cuộc đàm phán, nhưng cũng cần đánh giá xem chính sách của Washington đối với Nga và Ukraine có phù hợp với lợi ích của Âu Châu hay không.
“Tôi tin rằng chúng ta nên nói chuyện với Putin,” Stubb nói.
Tổng thống Phần Lan cũng đã vạch ra một phương án ba bước để khởi động lại hoạt động ngoại giao.
Tổng thống Stubb cho rằng sáng kiến này trước hết nên xuất phát từ Liên minh Âu Châu. Nếu không thành công, trách nhiệm nên chuyển sang nhóm E3 — Pháp, Đức và Vương quốc Anh. Nếu cả hai phương án đều không hiệu quả, cần phải tìm kiếm các cơ chế thay thế khác.
Đề xuất này được đưa ra trong bối cảnh Tổng thống Volodymyr Zelenskiy dự kiến sẽ gặp gỡ Emmanuel Macron và các nhà lãnh đạo Âu Châu khác tại Luân Đôn vào ngày 7 tháng 6 để thảo luận về các khuôn khổ khả thi cho các cuộc đàm phán.
Tổng thống Zelenskiy luôn khẳng định rằng Âu Châu phải có tiếng nói trong bàn đàm phán. Ngày 4 tháng 6, ông đã công bố một bức thư ngỏ gửi Putin, đề xuất Ukraine và Nga tiếp tục đàm phán song phương trực tiếp và gợi ý một cuộc gặp giữa các nhà lãnh đạo để thúc đẩy các cuộc đàm phán.
Điện Cẩm Linh gần đây đã thể hiện sự cởi mở đối với vai trò của Âu Châu trong ngoại giao nhưng đề xuất Gerhard Schroder làm người trung gian tiềm năng. Các quan chức Kyiv và Âu Châu đã bác bỏ ý tưởng này vào tháng 5, viện dẫn mối quan hệ lâu dài của Schroder với Putin và Nga.
Sau đó, tại Diễn đàn Kinh tế Quốc tế St. Petersburg vào ngày 5 tháng 6, Putin đã trả lời thư của Tổng thống Zelenskiy, nói rằng ông “không thấy lý do gì để gặp Tổng thống Zelenskiy”.
Những bất đồng lớn tiếp tục cản trở tiến trình đàm phán.
Ukraine khẳng định việc đóng băng chiến tuyến hiện tại là cơ sở thực tế nhất cho một thỏa thuận ngừng bắn, trong khi Mạc Tư Khoa tiếp tục yêu cầu lực lượng Ukraine rút khỏi một số khu vực ở Donbas của Ukraine như một điều kiện tiên quyết cho bất kỳ thỏa thuận nào, một đề xuất mà Kyiv đã nhiều lần bác bỏ.
[Kyiv Independent: Finland's Stubb urges Europe to step up and lead peace talks with Russia]
9. Tòa án Thụy Điển ra phán quyết cho phép giao tàu bị tịch thu có liên quan đến vụ trộm ngũ cốc của Ukraine cho Kyiv.
Theo hãng tin Reuters đưa tin ngày 6 tháng 6, một tòa án Thụy Điển đã phán quyết rằng tàu chở hàng Caffa, bị bắt giữ sau khi bị cáo buộc vận chuyển ngũ cốc bị đánh cắp từ các vùng lãnh thổ Ukraine bị Nga tạm chiếm, có thể được bàn giao cho Ukraine.
Công tố viên Hakan Larsson cho biết trong một tuyên bố rằng tòa án đã phán quyết việc bắt giữ tàu ở Biển Baltic là hợp pháp và tàu có thể được chuyển giao cho chính quyền Ukraine.
Larsson nói thêm rằng phán quyết phải có hiệu lực cuối cùng trước khi bất kỳ việc chuyển nhượng nào có thể diễn ra, và chủ sở hữu tàu có ba tuần để kháng cáo.
Diễn biến này diễn ra sau thông báo ngày 4 tháng 6 của Tổng công tố Ukraine Ruslan Kravchenko, người cho biết một tòa án Thụy Điển đã ra lệnh tịch thu con tàu theo yêu cầu của Kyiv.
Cảnh sát Thụy Điển và lực lượng bảo vệ bờ biển đã bắt giữ tàu Caffa vào tháng 3 ngoài khơi bờ biển phía nam Thụy Điển, cho biết tàu này hoạt động dưới cờ Guinea giả và vi phạm các quy định an toàn hàng hải vì bị coi là “không đủ điều kiện đi biển”.
Theo các quan chức Ukraine, con tàu này đã nhiều lần ra vào các vùng lãnh thổ bị Nga tạm chiếm của Ukraine, đồng thời che giấu hoạt động của mình thông qua các giấy tờ ghi danh giả mạo.
Vladyslav Vlasiuk, ủy viên phụ trách chính sách trừng phạt của Tổng thống Volodymyr Zelenskiy, cho biết tàu Caffa trước đây từng tham gia vận chuyển ngũ cốc bị đánh cắp từ các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm của Ukraine, bao gồm một lô hàng khởi hành từ cảng Sevastopol thuộc Crimea bị tạm chiếm vào tháng 7 năm 2025 và sau đó được dỡ xuống ở Syria.
Ukraine đã cáo buộc Nga xuất khẩu ngũ cốc một cách có hệ thống từ các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm, với Ngoại trưởng Andrii Sybiha cho biết hơn 850.000 tấn ngũ cốc đã được vận chuyển từ các khu vực bị tạm chiếm của Ukraine từ Tháng Giêng đến tháng 4 năm 2026.
[Kyiv Independent: Swedish court rules seized ship linked to stolen Ukrainian grain may be handed over to Kyiv]
10. Máy bay điều khiển từ xa của Ukraine được trang bị đầu đạn lớn hơn. Một tàu hộ tống của Nga ở biển Baltic vừa mới phát hiện ra điều đó.
Ngày 6 tháng 6 và trước đó là ngày 3 Tháng Sáu, các máy bay điều khiển từ xa tấn công của Lực lượng Hệ thống Điều khiển từ xa Ukraine đã bay hơn 1.100 km để tấn công các tàu hộ tống hỏa tiễn của hải quân Nga đang neo đậu tại Kronstadt, trên Biển Baltic ngoài khơi St. Petersburg. Đây là đòn tấn công đầu tiên nhằm vào Hạm đội Baltic của Nga trong cuộc chiến tranh quy mô lớn.
Máy bay điều khiển từ xa Fire Point FP-1 đã tấn công tàu hộ tống Boikiy. Hình ảnh vệ tinh từ trên không đã xác nhận vụ tấn công, và một video từ bến tàu gần đó cho thấy mức độ thiệt hại nghiêm trọng. Chiếc tàu hộ tống dài 105 mét, một trong những chiến hạm chủ lực của Hạm đội Baltic, đã “bốc cháy trong nhiều giờ”, phóng viên Mark Krutov của Đài Phát thanh Tự do Âu Châu ghi nhận.
Thiết kế của FP-1 giải thích cho mức độ hư hại nặng nề. “Có vẻ như chiếc máy bay điều khiển từ xa đó đang mang theo một tải trọng khá lớn,” Krutov suy đoán.
Đúng vậy. Nhà sản xuất máy bay điều khiển từ xa Fire Point của Ukraine đã và đang tinh chỉnh mẫu FP-1 chạy bằng động cơ cánh quạt để tăng hỏa lực nổ, cuối cùng giải quyết được vấn đề tồn tại lâu nay với các máy bay điều khiển từ xa tấn công tầm xa của Ukraine. Fire Point tuyên bố họ sản xuất 300 chiếc FP-1 trị giá 50.000 đô la và các mẫu FP-2 tương tự mỗi ngày.
Phiên bản đầu tiên của FP-1 có thể bay xa 1.000 km nhưng, giống như nhiều máy bay điều khiển từ xa của Ukraine, nó mang theo đầu đạn khá nhỏ, chỉ nặng 60 kg. Các phiên bản FP-2 đời đầu đã hy sinh nhiên liệu để tăng trọng lượng thuốc nổ và do đó tấn công với đầu đạn nặng 105 kg, mặc dù tầm bắn ngắn hơn nhiều.
Sức mạnh hỏa lực đó không đủ để phá hủy những mục tiêu khó khăn nhất. Nhóm phân tích Frontelligence Insight của Ukraine đổ lỗi cho “kích thước đầu đạn tương đối nhỏ của một số máy bay điều khiển từ xa Ukraine” là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại hạn chế mà các cuộc tấn công của Ukraine gây ra cho các nhà máy lọc dầu của Nga vào năm 2024.
Đó là một vấn đề nghiêm trọng nhưng dễ hiểu. Các nhà phát triển máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đang tập trung vào việc tăng tầm bay của chúng để gây ra một số thiệt hại, dù là khiêm tốn, cho các mục tiêu xa nhất của Nga. “Với quãng đường dài mà những máy bay điều khiển từ xa này phải di chuyển, việc tăng kích thước đầu đạn sẽ đòi hỏi phải điều chỉnh trọng lượng, dung tích nhiên liệu và thiết kế tổng thể”, Frontelligence Insight giải thích.
Theo thời gian, các nhà phát triển đã tìm ra cách tăng hỏa lực mà không làm giảm tầm bắn. Vào tháng 3, người đồng sáng lập Fire Point, Denys Shtilerman, đã nói với Army TV rằng công ty đã thiết kế lại FP-1 và FP-2, bổ sung thêm các thùng nhiên liệu bên trong cánh để tạo không gian cho các đầu đạn lớn hơn.
Giờ đây, FP-1 có thể tấn công với đầu đạn nặng 105 kg. Phiên bản tầm ngắn FP-2 hiện mang đầu đạn ấn tượng lên tới 158 kg. Chưa rõ biến thể nào đã bắn trúng Boikiy, nhưng trọng tải lớn hơn phù hợp với mức độ thiệt hại gây ra.
FP-1 và FP-2 mang đầu đạn nổ mảnh kiểu OFB-60, với thuốc nổ chính TNT được tăng cường bởi chất nổ OKFOL mạnh hơn. Sự kết hợp này tạo ra hiệu ứng nổ và mảnh vỡ mạnh khi va chạm — được thiết kế để gây cháy và làm hư hại các hệ thống bên trong hơn là xuyên thủng giáp một cách gọn gàng.
Loại đầu đạn này rất phù hợp cho các cuộc tấn công chống tàu. Các tàu chiến hiện đại thường không được bọc thép dày ở phần trên mực nước, và đầu đạn nổ mảnh có thể gây cháy các đường dây cáp, kênh thông gió và khoảng trống giữa các boong, gây ra thiệt hại tương đương với thiệt hại do đám cháy gây ra so với vụ nổ ban đầu.
Tờ Defense Express của Ukraine, sau khi phân tích vụ tấn công, cho rằng đám cháy sau đó có thể gây thiệt hại cho tàu hộ tống nhiều hơn chính đầu đạn. Đám cháy trên biển lan rộng qua các đường dây cáp, ống thông gió và khoảng trống giữa các boong tàu — lan đến các thiết bị nằm ngoài điểm va chạm. Và trong ụ tàu khô, với các cửa kín nước được mở để bảo trì và hệ thống chữa cháy tự động ngừng hoạt động, đám cháy sẽ lan rộng hơn so với khi ở trên biển.
Chưa rõ liệu chiếc máy bay điều khiển từ xa tấn công tàu Boikiy có gây ra thiệt hại tối đa hay không. Nhưng nó đã gây ra đủ thiệt hại để khiến con tàu không thể hoạt động được nữa, có thể là vĩnh viễn — và chứng minh rằng cảng nhà của Hạm đội Baltic không còn nằm ngoài tầm với.
[Europe Maidan: Ukraine’s drones got bigger warheads. A Russian corvette in the Baltic just found out.]
11. Iran và Mỹ trao đổi các cuộc tấn công, đe dọa thỏa thuận ngừng bắn mong manh.
Mỹ cho biết lực lượng của họ đã đánh chặn một số hỏa tiễn đạn đạo của Iran nhắm vào Kuwait và Bahrain, được phóng đi sau khi quân đội Mỹ bắn hạ máy bay điều khiển từ xa và tấn công vào các địa điểm radar của Iran, trong một diễn biến leo thang khác đe dọa thỏa thuận ngừng bắn mong manh trong khu vực.
Hôm thứ Bảy, lực lượng Mỹ cho biết họ đã đánh chặn sáu hoặc bảy hỏa tiễn do Tehran bắn vào các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư. Trước đó, Iran đã điều máy bay điều khiển từ xa về phía eo biển Hormuz, điều này gây ra “mối đe dọa tức thời” đối với giao thông hàng hải tại tuyến đường vận chuyển quan trọng này. Theo đánh giá ban đầu từ Bộ Tư lệnh Trung ương Mỹ, hỏa tiễn thứ bảy của Iran đã không trúng mục tiêu.
Một thỏa thuận ngừng bắn đã được thiết lập từ tháng Tư, nhưng các cuộc đàm phán giữa Washington và Tehran về việc mở lại eo biển Hormuz, tuyến đường quan trọng cho việc vận chuyển dầu khí toàn cầu, đang gặp bế tắc.
Vụ đấu súng diễn ra vài ngày sau các cuộc tấn công mới giữa Mỹ và Iran. Theo BBC, một người thiệt mạng và hàng chục người bị thương trong một cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Iran vào phi trường quốc tế Kuwait hồi đầu tuần này, và Mỹ đã đáp trả bằng những cuộc tấn công mà họ gọi là “tự vệ” nhằm vào Iran.
Iran đã nhiều lần tấn công vào Kuwait và Bahrain, nơi có các căn cứ của Mỹ.
Do các cuộc đàm phán giữa Iran và Mỹ bị đình trệ, hoạt động hàng hải tại eo biển Hormuz vẫn bị hạn chế nghiêm trọng, dẫn đến giá dầu tăng vọt kéo dài.
Nhưng ngay cả khi căng thẳng giữa hai nước vẫn tiếp diễn, Washington đã cấp thị thực cho đội tuyển túc cầu Iran tham dự World Cup, trước trận đấu đầu tiên tại Los Angeles trong tháng này.
Một dấu hiệu khác cho thấy sự bất ổn khu vực tiếp diễn là việc Israel tiến hành các cuộc tấn công ở miền nam Li Băng sau khi nhóm vũ trang Hezbollah bác bỏ thỏa thuận ngừng bắn giữa Israel và Li Băng.
[Politico: Iran and US exchange strikes, threatening fragile ceasefire]
12. Nhóm Atesh tuyên bố các chiến binh ủng hộ Ukraine đã phá hoại cơ sở hạ tầng hỏa xa tại thành phố Voronezh của Nga.
Nhóm Atesh tuyên bố rằng các chiến binh ủng hộ Ukraine đã phá hoại cơ sở hạ tầng hỏa xa tại thành phố Voronezh của Nga vào sáng sớm ngày 7 tháng 6.
“Các thành viên của phong trào chúng tôi đã thực hiện một vụ phá hoại tại một nhà ga xe lửa ở Voronezh. Hậu quả của vụ việc là một cần cẩu hỏa xa hạng nặng dòng EDK-300/5 đã bị phá hủy — một thiết bị cực kỳ hiếm đã ngừng sản xuất”, nhóm này cho biết như trên.
chiến dịch này đã “làm phức tạp” việc khôi phục cơ sở hạ tầng bị hư hại, với việc công ty hỏa xa Nga chỉ còn lại “một vài” cần cẩu giống hệt nhau.
“Việc thay thế cần cẩu bị phá hủy sẽ đòi hỏi thời gian và nguồn lực đáng kể. Trong khi quân đội của (Tổng thống Nga Vladimir) Putin đang tìm kiếm một chiếc thay thế, thì nút giao hỏa xa và hệ thống hậu cần trong khu vực đang hoạt động với nguồn dự trữ hạn chế để phục hồi”, nhóm này cho biết.
Voronezh nằm cách biên giới Ukraine với Nga khoảng 170 km về phía đông bắc.
Cũng trong đêm đó, máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã tấn công cơ sở hạ tầng năng lượng và hỏa xa ở các tỉnh Luhansk và Donetsk bị tạm chiếm, theo kênh tin tức độc lập Exilenova Plus trên Telegram đưa tin.
Ngày 25 tháng 5, nhóm Atesh tuyên bố rằng các thành viên của họ đã “vô hiệu hóa” hệ thống phòng không của Nga vào đêm xảy ra vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Ukraine vào ngày 23 tháng 5 nhằm vào một kho dầu lớn ở Novorossiysk.
“Các đặc vụ của phong trào chúng tôi đã thực hiện một loạt các cuộc tấn công phá hoại vào các cơ sở thông tin liên lạc và năng lượng ở khu vực Novorossiysk vào đêm trước cuộc tấn công của Quân đội Ukraine vào kho dầu 'Grushovaya'“, một tuyên bố được đăng tải trên Telegram cho biết.
Nhóm du kích Atesh thường xuyên tuyên bố các hoạt động phá hoại nhằm vào cơ sở hạ tầng của Nga, bao gồm cả hậu cần quân sự.
[Kyiv Independent: Pro-Ukrainian partisans sabotage railway infrastructure in Russian city of Voronezh, Atesh group claims]
13. Israel tấn công vào Hezbollah bằng một cuộc không kích vào Beirut bất chấp lệnh ngừng bắn.
Israel đã phát động các cuộc tấn công vào vùng ngoại ô phía nam Beirut hôm Chúa Nhật, mà chính phủ mô tả là hành động trả đũa cho các cuộc tấn công của Hezbollah nhằm vào Israel trước đó cùng ngày.
Trong một tuyên bố được truyền thông Trung Đông đưa tin rộng rãi, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và Bộ trưởng Quốc phòng Israel Katz cho biết các cuộc tấn công nhắm vào những nơi mà họ gọi là “trung tâm chỉ huy khủng bố” ở Beirut.
Theo truyền thông Li Băng, ít nhất hai người đã thiệt mạng và 11 người bị thương trong vụ tấn công.
Trước đó vào Chúa Nhật, Israel cho biết họ đã đánh chặn hai vật thể bay được phóng từ Li Băng về phía bắc Israel. Lực lượng Phòng vệ Israel, gọi tắt là IDF cũng cảnh báo cư dân thành phố Tyre ở miền nam Li Băng phải di tản trước nguy cơ bị tấn công.
Các cuộc đụng độ giữa Israel và Hezbollah tiếp tục diễn ra vào cuối tuần bất chấp thỏa thuận ngừng bắn do Mỹ hậu thuẫn giữa Israel và Li Băng, mà Hezbollah đã bác bỏ vào thứ Năm tuần trước. Nhóm phiến quân được Iran hậu thuẫn này đang tiến hành các cuộc tấn công từ lãnh thổ Li Băng.
Theo Trung tâm Điều hành Khẩn cấp thuộc Bộ Y tế Li Băng, kể từ ngày 2 tháng 3, đã có 3.613 người thiệt mạng và 11.072 người bị thương ở Li Băng do xung đột.
[CBSNews: Israel targets Hezbollah with strike on Beirut despite ceasefire]
14. Ukraine xin lỗi Hy Lạp về vụ việc thuyền điều khiển từ xa, cho rằng điều đó cho thấy mối đe dọa chiến tranh của Nga đối với Âu Châu.
Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Ukraine, Heorhii Tykhyi, cho biết Ukraine đã xin lỗi Hy Lạp về một sự việc liên quan đến thuyền điều khiển từ xa được phát hiện trong vùng biển của nước này hồi tháng trước.
Tuyên bố này được đưa ra sau khi Hy Lạp chính thức phản đối ngoại giao với Ukraine vào ngày 3 tháng 6 về vụ việc. Chiếc tàu, mà Hy Lạp cho là của Ukraine, được ngư dân phát hiện ngoài khơi Lefkada vào ngày 7 tháng 5, gây ra căng thẳng ngoại giao giữa Athens và Kyiv.
Ông Tykhyi nói: “Đây là hậu quả của những tình huống phát sinh từ sự xâm lược liên tục của Nga đối với Ukraine”, đồng thời nhấn mạnh rằng Kyiv vẫn cam kết tuân thủ luật pháp quốc tế và an ninh hàng hải, và tìm cách ngăn chặn những sự việc tương tự trong tương lai.
Trong đơn phản đối, Hy Lạp lập luận rằng sự hiện diện của con tàu gây ra mối đe dọa cho giao thông hàng hải và có thể dẫn đến thương vong dân sự hoặc thiệt hại môi trường.
Theo phát ngôn nhân của Ukraine, Ukraine và Hy Lạp cùng chia sẻ mối quan ngại về các mối đe dọa đối với an ninh quốc tế và khu vực, bao gồm an ninh hàng hải, cũng như các hoạt động của hạm đội ngầm của Nga.
Ông Tykhyi cảm ơn người dân Hy Lạp vì sự “ủng hộ kiên định” dành cho Ukraine, đồng thời khẳng định Kyiv rất coi trọng mối quan hệ hữu nghị với Athens.
Ông Tykhyi cho biết: “Phía Ukraine tin chắc rằng vụ việc này, cũng như những sự việc tương tự ở các khu vực khác, cho thấy sự xâm lược liên tục của Nga đối với Ukraine không chỉ đe dọa đất nước chúng tôi mà còn cả các quốc gia láng giềng thân thiện, Âu Châu và toàn thế giới”.
[Kyiv Independent: Ukraine apologizes to Greece over naval drone incident, says it shows Russia's war threat to Europe]
1. Đức Giáo Hoàng Lêô: Sinh viên nên được gặp gỡ Chúa Kitô và học giáo lý đúng đắn tại các trường đại học Công Giáo
Sáng Thứ Tư, 03 Tháng Sáu, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã nói với các hiệu trưởng và giám mục các trường đại học Công Giáo rằng các cơ sở giáo dục của họ nên là nơi mà sinh viên được gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô và học giáo lý đúng đắn.
Trong bài phát biểu trước phái đoàn từ Hiệp hội các trường Cao đẳng và Đại học Công Giáo tại Hoa Kỳ, Đức Giáo Hoàng Lêô nói rằng: “Khi các thanh niên và thiếu nữ đến các trường Cao đẳng và Đại học của quý vị để theo học một chuyên ngành cụ thể, thường được thúc đẩy bởi triển vọng nghề nghiệp trong tương lai, thì nhiệm vụ cao cả của quý vị là hướng dẫn khát vọng tri thức đó để họ cũng có thể ‘học cách tìm kiếm và yêu mến chân lý, suy ngẫm về ý nghĩa cuộc sống và nhận ra phẩm giá của mỗi người.’” (Magnifica Humanitas, 143)
“Trừ khi nền giáo dục Công Giáo gieo vào lòng sinh viên một niềm đam mê thực sự đối với chân lý—và không chỉ là chân lý trí tuệ, mà là Chân lý chính là Chúa Kitô (xem Ga 14:6)—chúng ta khó có thể mong đợi mọi người sẵn sàng nỗ lực để nhận ra chân lý và điều chỉnh cuộc sống của mình cho phù hợp,” Đức Giáo Hoàng nói thêm. “Sự chân thành của quý vị với tư cách là những môn đệ đích thực của Chúa Kitô chắc chắn sẽ giúp quý vị truyền bá Tin Mừng sống động theo cách mà những người được giao phó cho quý vị có thể thực sự gặp gỡ Chúa và khám phá trong đức tin Công Giáo tầm nhìn thống nhất mà chỉ có Chân lý mới có thể mang lại.”
Sau khi suy ngẫm về những thách thức do công nghệ mới đặt ra, Đức Giáo Hoàng Lêô kết luận bằng lời kêu gọi về giáo lý đúng đắn:
Kính thưa anh chị em, khi anh chị em tiếp tục thực hiện sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội, tôi hy vọng rằng các học sinh sẽ luôn tìm thấy trong các cơ sở giáo dục của mình giáo lý đúng đắn (xem 2 Tim 4:3) được giao phó cho Giáo hội, làm nền tảng vững chắc và lâu dài không chỉ cho cuộc sống của các em mà còn cho tương lai của quốc gia. Cảm ơn anh chị em đã hiện diện ở đây và tận tâm với nền giáo dục Công Giáo, tôi trân trọng ban phép lành Tông tòa, và tôi sẵn lòng mở rộng phép lành này đến mọi người, các cộng đồng và các cơ sở giáo dục mà anh chị em đại diện.
Source:Catholic World News
2. Nhật ký trừ tà #398: 15 dấu hiệu cho thấy một ngôi nhà có ma quỷ
Đức Ông Stephen Rossetti, Nhà Trừ Tà của giáo phận Syracuse, phó giáo sư nghiên cứu tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ vừa có bài viết nhan đề “Exorcist Diary #398: 15 Signs A House has Demons”, nghĩa là “Nhật ký trừ tà #398: 15 dấu hiệu cho thấy một ngôi nhà có ma quỷ”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.
Một số người sẽ cho rằng nhà của họ bị ma quỷ ám. Điều đó có thể đúng. Điều này đặc biệt đúng nếu một tội ác tày trời nào đó đã xảy ra trong nhà, giống như khi ma quỷ chiếm hữu một người đã phạm tội trọng. Nhà cửa có thể bị ma quỷ xâm chiếm sau những sự việc như các nghi lễ huyền bí, nghi lễ triệu hồi ma quỷ, thờ phượng quỷ Satan và phù thủy, phá thai, lạm dụng trẻ em, giết người và diệt chủng, nhà chứa ma túy, buôn người và nghĩa địa ngoại giáo, đó là chỉ kể một vài ví dụ.
Điều quan trọng là không nên nhìn thấy ma quỷ “ở khắp mọi nơi”. Những điều kỳ lạ và tiếng động lạ có thể xảy ra trong nhà, đặc biệt là những ngôi nhà cũ. Tuy nhiên, có một số dấu hiệu phổ biến cho thấy sự hiện diện của ma quỷ:
*Mùi kinh khủng như mùi xác động vật đang phân hủy
*Nhiệt độ giảm mạnh ở một số khu vực trong nhà; hay hầu hết các khu vực trong nhà đều lạnh lẽo
Nhiệt độ dễ chịu, nhưng một số khu vực riêng lẻ lại lạnh lẽo.
*Cửa và cửa sổ tự động đóng mở một cách khó hiểu
*Thiết bị điện tử bị trục trặc
*Tiếng chó tru lên trong sợ hãi
*Các đối tượng tự di chuyển hoặc biến mất không rõ nguyên nhân
*Tiếng đập thình thịch không rõ nguồn gốc
*Những quả cầu ánh sáng băng qua căn phòng
*Những bóng hình tối tăm hoặc thậm chí là có “bóng người” xuất hiện
*Mọi người bị xô đẩy một cách không rõ lý do, kể cả trên cầu thang.
*Tiếng huýt sáo hoặc những giọng nói khó nghe gọi người khác
*Cảm giác sợ hãi tột độ và/hoặc buồn nôn khi bước vào
*Có thể truyền đạt những thông điệp như “Dừng lại” (nếu đang cầu nguyện) hoặc “Hãy rời đi” được viết nguệch ngoạc trên gương hoặc được nghe bằng lời nói
*Cảm giác như thể cơ thể mình đang bị chạm vào, thậm chí bị trầy xước hoặc bầm tím.
*Cảm giác như có ma quỷ đè nặng lên ngực và làm tê liệt người đó.
Đây chỉ là một vài ví dụ. Một lần nữa, điều quan trọng là không nên phản ứng thái quá. Một số triệu chứng này có thể do nguyên nhân tự nhiên. Nhưng nếu có một nhóm các triệu chứng này cùng với lịch sử xấu của ngôi nhà, thì tình hình cần được điều tra thêm.
Các linh mục cần được đào tạo để chẩn đoán và nhận biết các dấu hiệu của sự hiện diện ma quỷ thực sự. Trong một trường hợp, một ngôi nhà bị nhiễm đầy các triệu chứng ma quỷ và vị linh mục đã đáp lại lời cầu xin đầy sợ hãi của gia đình bằng cách hỏi xem họ có chuột không. Đó không phải là một phản ứng mục vụ. Không ai có quyền năng hơn một linh mục Công Giáo trong việc giải thoát một không gian bị nhiễm ma quỷ và chúng ta nên chuẩn bị để làm điều đó. Một dấu hiệu chắc chắn cho thấy ngôi nhà đó thực sự bị nhiễm ma quỷ là khi vị linh mục trừ tà cho ngôi nhà và tất cả các triệu chứng đột ngột và vĩnh viễn biến mất.
Nhưng nếu trong nhà có người bị quỷ ám nặng, các triệu chứng tương tự cũng có thể xảy ra. Trong trường hợp này, người đó mang quỷ vào nhà. Thử thách trong việc phân định là: vấn đề nằm ở ngôi nhà hay ở người đó? Chúng ta sẽ đặt ra những câu hỏi như: những vấn đề tương tự có xảy ra ở những nơi khác mà người đó đến không? Vấn đề bắt đầu khi người đó đến nhà hay chủ nhà trước đó cũng gặp phải vấn đề tương tự? Đôi khi thực tế là cả hai: người đó bị quỷ ám và ngôi nhà có quỷ.
Tin vui là kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy rằng trong hầu hết các trường hợp, nhà cửa có thể được giải thoát khỏi sự xâm nhập của ma quỷ khá nhanh chóng. Lý tưởng nhất là nhờ một linh mục trừ tà cho ngôi nhà bằng nghi thức của Giáo hội để giải phóng không gian. Việc ban phước cho ngôi nhà là tốt, nhưng tôi thấy việc ban phước và trừ tà cho không gian đó thì tốt hơn. Tôi thường không thấy cần thiết phải cử hành Thánh lễ trong nhà. Và tất nhiên, mọi hành vi xấu xa trong nhà phải chấm dứt, cộng với việc xưng tội và tha tội cho bất kỳ tội lỗi liên quan nào là rất quan trọng, nếu điều này có thể thực hiện được. Điều này không thể thực hiện được khi những chủ sở hữu trước đây, những người đã mời ma quỷ vào nhà, đã qua đời.
Trên ứng dụng/trang web của chúng tôi, trong mục “Lời cầu nguyện giải thoát cho giáo dân”, hãy xem “Lời cầu nguyện giải thoát cho gia đình”. Nghi thức này được các anh em trừ tà ở Phi Luật Tân cung cấp để sử dụng khi không có linh mục. Họ khuyên chủ nhà hay người lãnh đạo gia đình nên đọc lời cầu nguyện này, cùng với các thành viên khác trong gia đình. Nghi thức này sử dụng các vật thánh thường dùng như: nước thánh, dầu thánh, muối, nến, thánh giá và nhiều thứ khác. Như mọi khi, hiếm khi chỉ cần “một lần là đủ”. Thường cần nhiều lần cầu nguyện với sự kiên trì và tin tưởng vào Chúa.
Cuối cùng, không gian từng bị quỷ ám nay đã thuộc về “Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế của chúng ta!” Nó không thuộc về Ác Quỷ. Nó thuộc về Chúa Giêsu và chúng ta cầu xin các thiên thần thánh của Ngài đến canh giữ nhà cửa và gia đình chúng ta.
Source:Catholic Exorcism
3. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và nước Mỹ
Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề “John Paul II and America”, nghĩa là “Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và nước Mỹ”. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Khi được bầu làm giám mục Roma vào ngày 16 tháng 10 năm 1978, Đức Hồng Y Karol Wojtyła có kinh nghiệm khá hạn chế về Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ. Ngài đã gặp gỡ các giáo sĩ người Mỹ tại Công đồng Vatican II, và một vài người trong số họ đã đến thăm Ba Lan trong những năm tiếp theo. Hồng Y người Krakow đã có hai chuyến thăm Hoa Kỳ, một chuyến vào dịp kỷ niệm 200 năm thành lập quốc gia năm 1976, nhưng phần lớn thời gian trong các chuyến đi này ngài dành cho cộng đồng người Mỹ gốc Ba Lan. Vì vậy, có lẽ có thể nói rằng Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bắt đầu triều đại của mình với ấn tượng về Công Giáo Mỹ không khác biệt lắm so với các trí thức Âu Châu khác: đó là Giáo hội Hoa Kỳ có một mạng lưới các thể chế đáng ghen tị—từ các giáo xứ đến các cơ sở chăm sóc sức khỏe và dịch vụ xã hội, trường học, cao đẳng và đại học—nhưng Giáo hội giàu có hơn là có văn hóa và sống quá thoải mái trong khuôn khổ hiện trạng của Mỹ.Tóm lại, mặc dù vị giáo hoàng mới không thù địch với Giáo hội tại Hoa Kỳ, nhưng vào năm 1978, ngài cũng không coi đó là một hình mẫu khả thi cho tương lai của Giáo Hội Công Giáo. Điều đó đã thay đổi đáng kể trong vòng một phần tư thế kỷ tiếp theo, một phần là do sự đổi mới mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã giúp khơi dậy trong Giáo Hội Công Giáo Mỹ và một phần là do sự hiểu biết ngày càng sâu sắc của ngài rằng Hoa Kỳ, dù có nguồn gốc sâu xa từ Âu Châu, không chỉ đơn thuần là Âu Châu được du nhập vào.
Sự thay đổi trong nhận thức của cả Đức Giáo Hoàng và Giáo hội Hoa Kỳ bắt đầu với chuyến hành hương đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đến Mỹ vào tháng 10 năm 1979. Phản ứng phi thường mà ngài nhận được ở Boston, New York, Philadelphia, Des Moines, Chicago và Washington cho thấy rằng Giáo hội, đặc biệt là trong giới trẻ, có sức sống mạnh mẽ hơn nhiều so với những gì Đức Giáo Hoàng từng nghĩ: sức sống đó có thể thúc đẩy điều mà sau này Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi là “Tân Phúc Âm Hóa”. Đồng thời, sự nhiệt tình mà Đức Giáo Hoàng khơi dậy cũng nhắc nhở những người Công Giáo Mỹ tỉnh táo hơn rằng đã đến lúc phải thoát khỏi thế phòng thủ, từ bỏ những cuộc chiến tranh phe phái hậu Công đồng Vatican II và tiếp tục thực hiện lời kêu gọi của Công đồng là thánh hóa thế giới.
Trong hai thập niên tiếp theo, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tiếp tục truyền cảm hứng cho sự đổi mới của Công Giáo đầy sức sống Tin Mừng ở Hoa Kỳ. Đồng thời, ngài nhận ra rằng giáo huấn xã hội của mình đang được thảo luận nghiêm chỉnh hơn nhiều ở Hoa Kỳ so với bất kỳ nơi nào khác, và việc bảo vệ sự sống mà ngài tuyên bố trong thông điệp Evangelium Vitae năm 1995 đã nhận được sự thể hiện công khai rộng rãi hơn ở Hoa Kỳ so với tổng số phần còn lại của các quốc gia được gọi là “phát triển”. Điều đó, đến lượt nó, gợi ý cho Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II rằng nền tảng của nước Mỹ được bắt nguồn từ các nguyên tắc của luật luân lý tự nhiên phù hợp với ý tưởng Kinh Thánh về phẩm giá bất khả xâm phạm và giá trị vô hạn của mỗi mạng sống con người.
Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản Âu Châu từ năm 1989 đến 1991, hai câu hỏi được đặt ra: Phải chăng dân chủ và nền kinh tế tự do chỉ đơn thuần là những cơ chế chính trị và kinh tế có thể hoạt động tốt trên hầu hết mọi nền tảng văn hóa? Các nền dân chủ mới của Âu Châu hậu cộng sản có thể tìm kiếm mô hình sống tự do một cách cao quý ở đâu? Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã trả lời câu hỏi đầu tiên trong thông điệp Centesimus Annus năm 1991: Cần một số lượng lớn người sống theo những thói quen nhất định của tâm hồn và trí óc - những đức tính nhất định - để chính trị tự do và kinh tế tự do hỗ trợ sự phát triển toàn diện của cá nhân và tình đoàn kết xã hội. Và qua nhiều giờ trò chuyện với ngài, tôi có thể nói rằng Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II hy vọng rằng Ba Lan và các quốc gia mới giành độc lập khác ở Trung và Đông Âu sẽ học hỏi được một số bài học từ kinh nghiệm của Mỹ trong việc xây dựng xã hội hậu cộng sản của họ.
Tại sao? Bởi vì Đức Giáo Hoàng nhìn thấy ở Hoa Kỳ một nền dân chủ phát triển, nơi niềm tin tôn giáo tiếp tục định hình cuộc sống của đa số công dân và nơi lập luận đạo đức dựa trên tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống công cộng. Hoa Kỳ không phải là Pháp, nơi chủ nghĩa thế tục được hiến pháp ghi nhận; cũng không phải là nước Anh hay Đức, nơi tôn giáo Kinh thánh từ lâu đã không còn định hình văn hóa quốc gia và các vấn đề công cộng. Tại Hoa Kỳ, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II hy vọng, tầm nhìn về một xã hội tự do và đức hạnh mà ngài đã phác thảo trong thông điệp Centesimus Annus—một xã hội trong đó Giáo hội giúp định hình một nền văn hóa đạo đức công cộng sôi động, hướng dẫn những năng lượng to lớn được giải phóng bởi tự do chính trị và kinh tế—có thể được hiện thực hóa, và các quốc gia khác có thể thấy trong sự hiện thực hóa đó rằng tự do và đức hạnh đi cùng nhau như thế nào.
Khi nước Mỹ sắp kỷ niệm 250 năm thành lập, chúng ta nên nhớ rằng nhân vật biểu tượng của nửa sau thế kỷ XX đã đặt rất nhiều kỳ vọng vào chúng ta: những kỳ vọng mà giờ đây dường như là lời kêu gọi một cuộc tự vấn lương tâm quốc gia.
Source:First Things